Truyện ngắn

Thằng Tuấn

Sau chiến tranh, nạn nhân đau khổ nhất luôn là phụ nữ và trẻ em vô tội. Ba nó chả biết là sỹ quan hay lính trong quân đội Mỹ mà chạy tuốt về bên kia nửa quả địa cầu mất dạng. Má nó là ai cũng chẳng biết, kết quả là nó bị bỏ rơi…

Trong cái cảnh tranh tối tranh sáng buổi giao thời, nó – một thằng Mỹ đen con – bị bỏ rơi, nó ngồi chò hỏ bên một đống rác nơi góc chợ chiều. Chẳng ai thèm quan tâm, mà nó cũng chỉ biết ngồi nhìn quanh quẩn mọi người qua lại bằng đôi mắt trắng dã, không biết tìm ai, kêu ai. Số phận của nó tưởng chừng không khác gì những đứa trẻ đói ở châu Phi bước đi từng bước cuối cùng và con kên kên phía sau đang chực sẵn… Ấy vậy, nhưng nó còn may mắn. Dì Hai, một người phụ nữ góa bụa đã ngoài cái tuổi 30, nghe nói chú Hai chồng dì chết từ trận Mậu Thân và không để lại cho dì mụn con nào, dì thấy nó tội nghiệp, không cha không mẹ, đói khát nên đem nó về nuôi và đặt cho nó cái tên là thằng Tuấn.

Đùng một cái, xóm Đồng Ông Cộ phải di dân lên vùng Kinh tế mới tức là lên xã Tha La 1 ngày xưa, ít lâu sau đó lại đổi tên là xã Tân Thạnh và giờ là một phần của thị trấn Tân Châu ngày nay. Gia đình tôi cùng với bao gia đình khác trong xóm đều đi, dì Hai và thằng Tuấn cũng đi lên vùng đất mới lập nghiệp. Khu Kinh tế này xưa kia lấy con đường từ ngã tư Đồng Pal vào thẳng đến suối Tha La làm trục chính, chia đều thành 23 lô hình xương cá, mỗi lô cách nhau 100m. Nơi đây được Thanh niên xung phong lên khai phá trước, làm nhà, đào giếng sẵn, ai lên muốn xí chỗ ở nào thì tùy ý. Hồi ấy không có chuyện tranh giành đất mặt tiền hay gì đâu. Vì đất mặt tiền hay mặt hậu thì cũng chẳng có giá trị gì với cái thời đói khổ ấy. Mặt tiền gần đường đất đỏ chỉ thêm hưởng bụi chứ tốt gì. Chính vì vậy mà dân lên trước, những gia đình thân quen thường rủ nhau sống từng cụm ở tận cuối lô cho vui. Nhà dì Hai ở cuối bìa rừng lô 9, còn nội ngoại và gia đình tôi thì cuối lô 12.

Thời ấy con nít không co cụm trong hàng rào nhà như bây giờ, mà từ lô này sang lô khác chơi, kết bạn là chuyện rất bình thường. Có nhiều đứa từ lô 1, lô 2 vẫn tìm bạn chơi những lô 20. Con nít thời ấy chơi rất vô tư. Nhưng người lớn thì không vô tư như con nít. Mấy gia đình lên sau vốn không phải là người cùng xóm, nên họ ít kết thân và hay dòm ngó, bàn tán chuyện người khác. Họ thấy nhà dì Hai neo đơn, trên bàn thờ có thờ di ảnh chú Hai, đứa con duy nhất thì lại là Mỹ đen, nên đồn rùm beng lên là dì Hai lấy Mỹ và cho dì là người đàn bà xấu nết. Họ hầu như cô lập dì Hai ra khỏi cái lô của họ. Họ còn xúi con cháu không được chơi với thằng Tuấn và gọi nó là thằng quỷ đen. Đúng là tâm bất thiện mà miệng cũng đầy nọc độc. Vậy mà dì Hai chẳng bao giờ phân bua hay giải thích gì với ai. Dì cứ âm thầm đi làm thuê cuốc mướn, trồng đậu trồng mè nuôi thằng Tuấn.

So-504--Anh-minh--hoa---Thang-Tuan

Một hai năm sau xã có trường học cho con em dân trong xã được học hành, biết cái chữ cái nghĩa. Nhà nhà đều đưa con nít đến trường đăng ký học. Dì Hai cũng muốn cho thằng Tuấn đi học, nhưng phải tội là nó không có giấy khai sanh nên không được học. Thầy giáo An là người tử tế, thầy nói với dì Hai:

- Thời buổi này học chủ yếu cho biết đọc biết viết cho khỏi dốt, chứ làm quan tướng gì mà bày đặt. Chị yên tâm, tui cho thằng Tuấn ngồi học dự thính, tui dạy nó như bao nhiêu đứa khác.

