Sáng tác mới

Thăm bản Lạch

 

Đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi trong tháng 3.2015 đã dự một trại sáng tác tại nhà sáng tác Đà Lạt (số 2AYên Thế). Loanh quanh mấy thác, chùa, trại hoa… trong thành phố cũng chán nên chủ nhật 15.3 chúng tôi quyết định sẽ đi thăm bản người Lạch (thôn Bình Đơn I, thị trấn Lạc Dương, Lâm Đồng) từ 8 giờ sáng. Tuy nhiên đoàn lên đường trễ so với dự kiến hơn một tiếng đồng hồ. Do người dẫn đường – chị Lê Liên và chị Nguyễn Thị Thúy Bình (trường Đại học Yersin – Đà Lạt) phải chờ 2 người bạn của các chị ở Cần Thơ ra rồi cùng đi.

Đường về bản Lạch hôm nay đã được trải nhựa tít tắp chứ không như 10 năm trước lỗ chỗ ổ gà ổ voi và những con dốc gập ghềnh, cao vút đến thót tim. Hai bên đường về bản bây giờ đã san sát nhà cửa…
Chúng tôi đến cổng khu du lịch Lang Biang lúc 11 giờ trưa. Mấy chú ngựa vằn trên đỉnh để làm mẫu cho thuê chụp hình hình như cũng bắt đầu mệt mỏi dưới cái nắng tháng 3 giờ Ngọ. Khi biết, để lên được đỉnh Lang Biang phải mua vé vào cổng và thuê xe U-oát giá 300 ngàn/ chuyến/ 30 phút thì các chị hướng dẫn bảo thế thì… tạm dừng chuyện lên núi vì lên tới đó chỉ ngắm trời ngắm đất, mà thời gian như thế là quá hẹp. Mà thật ra chúng tôi chỉ muốn đến thăm bản dân tộc Lạch chứ lên núi thì quả thật sẽ rất “đổ lửa” vào giờ trưa nắng gắt thế này.

Từ cổng Lang Biang trở ra khoảng gần 1km có tấm biển “Giáo xứ Lang Biang”, rẽ theo tấm biển ấy là đường vào nhà trưởng bản tên Krajãn (phiên âm tiếng Việt là Ka-hai).
Nghe có khách đến, ông Ka-hai vội rời sân bóng của bản về nhà rông. Hôm nay đội bóng nữ trường THPT bán trú Lang Biang đá chung kết, mà con gái lớn của ông là giáo viên chủ nhiệm của một trong các đội bóng ấy. Sân nhà rông không có một bóng cây nào, gần chục chiếc xe máy của chúng tôi chắc chắn sẽ phải phơi nắng núi suốt mấy tiếng đồng hồ đây. Không chờ chúng tôi hỏi, trưởng bản đã phân bua: “Trước có cây chớ, nhưng tối tối người ta mượn chỗ cột ngựa, chúng ăn hết cây rồi”. Quả thật, dưới đất còn lổn nhổn những phân ngựa vừa khô vừa ướt.

IMG_5641 GIÀ BẢN ĐANG TRÒ CHUYỆN VỚI KHÁCH
 Già bản đang trò chuyện với khách.

Nhà rông của bản không to lắm, ngồi chừng 40-50 người là chật. Nhà nằm cùng một khu đất với nhà ở của gia đình ông Ka-hai. Những vật dụng trong nhà rông đều cũ kỹ và theo cảm nhận của tôi chúng mang hình thức “minh họa” hơn là một nhà rông thật sự. Giữa nhà là một bếp lửa hình như đã khá lâu rồi không đốt, cạnh bếp là chiếc ghế ngồi thấp để già làng thuyết minh về lịch sử buôn làng. Hai bên bếp là hai dãy băng ghế dành cho khách ngồi, trên sàn vài trái bắp chỉ còn trơ cùi và một bộ lông chồn ám khói. Sát vách nhà là mớ hũ rượu cần, hũ mở nắp, hũ đóng kín những lớp nilon cùng mớ “cần” bằng ống nhựa.
Ở tuổi 73 trông trưởng bản Ka-hai không còn khỏe mạnh để đi rẫy trồng tỉa hay hái cà phê nữa. Nhưng với khách xa đến thăm ông vẫn nhiệt tình trò chuyện về nguồn gốc tổ tiên người Lạch và cuộc sống hiện tại của dân bản.

