Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thách thức với lịch sử

(Tiếp theo số báo 495, ngày 26-4-2018)

Là người Việt Nam ai cũng có quyền yêu kính các Cụ Phan nhưng tôn vinh, trao giải thưởng lại là vấn đề khác. Giải thưởng Phan Châu Trinh do nhà văn Nguyên Ngọc cầm trịch đang làm rối loạn các giá trị đã được lịch sử minh định.

Trước hết phải nói đến tính hài hước của giải thưởng này. Giải thưởng mang tên Phan Châu Trinh lại tôn vinh và trao cho Phan Châu Trinh thì là chuyện mẹ hát con khen hay sao. Một người đã đủ uy tín, danh vọng đứng tên cho một giải thưởng thì họ phải cao hơn giải thưởng đó ít ra là một bậc. Giải Nobel có trao cho Nobel đâu! Vì vậy, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh hay Giải thưởng Phan Châu Trinh không đủ tư cách tôn vinh và trao giải thưởng cho Cụ Phan, rước Cụ vào đền này đài kia.

Cũng như thế, họ không đủ tư cách tôn vinh và trao giải thưởng cho Cụ Phan Bội Châu. Về vai trò, vị trí trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, hai Cụ là ngang nhau. Làm sao Cụ Phan Châu Trinh lại có thể trao giải, tôn vinh cho Cụ Phan Bội Châu, tuy chỉ là mượn tiếng Cụ. Đây là một việc làm không văn hóa, phản khoa học và lịch sử, là xúc phạm đến anh linh của các Cụ Phan. Mượn tiếng các Cụ Phan để mưu đồ này kia. Buồn cười hết cỡ là Giải Phan Châu Trinh lại trao cho một người đương thời bị Cụ Phan phê phán rất nặng: “Như Phạm Quỳnh thì tôi thấy một hai bài trên nhật trình: không những là giả dối, vẽ vời mà lại lắm điều hại cho thanh niên lắm” (Phạm Quỳnh dưới cái nhìn của Phan Châu Trinh. Văn Nghệ TP.HCM số 493, ngày 12-4-2018. Trg.16).

Tiếp đến, ông Nguyên Ngọc không đủ tư cách để tổ chức tôn vinh, trao giải cho các danh nhân văn hóa – lịch sử. Chưa nói đến học vấn hay sự nghiệp sáng tác (ông Nguyên Ngọc vốn học ở trường Trung học Lê Khiết hồi kháng chiến 9 năm – theo Cụ Hồ Ngọc Sơn cùng học trường đó, dưới Nguyên Ngọc một lớp). Nói đến điểm xuất phát của Nguyên Ngọc để thấy ông chưa vươn xa hơn điểm xuất phát là bao. Nên trong các vấn đề học thuật, ông nói bừa viết ẩu, cực đoan đến mức ngớ ngẩn như đã nêu ở kỳ báo trước (số 492). Cũng cần nói thêm là Nguyên Ngọc hết lời khen Hoa Đường tùy bút là cái sự khen lấy được việc người công ta… vì cái tùy bút ấy bộc lộ con người hữu trí vô lự của Phạm Quỳnh. Cái tâm sự thở than “thói đời ấm lạnh lòng người thấm phai” không xứng với một ngòi bút như Phạm Thượng Chi. Một “chính nhân quân tử” (Trần Văn Chánh), “Tầm cao ái quốc, chiều sâu bác học” (Phạm Toàn), mà đi than khóc cái trâm cài tóc thì chị em quá…

Đương nhiên đánh giá một con người không chỉ xem bằng cấp hay điểm xuất phát, mà phải xem xét toàn bộ sự nghiệp của họ. Nguyên Ngọc là một người có tài năng. Ông sở trường và chỉ có sở trường ở Truyện ký người thật việc thật (Đất nước đứng lên; Có một đường mòn trên biển Đông…). Và rất sở trường về Tùy bút, mà Đường chúng ta đi còn ảnh hưởng đến tùy bút, tản văn hôm nay với những mẹ ta, chị ta, em ta… Từ tùy bút chuyển sang chính luận, tuyên ngôn, diễn thuyết, thuyết giảng… là khá dễ dàng. Vì thế, khi không còn nắm được “ngọn cờ văn nghệ” thì ông chuyển hẳn sang chính luận, giới thiệu trang đầu bìa bốn, tổ chức hoạt động phong trào Hội đoàn, trường, viện… Chủ tịch Hội đồng, Hiệu trưởng Đại học, vận động Văn đoàn…

