Ngoài nước

Thảm họa: “Con bài” của Tư bản”

 

Có một điều chắc chắn là cứ mỗi giây trôi qua đi, ở một nơi nào đó trên thế giới lại xảy ra thảm họa tự nhiên hay nhân tạo. Có rất ít người đã sống mà chưa bao giờ phải hứng chịu hậu quả của cháy nhà, hạn hán, lũ lụt, lở đất, chiến tranh… Vai trò của tình nhân ái giữa con người với con người lại càng được đề cao trong những giờ phút khó khăn đó, khi mà xã hội cùng chung tay xoa dịu nỗi đau của nạn nhân.

Tuy vậy, không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng nghĩ và làm được cái điều thiêng liêng cao quý đó. Vẫn luôn có những đối tượng đứng trên nỗi đau khổ của đồng bào mình để thu lợi. Ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể coi những hành vi trục lợi này chỉ đơn giản là biểu hiện của lòng tham nhất thời, đơn cử như trường hợp xảy ra tại nước Mỹ sau vụ khủng bố ngày 11-9: các quán cà phê Starbucks gần nơi xảy ra cuộc tấn công đồng loạt tăng giá nước đóng chai để bán cho các nhân viên cứu hộ và nạn nhân vừa mới thoát ra khỏi đống đổ nát của tòa tháp đôi. Nhưng cũng như mọi thứ khác, tư bản đã nghĩ ra một cách thức rất tinh vi để kiếm lợi từ thảm họa.

Nhà báo, nhà hoạt động xã hội người Mỹ Naomi Klein trong cuốn sách “Sốc – sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họa” đã chỉ ra một hình mẫu chung cho phương thức mà chủ nghĩa tư bản, dưới danh nghĩa là các tập đoàn và tổ chức tài chính, lợi dụng thảm họa nhằm cải tổ nền kinh tế – xã hội theo hướng có lợi cho họ.

Cho dù là bão Katrina ở Mỹ, sóng thần ở Sri Lanka, hay là chiến tranh Iraq… thì bao giờ điều đầu tiên tư bản làm cũng là tác động lên chính quyền đương thời bằng các công cụ chính trị, tài chính để bắt buộc họ thực hiện một số “cải cách” như nới lỏng thị trường lao động, giảm thuế doanh nghiệp, mở cửa cho hàng hóa nhập khẩu, ưu đãi lãi suất đối với các nhà thầu xây dựng…

So-545--Tham-hoa-Con-bai-cua-Tu-ban---Anh-1
Tác giả Naomi Klein bên cuốn sách “Sốc – sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họa”.

Những gói cải cách này được quảng cáo là sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế địa phương. Theo một chừng mực nào đó thì điều này là chính xác. Tuy vậy, những lợi ích do nền kinh tế phục hồi đem lại thường chỉ chảy vào túi của các nhà tư bản thay vì là người dân địa phương. Trong khi người dân vẫn còn phải chịu cảnh “màn trời chiếu đất”, thất nghiệp, bệnh tật… thì các tập đoàn và tổ chức tài chính lại thu về hằng tỷ đô-la không chỉ từ lợi nhuận tăng lên mà còn cả các ưu đãi mà nhà nước dành cho họ.

Nước Nga sau khi nhà nước Liên Xô (cũ) sụp đổ có lẽ là minh chứng rõ ràng nhất cho hiện tượng nói trên. Trong cơn hỗn loạn, Mỹ và các tổ chức như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)… ra điều kiện với chính phủ của Tổng thống Boris Yeltsin rằng, nếu nước Nga muốn nhận được viện trợ kinh tế thì họ phải chấp nhận “tự do hóa thương mại”. Đã có nhiều cá nhân, tổ chức, kể cả người Nga nữa, hy vọng rằng những cải tổ này sẽ đem lại sự ổn định cho đất nước.

