Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thách thức với lịch sử

(Tiếp theo số báo 494, ngày 19-4-2018)

Tích xưa nói nhiều người thích vẽ rồng vẽ phượng mà ngại vẽ sự vật quanh mình. Hỏi vì sao? Đáp: Rồng phượng là thứ không có thực nên vẽ vời thêm thắt không ai đối chứng được. Còn sự vật quanh mình nó là cái thật, không bịa tạc thêm thắt được. Vẽ đúng sự việc mà hiện được hồn người là sự rất khó. Xem tranh Tôm của Tề Bạch Thạch hay Ngựa của Từ Bi Hồng thì đúng thế. Lý ngư vọng nguyệt, tranh dân gian Việt Nam lại càng đúng hơn.

Thế mà Nguyên Ngọc cùng với Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh, được các đồng thanh khí hùa vào, đang vẽ rồng vẽ phượng, tự tiện thêm thắt, biện bác sai lệch về các nhân vật lịch sử. Đấy là một sự cố ý dối trá, gian lận lịch sử, cần phải làm sáng tỏ.

GS.TS. Nguyễn Văn Khánh, Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội có bài rất dài trên Xưa & Nay số 488, tháng 10-2017 (như đã dẫn kỳ trước), rất tán thưởng sự vẽ rồng của Daniel Hémery mà Nguyên Ngọc rất hoan hỉ đón nhận và nhắc đi nhắc lại, như ông Nguyễn Văn Khánh (NVK) đã dẫn lại trong bài báo trên. Vì vậy chúng tôi tiếp tục làm sáng tỏ sự “đánh tráo lịch sử” của GS.TS. NVK. Vì ông cho rằng phương châm “tam dân” (Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh) “là một con đường, một hướng đi mới nhằm thoát khỏi thân phận nô lệ của một nước bị đô hộ” (Bđd. Trg.16). Và “đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ, dân quyền, dân sinh của Phan Châu Trinh thực sự có tính tích cực, tiến bộ và cách mạng”… (Bđd. Trg.17).

Tư tưởng “tam dân” của Cụ Phan là nguồn cội của “Phong trào Duy tân” đến đâu, các nhà sử học nên làm rõ, nhưng rất rõ ràng, phong trào đó bị thực dân Pháp đàn áp, dập tắt. Các yếu nhân người bị xử chém ngang lưng như Cụ Trần Quí Cáp, người bị đày ra Côn Đảo như chính Cụ Phan Châu Trinh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Cụ Ngô Đức Kế, Cụ Đặng Nguyên Cẩn…

Đông Kinh nghĩa thục mới khởi lên, Cụ Phan Châu Trinh có đến giảng mấy buổi, cũng bị dập tắt ngay. Ấy là chưa nói đến các sự kiện Hà thành đầu độc (1908) và các cuộc chống Pháp khác cho đến 1930, 1940… đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu.

So-495--Anh-minh-hoa---Thach-thuc-voi-lich-su---Anh-3
Huy hiệu Đông Kinh nghĩa thục.

Điều đó chứng tỏ, không giải quyết được nan đề chính là độc lập dân tộc, thì mọi phong trào dù ôn hòa (Phạm Quỳnh), bất bạo động (Phan Châu Trinh) đều đi đến thất bại.

Hợp tác với Pháp, trông chờ vào thực dân Pháp, “ỷ Pháp cầu tiến bộ” càng là sai lầm nghiêm trọng. Lịch sử đã chứng tỏ như thế. Cả trước và sau 1945.

Giải quyết bế tắc của xã hội Việt Nam thế kỷ XX chỉ có con đường Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là đúng đắn và đã thành công.

Các cá nhân và phong trào chống Pháp dù không thành công do không có đường lối đúng như Nguyễn Thái Học “xả thân thành nhân” thì dân tộc kính cẩn kính trọng và phải rút ra bài học từ đây.

Phương châm tam dân, ỷ Pháp cầu tiến bộ là sai lầm và thất bại nhưng lịch sử và dân tộc kính cẩn kính trọng, ghi nhớ tấm gương của Cụ Phan Châu Trinh. Cũng như tấm gương của Cụ Phan Bội Châu. Đấy vừa là sự thật lịch sử, là logic lịch sử, vừa là lương tri của nhà làm sử. Như GS. Hà Văn Tấn từng viết:

“Muốn viết sử, phải biết phương pháp Sử học, và trước hết, phải là người trung thực, chứ không phải là tên cơ hội” (Lịch sử, sự thật & sử học. 1999. Trg.15. Dẫn theo Nguyễn Thị Đông Thái trong bài Minh oan cho Hoàng Cao Khải, Hồn Việt số 33, tháng 3-2010. Trg.16).