So-496--Anh-minh-hoa---Thch-thuc-voi-lich-su---Anh-1

Phải nói Nguyên Ngọc là con người năng động, nhanh ý, biết chớp lấy thời cơ mà việc núp bóng Cụ Phan là một sự tiêu biểu. Nguyên Ngọc là con người của số một, đi đầu, thứ nhất, tuyên bố tuyên ngôn định luận… rất giống hình tượng của Bút Tre: … Ta quyết xông lên hàng đầu / Hàng đầu sẽ dẫn tới đâu / Tới đâu không biết / Hàng đầu cứ đi… rất tham vọng lãnh tụ!

Nhưng Nguyên Ngọc cũng là con người bất nhất quán chi. Tác giả Trần Kinh Bắc đã nói rất rõ trong bài “Nguyên Ngọc từ một góc nhìn khác” đã đăng trên Văn Nghệ TP.HCM năm 2016. In lại trong Phụ lục Luận chiến văn chương quyển Ba. NXB Văn học 2016. Ông phê bình tập thơ Bầu trời của Huyền Kiêu (khoảng sau 1976) với tinh thần Mao-ít quyết liệt. Khi làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn kiêm Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà văn, thực quyền hơn cả Chủ tịch Hội. Rồi nắm được tờ Văn Nghệ ông lại có giọng khác. Học thuật mà “tâm viên ý mã” như thế lại đứng ra tôn vinh, trao giải thưởng cho các danh nhân văn hóa thì đúng là “bất túc kính trọng” (chữ của Phạm Thượng Chi trong Thượng Chi văn tập. NXB Văn học 2006).

Nguyên Ngọc hư cấu, thêu dệt nên “văn hóa Phan Châu Trinh” chớ thực ra không phải như vậy. Bởi Cụ Phan là nhà yêu nước chớ chưa phải là nhà văn hóa theo đúng nghĩa.

Là nhà yêu nước, Cụ Phan thực là vĩ đại. Quốc dân và lịch sử đã chứng tỏ và tri ân gần trăm năm qua.

Là nhà chính trị thì đường lối của Cụ là rất sai lầm. Ông Nguyễn Văn Khánh chỉ nói sai lầm của hai Cụ Phan là chưa nhìn thấy bản chất của thực dân xâm lược, nên đã bế tắc và thất bại (Phan Châu Trinh trong lịch sử Việt Nam. Xưa & Nay số 488 tháng 10-2017). Điều đó là đúng nhưng chưa đủ và chưa phải là thiếu sót chính của hai Cụ Phan. Cụ Phan Châu Trinh có cái cốt cách của bậc đại quân tử ngày xưa. Qua thư gửi Chính phủ Pháp hoặc cảm tưởng khi được Đào Nguyên Phổ tặng sách biểu hiện rất rõ. Đó là một bậc Anh hùng cá nhân. Thời hiện đại không còn thích hợp(*). Sai lầm chính của hai Cụ Phan là chưa nhìn thấy sức mạnh của dân tộc và đường lối tập hợp, tổ chức, đoàn kết sức mạnh đó thành bạo lực cách mạng để đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Nhìn ra vấn đề này không phải là dễ. Phải có tri thức lịch sử và thời đại rút ra từ thực tiễn đời sống mới có được. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công “nan đề” này. Trên lý thuyết (Toàn tập Hồ Chí Minh) cũng như thực tiễn (từ các khóa huấn luyện ở Quảng Châu – Trung Quốc) năm 1927 đến Hội nghị chính trị đặc biệt (1946) và trưa ngày 30-4-1975 đã chứng tỏ điều đó. Đây là một đề tài lớn cho nhiều chuyên luận.