Ổn định chưa thấy đâu, nhưng nhân dân Nga đã phải hứng chịu hàng loạt hậu quả khủng khiếp. Hàng chục triệu người mất việc vì các hợp tác xã, nhà máy, cơ quan nhà nước bị đóng cửa. Họ phải chấp nhận làm công với cái giá rẻ mạt cho các nhà máy thi nhau mọc lên tại Nga.

Những doanh nghiệp nước ngoài đứng sau các nhà máy này không chỉ khai thác tài nguyên con người, mà cả tài nguyên thiên nhiên đến mức cạn kiệt. Sản phẩm mà họ làm ra – những nông sản, lâm sản, khoáng sản… quý giá – được chuyển đến mẫu quốc mà không phải chi trả bất cứ một đồng thuế nào cho nhà nước. Còn thị trường nội địa Nga lạm phát không phanh vì phải chịu sự tràn ngập hàng hóa ngoại nên đành chấp nhận bị nhà sản xuất nước ngoài điều khiển giá. Có lẽ vì thế cho nên thật chẳng có gì lạ khi đến nay vẫn còn nhiều người Nga có thái độ chống phương Tây.

Điểm mạnh trong chiến lược này của tư bản là sau thảm họa, khó có ai có đủ bình tĩnh để nhận ra mình đang bị người khác lợi dụng để kiếm lời. Mọi người trong những giờ phút khó khăn nhất của họ sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện đi kèm với các đề nghị giúp đỡ họ. Đến khi họ kịp nhận ra thì các tập đoàn tư bản đã chiếm hết quyền lực rồi. Ngay cả hệ thống chính quyền cũng mất tính dân chủ của nó mà trở thành một công cụ khác để kiếm tiền cho tư bản.

Đơn cử như trường hợp của thành phố New Orleans tại Mỹ. Cộng đồng người lao động da đen ở New Orleans là nhóm đối tượng bị tổn thương nhiều nhất sau cơn bão Katrina hồi năm 2005. Có đến hàng nghìn gia đình người da đen mất hết nhà cửa lẫn sinh kế của họ.

Thay vì làm điều phải làm là giúp các gia đình này vực dậy kinh tế và tinh thần, chính quyền thành phố New Orleans lại từ chối người da đen mọi khoản hỗ trợ theo lời của các tập đoàn và tổ chức tài chính dưới danh nghĩa “cắt giảm nợ công”. Cùng lúc đó thì các “cò mồi”, con buôn bất động sản tiếp cận những gia đình đã mất nhà để gạ gẫm mua rẻ mảnh đất của họ. Quỹ đất này sau đó sẽ được sử dụng để xây các dự án cao ốc, văn phòng, khách sạn… còn người dân thì cầm cục tiền mà vẫn không có nhà để sống.

Người dân da đen đã thấy rõ âm mưu này và tự mình tập hợp lại để chống trả. Đến lúc này thì các thế lực tư bản và chính quyền địa phương cấu kết với nhau tìm mọi cách để dập tắt phong trào của nhân dân, từ cắt nước, cắt điện đến cấm đường và dời trường học, bệnh viện đi nơi khác. Khi người dân tổ chức biểu tình hòa bình, cảnh sát còn được điều động đến để trấn áp họ bằng vũ lực. Cuộc đấu tranh của người dân da đen New Orleans vẫn còn âm ỷ đến tận hôm nay.

Nếu không có thảm họa xảy ra thì tư bản sẵn sàng tự mình tạo ra thảm họa. Cũng giống như trường hợp New Orleans ở trên, người dân lao động nghèo tại nhiều thành phố Mỹ đang dần bị đẩy ra khỏi ngôi nhà của họ để lấy quỹ đất cho các dự án bất động sản. Nếu các nhà đầu tư xây dựng không mua được đất của người dân thì họ sẽ cô lập các cộng đồng này. Họ thực hiện điều đó bằng cách sử dụng những phương tiện truyền thông để tung tin đồn về những cuộc khủng hoảng đói nghèo, tội phạm, ô nhiễm môi trường mà đều xuất phát từ người dân lao động. Chính quyền vì thế mà sẽ có cớ để sử dụng luật pháp đuổi những người dân này ra, mở đường cho tư bản đầu tư xây dựng.