Dì Hai mừng đến chảy nước mắt. Thế là cái lớp học của tôi đủ các thành phần, lớn có nhỏ có, Việt có Mỹ có… Học và chơi vui không kể xiết. Bàn ghế là thứ ván bìa cưa ra, bào cho láng, trường mái tranh vách đất, nhưng nơi đó là mái trường nhiều kỷ niệm và hạnh phúc nhất của thời thơ ấu chúng tôi. Chúng tôi lớn lên từ những ngày tháng gian khó đó. Chúng tôi trưởng thành từ sự tận tâm của người thầy, từ sự nuôi nấng của cha mẹ và cả sự hồn nhiên của tất cả bạn bè.

Thằng Tuấn lớn nhanh đến kỳ lạ. Càng cao lớn da nó càng đen bóng, tóc nó càng xoắn tít, hai hàm răng và hai tròng mắt nó trắng nổi bật giữa một cái nền toàn đen. Nhìn nó khác lạ, trông rất buồn cười, nó chơi cái trò gì cũng hay, làm gì cũng mạnh mẽ gấp hai ba lần chúng tôi. Tôi biết hàng xóm nó không ưa nhà nó, tôi hỏi:

- Ê Tuấn, họ không ưa mày mà sao tao thấy cái gì mày cũng hay chạy qua giúp họ vậy?

Nó nói:

- Má tao nói, tao là con của má, má đẻ tao ra. Họ muốn nói gì thì tùy họ. Còn con nít thấy người lớn, người già nặng việc phải giúp, đó là má tao dạy. Tiếc gì chút sức mày ơi!

Ấy, thằng Tuấn nó sống đơn giản và tốt bụng vậy đó. Có lần đám con nít chúng tôi đang chơi bông vụ với nhau trước sân trường thì không biết đâu xuất hiện bảy tám thằng lơn lớn từ phía Đồng Pal chạy vào lấy hết đồ chơi và còn đòi đánh chúng tôi nữa. Thằng Tuấn đang leo lên cây tràm vàng bắt tổ chim thấy vậy, nó tuột xuống. Máu điên nó nổi lên, hai mắt trắng dã, long lên sòng sọc. Nó đứng ra:

- Ê, trả hết bông vụ cho tụi tao mày! Còn tụi bây thích gì tao chiều hết.

Đám kia bay vô xử thằng Tuấn liền không nói không rằng. Trời ơi, thằng Tuấn nó khỏe và dũng cảm như một con trâu cổ, không đầy 5 phút là đám kia nằm dài rồi lồm cồm chạy mất dép… Đám nhỏ chúng tôi hoan hô thằng Tuấn hết lời. Thằng Tuấn chỉ đám đó tuyên bố “Thằng nào ăn hiếp bạn bè tao là thằng đó tới số”. Từ trận đó về sau thằng Tuấn trong mắt bạn bè có số lắm. Mấy anh lớn cũng nể nó. Nhưng bình thường thì dù học dù chơi gì nó cũng rất hiền và nhường nhịn bạn, không bao giờ nó tỏ vẻ ta đây. Năm tháng qua đi cùng niềm vui dưới mái trường của chúng tôi là vậy.

Đùng một cái má thằng Tuấn đổ bệnh, nằm bại liệt không đi làm được nữa. Nó phải nghỉ học, bắt đầu bước vào cái nghề làm mướn làm thuê. Nó cực trên cả cái cực, vừa đi làm vừa chăm sóc tắm rửa, cơm nước thuốc men cho má. Nó không còn đi rong chơi với bọn trẻ chúng tôi nữa. Có sức khỏe, nó lãnh đất có gò mối ban cho người ta, lấy tiền công về nuôi má. Làm cật lực quanh năm suốt tháng, về đến nhà là nó quanh quẩn với má. Ngày má sắp chết, má nói thì thào với nó:

- Tuấn à, con là đứa con má nhặt được sau khi tàn cuộc chiến. Con không phải do má sinh ra, nhưng má thương con không khác gì khúc ruột. Con là đứa con có hiếu. Sau này nếu có dịp con phải tìm người này thì con mới có tương lai!

Nói xong dì Hai đưa cho nó một tấm thẻ bài trắng có khắc tên họ và số gì đó bằng tiếng Mỹ. Đó là tấm thẻ bài có sợi dây mà nó đeo duy nhất trên người khi dì Hai nhặt được nó năm xưa. Nhưng dì cất đi vì không muốn nó bị kỳ thị thêm ngoài màu da, mái tóc vốn có của nó.