Các Cụ Phan xuất phát từ nền tảng Hán học cử tử mà không sáng tạo lên được nên không thể tránh khỏi “bế tắc và thất bại” (Nguyễn Văn Khánh. Bđd). Đây chính là chỗ bắt đầu để tìm hiểu, đánh giá và thừa kế di sản của các Cụ Phan.

Cứ cho Cụ Phan là nhà văn hóa thì đó là nhà văn hóa chưa hoàn toàn ở những điểm cơ bản nhất. Kỳ trước có nói sơ qua về khai dân trí. Nay xin nói rõ thêm. Hãy tìm hiểu phạm trù khai dân trí ở các khía cạnh sau:

- Sự hình thành dân trí.

- Điều kiện để “khai” dân trí.

- Vận dụng dân trí.

Xin khảo sát lần lượt.

Quan điểm về dân trí của Cụ Phan còn siêu hình phiến diện. Nó nằm ngay ở chữ KHAI. Nghĩa là phải có sự khai và phía kia là tiếp nhận được khai. Như thế là khai dân trí theo tinh thần sư phạm. Dân chưa có trí nên phải có sự khai dân trí cho dân. Đây là chỗ mơ hồ, phiến diện nhất của Cụ Phan. Ai sẽ là người đứng ra khai dân trí? Nội dung của sự khai dân trí là như thế nào trong thế cuộc lúc đó?

Chúng tôi hiểu dân trí, ngắn gọn nhất, là sự hiểu biết của con người về thế giới quanh mình, tự nhiên và xã hội, trong mọi quan hệ. Cổ xưa, dân trí là do kinh nghiệm cá nhân. Do có quan hệ xã hội mà hiểu biết, kinh nghiệm, tri thức cá nhân được đúc kết lại, được truyền bá. Có thể hiểu sự truyền bá tri thức là hình thức khai dân trí đầu tiên như bắt chước, noi theo, học tập, thừa kế (truyền nghề). Sự truyền bá lại có nhiều hình thức. Hoặc tự nguyện hào hiệp người đi trước rước người đi sau, hoặc ngược lại, mà tiêu biểu là gián điệp kinh tế. Các thứ “gia truyền”, bí truyền, bí quyết gia truyền là một hình thức chống lại sự truyền bá, phổ biến dân trí vì vụ lợi riêng. Nói đơn giản như lạc rang húng lìu và trứng vịt bắc thảo (phỉ táo) mà người Hoa chỉ truyền trong cộng đồng, quyết không truyền cho thiên hạ, vì vụ lợi… Đây cũng là tình trạng phổ biến. Một quốc gia châu Âu có giống lợn to lớn, khối lượng thịt được nhiều. Họ chỉ xuất khẩu thịt hoặc lợn không còn sống. Một quốc gia bên cạnh phải tìm cách tiêm thuốc mê vào một con lợn để đi qua biên giới… Và bây giờ, giống lợn này đã phổ biến toàn cầu. Hoặc một người Nhật đã tìm cách lấy được bí mật của hãng xe Ford và ngày nay thì ô tô Nhật tràn ngập thị trường Hoa Kỳ! Đầu óc thương mại ở đâu thì tri thức phải trở thành lợi nhuận, hàng hóa.

Nhưng có một đặc tính khác, là tính nhân văn của con người và tri thức. Có những con người tìm ra tri thức và phổ biến cho người xung quanh. Có những con người ham tìm hiểu đến tận cùng sự thực đời sống (chân lý) và truyền bá cho xã hội: Đó là các bậc hiền triết thời cổ đại, thời hiện đại ta gọi là các nhà bác học, nhà khoa học, nhà văn hóa…

Như vậy, tri thức là do dân sáng tạo nên. Dân ở đây nên hiểu là toàn nhân loại. Kolodko (Thế giới đi về đâu) cho rằng đến nay, nhân loại có 4 phát minh lớn là:

Biết đi thẳng đứng.

Biết dùng lửa.

Có ngôn ngữ.

Sáng tạo ra bánh xe.

GS. Trần Đức Thảo tìm đến nguồn gốc của ngôn ngữ, nó được phát sinh trong quá trình lao động và đời sống cộng đồng (Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế – 2016).