Mở rộng ra thì chính lòng tham của tư bản là lý do mà các đế quốc vẫn còn tồn tại cho đến tận bây giờ, mặc dù chế độ thuộc địa đã sụp đổ được hơn nửa thế kỷ. Dưới chiêu bài “dân chủ”, “quyền con người”, “phòng vệ quốc gia”, “diệt khủng bố”, nhiều đế quốc thẳng tay xâm lược các quốc gia nhỏ hơn mình để chiếm đoạt tài nguyên của họ. Khu vực Trung Đông là nơi chúng ta thấy điều này rõ nhất.

Kể từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, thế lực tư bản đã đứng sau nhà nước và quân đội đế quốc để gây chiến tranh giành nguồn dầu mỏ quý giá lẫn vị trí địa – chính trị quan trọng của các quốc gia Trung Đông. Ngay cả cuộc xâm lược của Iraq hồi năm 2003 cũng chỉ là cái cớ để các tập đoàn dầu mỏ của Mỹ có thể “nhảy vào” nắm quyền kiểm soát các khu mỏ địa phương.

Tham dự vào việc “cải tổ” các chính quyền nơi xảy ra thảm họa không chỉ có giới tư bản tài phiệt, mà còn cả một bộ phận trí thức nữa. Đây là những con người có thể giàu về trí thức nhưng lại ngây thơ về chính trị. Họ tin tưởng “tự do hóa thương mại” là con đường dẫn đến sự phát triển của nhân loại, mà không nhận ra những âm mưu kiếm lời của tư bản ẩn giấu trong đó.

Vì cái lòng tin này mà họ sẵn sàng làm những chuyện đáng xấu hổ với một người tri thức – một loạt các học trò xuất sắc của nhà kinh tế đoạt giải Nobel Milton Friedman đã làm cố vấn cho tên độc tài Agusto Pinochet vào khoảng thập niên 1970-1990. Họ say sưa làm cải tổ nền kinh tế trong khi bỏ ngoài tai lời gào thét của hằng triệu người dân Chile hằng ngày sống dưới ách khủng bố của Pinochet. Kết quả thì vẫn như cũ: tất cả những lợi ích do các nhà kinh tế đem lại đều rơi vào tay Pinochet và bè lũ đồng minh của hắn.

*
Không phải là việc tự do hóa thương mại không có lợi. Nó chính là một thành phần quan trọng của chính sách đổi mới mà nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang đưa vào thực hiện. Tuy vậy, nếu tự do hóa thương mại được thực hiện dưới sự chỉ đạo của các thế lực tư bản toàn cầu, thì hậu quả sẽ là cực kỳ nghiêm trọng. Các nguồn tài nguyên tự nhiên và con người sẽ cứ thế mà bị khai thác đến cạn kiệt. Đến một lúc nào đó thì đất nước sẽ mất hoàn toàn khả năng tự nuôi sống mình, và khi đó thì chỉ có một con đường duy nhất: sụp đổ.

Có hai điều kiện để tự do hóa thương mại, hay là mọi cải tổ về kinh tế – chính trị – xã hội, đem lại lợi ích thực sự cho nhân dân. Thứ nhất là đặt quyền quyết định lên tay người dân địa phương, không chỉ vì họ là những người chịu hậu quả trực tiếp của cải cách, mà còn do họ là những người hiểu biết rõ nhất rằng họ muốn gì và cần gì để thay đổi cuộc sống hiện tại. Thứ hai là đảm bảo được phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Cả ba mục tiêu này gộp chung vào được gọi là “phát triển bền vững”, chìa khóa cho sự phồn thịnh bền lâu của nhân dân và đất nước.

Lê Công Vũ (tổng hợp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 545

Ý Kiến bạn đọc