Chỉ xin đơn cử Mục thứ nhất trong đường lối “tam dân” của Cụ Phan, là Khai dân trí. Khai dân trí có nội hàm rộng và lịch sử lâu đời, chủ yếu là sự học, truyền bá tri thức để dân có trí tuệ ngày một cao hơn. Bởi phải học ở trường lớp (có giới hạn hẹp trong khoảng 10 năm theo một khung chương trình). Phải học ở sách vở. Đây là tri thức gián tiếp. Sách vở thì mênh mông nhưng người học được thì tùy lực tùy tài, cũng có giới hạn. Phải học ở cuộc đời. Vô giới hạn và rất uyển chuyển: Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư…

Khai dân trí bằng sự học thì Khổng Tử đã nói rồi. Thiên Đại học chỉ có hơn trăm chữ mà ý tứ sâu xa, nghĩa lí vô cùng. Cho đến nay, ai dám bảo là không có tính thời sự. Chỉ mấy chữ Vật hữu bản, mạt; sự hữu thủy, chung (Vật có đầu có cuối (gốc, ngọn); việc có trước có sau) cũng đủ để nghiền ngẫm và vận dụng cho muôn đời, cho muôn người. Năm chữ Trí tri tại cách vật (muốn hiểu biết (trí tri) phải nghiên cứu sự vật). Đây thực sự là nguồn cội của tư duy khoa học, của phép biện chứng sau này.

Nhưng sự học phải có điều kiện. Phải có thầy, có trò, có trường lớp, có chương trình. Thầy phải ra thầy, hối nhân bất quyện (dạy người không biết mệt), trò cũng phải học nhi bất yếm (học không biết mỏi). Còn điều kiện thì ít ra cũng phải có mấy con đom đóm thì Tăng Tử (xin lỗi nếu nhầm) mới đọc sách được. Sau này Maxim Gorki, qua hình tượng cậu bé Pescop cũng thế, phải có cái đít xoong lau sạch hứng lấy ánh trăng, chiếu vào trang sách mà đọc. Ở Việt Nam, sự “khai dân trí” đã có từ lâu đời.

Người đi học và các thầy dạy (thầy đồ) có thể là tự phát, qui mô nhỏ như mời thầy về nhà dạy học cho con em. Nhưng thi cử thì Nhà nước tổ chức. Có khi vua trực tiếp ra đề. Lịch sử khoa bảng Việt Nam có nhiều chuyện rất hay. Cụ Đoàn Tử Quang, là cố nội của nhà văn Đoàn Tử Huyến, năm 80 tuổi còn đi thi, cùng khoa, cùng trường thi với Phan Bội Châu. Cụ Phan đỗ Giải nguyên. Cụ Đoàn đỗ Cử nhân. Đến tuổi ấy còn lều chõng đi thi. Quan trường phải khâm phục, hỏi han. Cụ Đoàn nói vâng lời mẹ mà đi thi, chứ không phải ham hố gì. Vì khoa ấy, làng không có ai đi thi. Các quan viên trong làng đến vận động mẹ Cụ Đoàn bảo Cụ Đoàn đi thi, để làng cũng được tiếng. Cao Bá Quát vì tiếc tài của một học trò, chữa bài thi để lấy đỗ, phạm vào trường qui, suýt bị chém đầu. Ở Việt Nam có những thầy học danh tiếng như Chu An (Chu Văn An), Trạng Trình, Võ Trường Toản (Nam bộ). Nguyễn Đình Chiểu là một thầy đồ nổi tiếng. Các trường ở Hà Nội như của Cụ Vũ Tông Phan, Nguyễn Siêu… rất đông học trò.

Khai dân trí thời phong kiến có lịch sử của nó. Khai dân trí thời đại tư sản có lịch sử của nó. Ở Việt Nam, từ khi Pháp xâm lược, bắt học chữ quốc ngữ, xóa bỏ thi chữ Hán thì tình hình rất phức tạp, đáng cho nhiều công trình khảo cứu. Nhưng chính quyền thực dân quản lí chặt chẽ việc khai dân trí. Nam triều có Bộ học. Dưới tỉnh có Đốc học. Đến huyện có Huấn đạo (như Trưởng phòng Giáo dục quận, huyện bây giờ). Nhưng thực quyền là ở người Pháp. Cụ ngoại tôi được bổ làm Huấn đạo Cẩm Thủy (Thanh Hóa) khoảng 1911-1913, chỉ dụ (như Giấy quyết định phân công công tác bây giờ) phải qua Trà Khâm ký và đóng dấu. Mục đích “khai dân trí” của thực dân Pháp là đào tạo đội ngũ viên chức người bản xứ. Nội dung “khai dân trí” và tổ chức “khai dân trí” của họ nhằm mục đích đó. Họ cũng cho mở trường tư, dạy tư… nhưng nếu có nguy cơ cho cuộc trị an của Nhà nước Bảo hộ thì lập tức bị khai tử, như Đông Kinh nghĩa thục. Cuốn Bàn về tự do của Stuart Mill in ở Anh năm 1859. Đến năm 1871, người Nhật đã dịch và in tới hàng triệu bản. Còn ở Đông Dương, dưới sự “khai dân trí” của người Pháp, có được thế không?