Có thể khai tâm, khai trí, khai thị cho một người hay một số người. Còn dân trí thì chỉ có thể nâng cao phát triển hay kìm hãm, trói buộc hay tự hạn chế (bế quan tỏa cảng…) và đây lại là vấn đề của chính quyền, chính trị. Nói khai dân trí là không đúng và có tính chất đơn phương, sư phạm, từ trên xuống, từ ngoài vào… có tính chất ban phát, hạ cố, nâng đỡ…

Nâng cao, phát triển dân trí hay ngược lại là vấn đề của chính quyền, chính trị, của Nhà nước từ xưa tới nay. Cá nhân có thể đồng tình ủng hộ hay phản đối; kêu gọi, vận động hay chống lại mà không thể quyết định. Chỗ này phải lưu ý cá nhân nắm quyền đại diện cho Nhà nước thực thi các chính sách văn hóa, dân trí như Đổng Trọng Thư (Độc tôn Nho thuật), hay Phạm Quỳnh (Thượng thư Bộ học Nam triều, tác giả của cái bằng Sơ học yếu lược…), đương nhiên có phần cá nhân của họ nhưng chủ yếu vẫn là đại diện cho chính quyền Nhà nước về chính sách dân trí.

Hiểu như thế để thấy chủ trương khai dân trí của Cụ Phan không phản ánh đúng bản chất và sự vận động, phát triển của quá trình dân trí. Cụ có thể hô hào, kêu gọi “… ai mến tự do thì tôi cho vật báu này: chi bằng học” (Dẫn theo Nguyễn Văn Khánh, Xưa & Nay số 488 tháng 10-2017). Nhưng xem là đường lối cách mạng hòng đưa cả dân tộc thoát khỏi tình trạng bị áp bức nô lệ thì đúng là “trông này hóa kia…”.

Xưa nay Nhà nước nào, chính quyền nào, chế độ nào, chính trị nào cũng phải lo dân trí mà chủ yếu là văn hóa – giáo dục, vì đấy là nền tảng tinh thần của xã hội đó, Nhà nước đó, chế độ đó. Vì thế, đường lối, chính sách, triết lí giáo dục của Nhà nước là yếu tố quyết định dân trí của nó, dù sớm hay muộn. Ý tưởng của một cá nhân – dù là rất siêu việt – mà mong thay đổi được vận mệnh quốc gia là một ảo tưởng. Cụ Phan đã ảo tưởng, ngày nay ta có nên tiếp tục ảo tưởng hay không?

Chính sách dân trí bao giờ cũng quyết định nội dung truyền bá dân trí của chính quyền Nhà nước. Đọc kỹ bài nói của Phạm Quỳnh ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1922 về Vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi… ta lấy làm tiếc cho một tài năng lớn đã đi lạc đường, đã cống hiến tận tâm tận lực trí tuệ của mình cho kẻ thù dân tộc. Nhiều người ca ngợi Phạm Quỳnh chủ trương nền giáo dục quốc ngữ ở bậc tiểu học. Không hẳn vậy đâu. Nói thì dài dòng, nên xin lấy một giai thoại về Nguyễn Hải Thần vậy, rằng trong một lần ông ta phát biểu, quên tiếng mẹ đẻ nên buột ra câu này: tòng pào tòng pào, đ… mẹ cái tòng pào! Nếu tất cả viên chức người Việt trong bộ máy của Nhà nước Bảo hộ đều như Nguyễn Hải Thần thì chắc người Pháp đã phải bán xới từ lâu. Vì làm gì còn có Nguyễn Thân hay Hoàng Cao Khải hay Nguyễn Văn Xuân hay anh em họ Ngô Đình (Lệ Thủy – Quảng Bình)…

CHI BẰNG HỌC thì cũng rất hay. Nhưng học cái gì và học với ai mới là cái cốt lõi. Hệ thống trường Pháp – Việt có từ 1861 đến 1945 có phải là lòng tốt của Nước Mẹ Đại Pháp hay không? Cũng là quá rõ nên không phải dài dòng. Có một hệ thống nhà trường như thế mà 90% dân số Việt Nam mù chữ thì khai dân trí, chi bằng học có phải là ảo tưởng không?