Ông cho biết, theo thống kê chính thức năm 2002 thì bản Lạch có 5.000 nhân khẩu với 3.000 dân theo Thiên Chúa giáo, số dân còn lại theo đạo Tin lành. Nơi này ngày xưa là rừng núi, thôn Bình Đơn còn có cả một ấp chiến lược. Nhưng qua thời gian, khu đất làm ấp chiến lược đã được cày xới để trồng tỉa hoa màu và hiện nay thương hiệu “Dâu Lang Biang” đang được du khách ưa chuộng hơn cả dâu ngoài thành phố Đà Lạt vì dâu núi tuy nhỏ trái hơn nhưng rắn và giòn ngọt hơn. Rau trồng ở chân núi Lang Biang cũng đắt khách hơn vì còn nguyên hương vị núi rừng. Nhưng trai bản, gái bản không phải đi nương nữa, lớp người tham gia sản xuất ở bản bây giờ chỉ là người trung niên. Lớp trẻ phải đi học cho có thêm cái chữ và đi làm việc ngoài thành phố.
Hiện nay ở bản Lạch vẫn duy trì chế độ mẫu hệ (nữ đi cưới chồng). Tuy nhiên, nếu khi người con gái đi hỏi mà người con trai không đồng ý “gả” mình thì anh ấy phải “đền” một khoản tiền gọi “tiền danh dự”.
Trưởng bản nói, bình thường, một người vợ đi cưới chồng phải “nạp tài” cho nhà trai là 1 con trâu và một số bánh trái để đãi khách. Thế nhưng vợ ông Ka- hai phải cưới ông bằng 5 con trâu vì ông nói được 3 thứ tiếng: tiếng dân tộc Lạch, tiếng Kinh và tiếng Pháp. Vợ chồng ông có 6 người con, trong đó 4 con gái. Vào thời điểm 20 năm trước, do con gái được quý hơn con trai nên 4 con gái của ông đều được học cao. Người cao nhất là con cả – Cil Kông, hiện dạy môn Địa lý trường THPT bán trú Lang Biang. Cô thứ hai Cil Jẽ là giáo viên trường Tiểu học Lạc Dương, cô thứ ba chưa lập gia đình, cô út thì cưới chồng người Kinh nên theo ra thành phố Đà Lạt sinh sống.
Vì sao bản Lạch thuộc chế độ mẫu hệ mà ông lại làm trưởng bản? “Vì tôi nói được 3 thứ tiếng, mà cũng chỉ mới làm từ năm 1991 thôi mà”. Rồi ông hát cho chúng tôi nghe bài dân ca có tên gọi “Người Lạch cảm ơn núi rừng”: Cống dùm, ken kam pút, trống sơn gơ rờ… Dịch nghĩa: “Chúng tôi biết ơn núi rừng vì núi rừng đã cho chúng tôi áo mặc, quả để ăn…”.
Ông bảo, hiện người Lạch đã có công việc ổn định. Nhiều người có vườn cà phê, vườn dâu tây, vườn rau sạch. Ai không có rẫy, có vườn thì đi làm thuê cho người cùng bản, cũng đủ sống. Trẻ con lớn lên dù trai hay gái cũng được đi học (chứ không như ngày trước chỉ ưu tiên con gái), đặc biệt nhóm nhạc công thuộc nhóm cồng chiêng Đăng Jrung là những em trai rất trẻ, trên dưới 20 và “chơi khá được”. Người trung niên và người trẻ ở bản bây giờ rất hiếm khi mặc trang phục dân tộc vì nguyên liệu dệt thổ cẩm hiếm và đắt, trong khi chỉ cần vài chục đến vài trăm ngàn đồng là có thể mua một bộ quần áo giống người Kinh.
Ông Ka-hai có 5 cháu nội – ngoại, trong đó cô cháu gái Cil Jil (1993) là học cao nhất, hiện em là sinh viên năm 2 – chuyên ngành Anh ngữ trường Đại học Đà Lạt. Anh trai của Jil cũng vừa học xong Trung cấp thú y, hiện đang xin việc làm.