So-495--Anh-minh-hoa---Thach-thuc-voi-lich-su---Anh-2
Lớp học của trường Đông Kinh nghĩa thục.

Ở Thư viện Pasquie (Thư viện Quốc gia bây giờ), có cuốn Tuyên ngôn Cộng sản. Sau một tuần thấy người đọc liên tiếp mượn, họ liền bỏ tờ phích trong thư mục cho… hết đọc. Vậy thì còn chỗ nào cho Cụ Phan “khai dân trí”. Vẫn có đấy. Cụ hô hào kêu gọi mọi người đi học. Kêu gọi đồng bào ai “mến tự do” thì hãy đi học, nên người Pháp cho Cụ ra Côn Đảo mà “khai dân trí”. Khi biết chắc chủ trương của Cụ không hại gì cho “cuộc trị an”, vì Cụ chủ trương “bất bạo động” và “ỷ Pháp cầu tiến bộ” nên họ cho Cụ “ỷ” vào ngay. Thậm chí Thống đốc Nam kỳ ra tận Côn Đảo xem xét cụ thể khả năng phóng thích Cụ, nên họ đã lấy tiếng là Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, thả Cụ về đất liền nhưng bắt an trí ở Mỹ Tho. Vì sao Cụ xin đi Pháp hay Pháp gợi ý cho Cụ sang vẫn còn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Không phải mình Cụ mà còn mang theo người con trai là Phan Châu Dật mới 14 tuổi. Đâu phải chuyện đơn giản như cha con thầy thuốc về quê…

Tại sao Hội Nhân quyền Pháp chỉ can thiệp với Cụ Phan còn các Cụ khác như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn đều phải mãn hạn mới được ra tù? Điều đó nói lên chủ trương “khai dân trí” của Cụ Phan không nguy hại gì cho Pháp, nên chúng “ân xá” cho Cụ.

Truyền thống hiếu học của người Việt Nam có tự ngàn xưa. Tôn sư trọng đạo, nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Sang sông phải bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy… Trâu ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay… Nuôi chồng đi học là truyền thống cao quí của phụ nữ Việt Nam, mà điển hình nhất là thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ bà Hoàng Thị Loan. Việc học chữ Nho thời phong kiến được coi trọng. Văn Miếu thờ Khổng Tử phổ biến đến tận làng, xã… Đâu phải đến Cụ Phan hô hào “khai dân trí” mới là khai mở một con đường, một hướng đi mới để mong đưa đất nước và nhân dân ta thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ (Nguyễn Văn Khánh. Xưa & Nay. Bđd. Trg.16).

Cụ Phan nói: “Không mở mang dân trí, không để cho dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị và học hội, thương hội, diễn thuyết là một liều thuốc hay để trị bệnh” (Bđd. Trg.16).
Đây là chỗ rất ảo tưởng của Cụ Phan. Cụ chưa thấy ra hay lẩn tránh bản chất của vấn đề, tức là của xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của người Pháp. Mở mang dân trí để cho dân giàu thì các ông chủ người Pháp và phong kiến Nam kỳ còn “vi thiềng” vào đâu!

Tháng trước (cuối tháng Giêng âm lịch), tôi có dịp ở tổ dân phố Kiên Thành thuộc thị trấn Trâu Quì, Gia Lâm – Hà Nội, mới biết vùng này gần với Bãi Sậy, xưa là vùng đầm lầy, hoang hóa. Ngay bây giờ, vùng Trâu Quì – Gia Lâm vẫn bị chia cắt bởi nhiều đầm hồ. Dân các vùng Hà Nam, Nam Định… xưa do không chịu được nghèo khổ và nạn cường hào ác bá nên tìm lên đây khai hoang lập ấp, gọi là Ấp Sủi. Khi đất hoang đã thành đồng ruộng thì Chánh mật thám Đông Dương Louis Marti đã cướp đất của dân vùng này lập đồn điền. Gọi là Đồn điền Marti. Chỉ đến trước 1945, bộ máy quản lí đồn điền Marti mới bị tổ chức Cách mạng xóa bỏ. Tôi không rõ các thôn ấp miền Trung miền Nam, mỗi thôn có bao nhiêu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Nhưng riêng Ấp Sủi – tức tổ dân phố Kiên Thành, có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Hàng chục Liệt sĩ qua hai cuộc kháng chiến… Nếu Louis Marti lại để cho dân vùng này mở mang dân trí, giàu có lên, thì chắc chắn không có Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Thì dân vùng này sẽ dựng tượng Louis Marti và Phạm Quỳnh – bạn thân của Louis Marti – đâu phải đến Giải Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh.