Lịch sử của Hội Truyền bá quốc ngữ (từ 1938) cũng là điều rất hay chứng minh cho ảo tưởng của Cụ Phan. Cụ Nguyễn Văn Tố, một học giả lớn, đang làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ, đã nhận lời của những người Cách mạng, đứng ra làm Hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ. Lần lữa mấy năm chính quyền Bảo hộ mới cho Hội thành lập. Phong trào phát triển rất mạnh. Cụ Nguyễn Văn Tố sau 1945 đã đi theo Cách mạng, được cử giữ những trọng trách ở Quốc hội và Chính phủ. Cụ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp.

Hoạt động của Hội Truyền bá quốc ngữ sau này được tiếp tục phát triển với phong trào Bình dân học vụ theo chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Diệt giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt.

Nhà văn Quân đội Nguyễn Trần Thiết cũng là một minh chứng. Ông là con một gia đình cố nông, theo Vệ quốc đoàn từ năm 15 tuổi, chưa biết chữ. Vào bộ đội được học chữ, với lòng quyết tâm và truyền thống của đất học Hoằng Hóa – Thanh Hóa, ông làm báo rồi viết văn, trở thành nhà văn có nhiều tác phẩm, rất đáng kính trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, bộ đội đi đâu đến đâu đều học và dạy học, cho đồng đội và đồng bào. Người biết dạy kẻ không. Người biết nhiều dạy người biết ít. “Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ / Trăng lên tập họp hát vang nhà…” (Nhớ – Hồng Nguyên). Điều đó cho thấy, chỉ có giải phóng chính trị, nắm được chính quyền thì mới có thể phát triển dân trí được.

Lòng yêu nước của Cụ Phan Châu Trinh là tấm gương thúc dục các thế hệ người Việt Nam đứng lên làm cách mạng giành lại Độc lập – Tự do. Cống hiến của Cụ là rất to lớn. Cụ mãi mãi là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước. Nhưng đường lối, chủ trương cứu nước của Cụ là không đúng và lịch sử đã chứng tỏ như thế. Ngày nay chúng ta vẫn phải noi gương yêu nước thương nòi của Cụ Phan, nhưng mượn danh tiếng của Cụ để tôn vinh những người từng cộng tác đắc lực với kẻ thù dân tộc, từng làm trở ngại cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phủ nhận con đường và sự nghiệp đã thành công của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cũng là của cả dân tộc, trong giai đoạn bản lề của sự phát triển dân tộc, là một mưu toan chính trị, một hành động phản văn hóa và lịch sử.

Nếu Trương Vĩnh Ký giúp người Pháp đồng hóa được dân An Nam thì ngày nay Nguyên Ngọc lấy cái gì để trao giải? Vì sao Hội nghị thượng đỉnh APEC do Việt Nam đăng cai lần thứ hai diễn ra ở thành phố Đà Nẵng đã thành công? Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã phát biểu những lời rất cởi mở về Việt Nam. Đó là câu hỏi và câu trả lời xác đáng cho Nguyên Ngọc và Giải thưởng Phan Châu Trinh!

Hà Nội, 15-4-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 496

_____________

(*) – “Năm 1902 (Nhâm Dần), tôi (Phan Châu Trinh) được đọc sách mới do ông Đào Nguyên Phổ tặng, lấy làm sướng quá và nói: Đây là lúc dùng cái khùng cái ngu này vậy” (Xưa & Nay, số 488 / 10-2017. Trg.14).
- Đọc xong Luận cương của Lênin (Về các vấn đề dân tộc và thuộc địa), Nguyễn Ái Quốc rất vui mừng, xúc động. Một mình trong phòng riêng mà kêu to lên: Hỡi đồng bào bị áp bức, đây là con đường giải phóng của chúng ta… Từ đấy Người tin theo Chủ nghĩa Lênin.
- Xem thêm: Phan Châu Trinh, con người và sự nghiệp chính trị (Tôn Quang Phiệt 1900-1973. NXB Văn học – 2014). Tác giả phân tích rất sâu về thơ văn Phan Châu Trinh bộc lộ khí chất con người rất khác Phan Bội Châu.

Ý Kiến bạn đọc