Không quản giữa trưa đứng nắng, ông đưa chúng tôi sang nhà văn hóa bản, với khuôn viên rộng hơn 200 m2, tường bê tông, mái tôn chứ không phải nhà sàn mái tranh như trước. Nhóm nhạc công “chơi khá được” của bản đang luyện tập ở đây. Hai thành viên đoàn chúng tôi là nhạc sỹ Trọng Quý và Hoàng Oanh liền tham gia cho vui bằng cách hát mấy bài. Kết thúc, các vị nhạc sỹ phải khen “trẻ mà đánh chuẩn thật”. Ở nhà văn hóa này, khi có yêu cầu, du khách sẽ được đốt lửa trại trên giàn bếp “di động” (sàn bê tông 4 m2 gắn bánh xe đẩy đi được và nhóm bếp trên ấy) và uống rượu cần, ăn heo rừng (nuôi), nghe cồng chiêng, nghe tiếng tù và và xem các cô gái bản múa với giá 100-150 ngàn/ người/ đêm.

IMG_5659 THÀNH VIÊN NHÓM CỒNG CHIÊNG ĐĂNG JRUNG
Thành viên nhóm cồng chiêng đăng Jrung.

Bản Lạch hiện có đến 9 nhóm cồng chiêng, nhưng tất cả bây giờ đã “du lịch hóa” để đảm bảo sức khỏe của mình và của du khách là không gian cồng chiêng sẽ mang vào nhà văn hóa bản chứ không thể nào như ngày xưa là đốt lửa ngoài trời, heo rừng tự săn và… ngủ bụi được. Vậy nhóm cồng chiêng nào là hay nhất? “Cái đó không phân biệt được! Hay dở tùy người nghe. Nhưng nhóm cồng chiêng Đăng Jrung có lẽ là nhóm có nhạc công trẻ nhất”.
Trời vẫn còn mê man nắng, những bước chân khách đã bắt đầu chênh chao nhưng ông trưởng bản tuổi ngoài 70 vẫn bình thản bước. Ông dẫn chúng tôi đi quanh bản, vào xem vườn dâu tây, vườn rau sạch của bà con dân bản. Thỉnh thoảng trên đường đi, chúng tôi gặp một vài người phụ nữ cõng bao cỏ to sầm trên lưng, các chị cho biết nhà mình nuôi ngựa cho thuê chụp ảnh trên núi Lang Biang nên ngày nào cũng phải đi cắt cỏ cho chúng, mùa nắng thế này kiếm cỏ rất cực. “Nhưng cái nắng đâu có bằng cái ngựa nó đói”. Trên lưng các chị ngoài bao cỏ nặng oằn còn có chiếc gùi đặc trưng của dân bản và đôi ủng cao cổ như càng nặng bước dưới trời trưa nắng gắt.

IMG_5663 PHỤ NỮ BẢN

Phụ nữ bản.

Chúng tôi trở lại nhà rông của bản là đã hơn 2 giờ. Xa xa phía núi đã có những đụn mây xám mềm như chiếc khăn lụa choàng ngang chiếc cổ rắn rỏi của cô gái bản. Ông Ka-hai nói, mùa này trời không mưa thật, nhưng cũng có không ít nước đổ xuống vì “mưa tắm mây”. Mới ngày hôm qua đây thôi, mưa từ nhà ông sang nhà văn hóa, nhà rông đây ướt cả. Nhưng ra tới Giáo xứ thì… không có chút nước nào. Nếu đoàn chúng tôi muốn nghe cồng chiêng và uống rượu cần thì hãy sang nhà văn hóa bản đăng ký rồi nghỉ
lại nhà rông chờ tối. Còn nếu trở về trung tâm thành phố thì đi ngay kẻo trời sụp xuống rất nhanh.
Chúng tôi hẹn dịp khác sẽ ở lại. Về tới nhà sáng tác thì nắng chỉ còn những vệt màu vàng nhạt. Xa xa về phía núi, mây hay sương đã giăng mờ…

Ý Kiến bạn đọc