Từng có câu: “Nhất Sĩ nhì Phương tam Xương tứ Bưởi” là 4 nhà giàu nhất Việt Nam hồi thuộc Pháp. Cụ Phan có khi chưa biết hết họ nhờ đâu mà giàu như thế. Huyện Sĩ được người Pháp bán như cho những đất “vô chủ” từ đàn áp phong trào Cần vương, vùng đất mông mênh từ Đồng Tháp Mười cho đến giáp Sài Gòn ngày nay. Nhà công tử Bến Tre giàu lên từ đâu và Vụ án Đồng Nọc Nạn ở Giá Rai (Cà Mau) năm 1928 nói lên điều gì? Có người ca ngợi Doanh tài Bạch Thái Bưởi nhưng Cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư trong Hà Nội Xưa và Nay đã cho biết nguồn gốc, bản chất cái giàu của Bạch Thái Bưởi. Điều đó càng được khẳng định qua bài “Chân thư ký hãng buôn” của ông Phan An Sa, nguyên Chánh thanh tra Bộ Văn hóa, con trai nhà văn Phan Khôi, đăng trên Xưa & Nay, vừa được trích đăng lại trên Văn Nghệ TP.HCM, số 494, ngày 19-4-2018. Cụ Phan Khôi từng làm thư ký cho Bạch Thái Bưởi một thời gian nên biết rõ bản chất lừa đảo trắng trợn của “doanh tài” này.

Cụ Phan mắng mỏ thậm tệ (và rất đáng như thế) sự hủ bại thối nát của quan lại Nam triều mà không thấy đó là bộ máy tay sai của thực dân Pháp. Nếu mở mang dân trí để cho dân giàu thì ai làm đồn điền cho Marti. Ai làm tá điền cho nhà công tử Bạc Liêu. Làm gì đến nỗi phải huyết chiến như ở Nọc Nạn năm 1928.

Chắc thế hệ ông Nguyên Ngọc hay Nguyễn Văn Khánh không thể không biết đến Giông tố (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan). Và gần đây, chỉ một truyện ngắn thôi, truyện Anh Thơm râu rồng của cố nhà văn Trang Thế Hy, Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965), đăng lại trên VN TP.HCM… thì biết rõ ràng, chắc chắn phương châm tam dân của Cụ Phan là ảo tưởng, siêu hình, phiến diện, là tư tưởng duy ý chí thu lượm được từ các Tân thư chứ không phải kết quả của cái nhìn thẳng thắn vào hiện thực, của sự khảo cứu thực tế xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hoàn toàn khác với Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc (1925). Lòng yêu nước, sự dũng cảm của Cụ Phan, đã và sẽ được biết ơn, kính trọng mãi mãi. Nhưng đường lối cứu nước, cách thức cứu nước của Cụ là không phản ánh đúng thực tại xã hội Việt Nam. Do đó không đáp ứng được yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam thế kỷ XX. Và đã thất bại. Rất rõ ràng. Sao lại cố tình ca ngợi, vẽ rồng vẽ phượng cho một đường lối, một phương pháp chính trị sai lầm mà lịch sử đã chứng tỏ. Phải chăng GS.TS. Nguyễn Văn Khánh không biết GS. Hà Văn Tấn cũng là đồng nghiệp đồng sự ở Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội? GS Hà Văn Tấn được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh. Theo cố tác giả Hàm Châu trong Trí thức tinh hoa Việt Nam. NXB Trẻ – 2017 thì cuốn Cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của GS. Hà Văn Tấn đọc hấp dẫn như tiểu thuyết. Và đây là cuốn sách được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trong thời gian cuối đời.

Tôi không tin GS.TS. Nguyễn Văn Khánh kém trí nhớ mà chỉ có thể là ông rất tán thành, ủng hộ Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh để đối lập lại, để lãng quên Giải thưởng Hồ Chí Minh, lãng quên con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, mà nguồn gốc sâu xa là niềm tin của Nguyên Ngọc: “Chế độ này thể nào cũng sụp đổ…”. Và Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh là một trong những kịch bản của Nguyên Ngọc!

Xin đừng mơ hồ. Càng không nên mượn văn hóa, mượn danh tiếng của nhà yêu nước Phan Châu Trinh để làm những điều ngược lại lòng yêu nước của Cụ.

Hà Nội, 12-3-2018

(Còn tiếp một kỳ)

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 495

Ý Kiến bạn đọc