Nghe má nói vậy, nó khóc rồi nói:

- Má ơi, con vĩnh viễn là đứa con ruột của má. Nơi này là quê hương của con. Con sinh ra trên mảnh đất này, rồi cuối cùng con cũng sẽ về với nó, má cứ yên tâm dưỡng bệnh đi má.

Ít lâu sau dì Hai mất, nó sống thui thủi một mình. Rồi nó đi Mỹ theo diện con lai. Trước khi đi, nó đến từng nhà hàng xóm từ giã, nó nói con đi rồi con sẽ về, con sẽ đem quà về cho mọi người. Nó đi kiếm từng đứa bạn học để chia tay. Một buổi chiều, nó gặp tôi trên một bãi cỏ chỉ xanh rờn. Nó nói:

- Vài ngày nữa tao đi Mỹ rồi. Mày ở lại ráng học cho thành tài nha.

- Mày đi rồi mày có về lại đây không Tuấn?

- Mày yên tâm, tao sinh ra ở quê hương xứ sở này. Má tao nằm lại mảnh đất này. Tao đi là mong kiếm tiền đổi đời cho bớt khổ tí thôi. Đi, rồi tao sẽ về. Tao không muốn mồ mả má thiếu bàn tay chăm sóc của tao, má thương tao lắm. Tao mãi mãi là một người Việt Nam da đen tóc xoắn mà… Mày thương tao, ngày thanh minh mày nhớ ghé qua giẫy cỏ mả má tao dùm tao nha. Tao chỉ biết nhờ mày…

Vậy đó, một thoáng biệt mù đã ngót 20 năm. Tôi nghe nói, nó qua bên đó, nhờ tấm thẻ bài mà nó tìm được cha. Nhưng ba nó bị ám ảnh bởi chiến tranh Việt Nam mà sinh ra bệnh tâm thần, rồi cũng mất, cũng chẳng giúp được nó cái gì. Nó được học và đi làm… Tôi còn nhớ hôm nó về, nó to lớn hơn xưa rất nhiều, nó đem rất nhiều quần áo và thuốc tây cho từng nhà hàng xóm. Thời gian đã bào mòn bao ý nghĩ không hay, và hiển nhiên giờ thằng Tuấn trong mắt mọi người nó là một người sống có tình có nghĩa. Nó sang nhà tôi chào hỏi ba má tôi và thăm tôi. Nó nhờ tôi dẫn nó đi mua vật liệu xây dựng, kiếm thợ xây lại mồ mả dì Hai thật khang trang. Rồi nó kể tôi nghe bao chuyện vui buồn trên đất Mỹ. Nó nói:

- Tao nhớ tụi mày lắm. Ở Việt Nam tao cực vậy, qua Mỹ tao trở thành cái máy… không sướng gì đâu!

- Rồi mày dự định sau này thế nào hả Tuấn?

- Tao ráng làm vài năm nữa rồi về xứ mình mua đất cất nhà. Tao sẽ sống lại với kỷ niệm xưa với mảnh vườn cây cỏ. Tao giữ gìn chăm sóc mồ mả và thờ cúng má. Tao muốn ngoài giờ mày đi dạy học, mày với tao sẽ lang thang câu cá, hái rau muống bên bờ suối Tha La như ngày xưa ấy.

- Được rồi, tao luôn chờ mày Tuấn.

Thời gian có thể làm con người ta thay đổi nhưng thằng Tuấn thì khác. Nó luôn là một người Việt Nam dù da đen tóc xoắn, môi dày, sống chân tình và môi trường không thể làm nhòa đi bản tánh tốt đẹp và trong sáng của nó. Cách vài hôm trước nó có điện cho tôi, nói là cuối năm nay sẽ về và ở lại luôn. Lòng tôi hồi hộp, nhớ thằng bạn xưa… Nó ngồi cuối dãy bàn, cao chồng ngồng chăm chú nghe thầy An giảng bài… Nó lao động tích cực, bênh vực bạn bè và chiến đấu như một chiến binh dũng cảm… Nó mồ hôi dầm dề ban từng cái gò mối giữa trưa. Nó đội tang dây rơm mũ bạc, hai tay bưng di ảnh ngày má nó mất. Nó quỳ chắp tay thành khẩn trước mộ má nó ngày về… Và giờ đây, có lẽ đang bước đi trong mùa tuyết lạnh, nhưng trái tim nóng hổi của nó đang nhớ về quê cũ.

Tôi đang chờ để đón bạn xưa. Một người bạn Việt Nam xa xứ, da đen, tóc xoắn, môi dày… và máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn của tôi.

Đào Thái Sơn
(Hội VHNT Tây Ninh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 504

Ý Kiến bạn đọc