Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tết Trung thu, nhớ “Ông nghè tháng Tám”

Tiến sĩ giấy hay Ông nghè tháng Tám là một thi phẩm đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách thơ trào lộng Nguyễn Khuyến (1835-1909) – người được dân gian tôn vinh thân mật “Tam nguyên Yên Đổ”. Ông là một vị đại khoa dưới triều Nguyễn, thân làm quan, nhưng lòng ôm nhiều mối ưu tư yêu nước, thương dân trước cảnh nhiễu nhương của xã hội đương thời.

Là bài thơ chữ nôm làm theo thể thất ngôn Đường luật, ngôn từ giản dị, trong sáng nhưng hình tượng nghệ thuật và nội dung tư tưởng Tiến sĩ giấy lại ẩn chứa nhiều thông điệp mang đậm chất triết lý nhân sinh sâu sắc. Những tâm sự của Nguyễn Khuyến cách đây hơn một thế kỷ vẫn như đang vọng về trong cuộc sống hiện thời, đặt ra nhiều vấn đề về nền học vấn và trách nhiệm của nhân sĩ, trí thức trước vận mệnh, tương lai nước nhà.

Ngày xưa đã có tiến sĩ giấy…

Ở vùng quê Bắc bộ, cứ mỗi độ Tết Trung thu, người ta lại thấy những thứ đồ chơi mà người lớn, trẻ em cùng tạo tác: đèn kéo quân, đèn ông sao, mặt nạ… và nhất là hình ảnh ngộ nghĩnh, bắt mắt của những tiến sĩ giấy. Hình ảnh những ông nghè giấy với đủ sắc màu đa dạng, đung đưa, chao nghiêng trước gió thu, trăng thu, trong tiếng cười vui giòn giã của tuổi thơ, nói lên bao ước vọng, tự hào của người dân xưa về truyền thống hiếu học của cha ông, về khát vọng con cái trưởng thành, học hành, thi đỗ, làm quan, rạng danh gia đình, dòng tộc, xóm làng.

Được gợi hứng từ một loại hình đồ chơi, hay chính thứ đồ chơi dân gian ấy khiến thi nhân giật mình, tỉnh mộng, nhận ra một sự thật cay đắng về cái giả – thật, thật – giả của cuộc đời. Tiếng cười trào lộng, chua cay vang lên ngay những dòng thơ đầu khi thi nhân đối diện với tiến sĩ giấy, đối diện với chính bản thân mình:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Bốn từ “cũng” xuất hiện trong hai dòng thơ, khẳng định một sự thật: sự xuất hiện của tiến sĩ với đầy đủ hình hài, chân dung, tướng mạo, trang phục, cử chỉ, tư thế: cờ, biển, cân, đai, tên gọi ông nghè, ghế chéo, lọng xanh, thân giáp bảng, mặt văn khôi… nhưng chỉ có điều, nó được làm bằng giấy!

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế chéo, lọng xanh
ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!

Với tính chất của dòng thơ “vịnh cảnh vật”, Nguyễn Khuyến đã miêu tả, khắc họa thành công hình ảnh tiến sĩ giấy qua sắc màu, đường nét đặc trưng, nói lên nét đẹp văn hóa trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người dân qua thú chơi dân gian truyền thống. Nhưng ẩn sâu trong những câu từ của Tiến sĩ giấy là bao tâm sự, nỗi niềm của thi nhân. Những danh từ, tính từ, lối nói chứa đựng bao sắc thái tình cảm như: mảnh giấy, sao mà nhẹ?, ấy mới hời!, ngồi bảnh chọe, nghĩ rằng… hóa… thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm thâm thúy, sâu cay của “nhà nho cuối mùa” trước thực cảnh của nền khoa cử và sự bất lực của những văn nhân có tài trước ách đô hộ của thực dân – phong kiến.

Nguyễn Khuyến từng đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình, và để có danh vị cao quý ấy, ông đã phải dùi mài kinh sử, nỗ lực, cố gắng không ngừng mà tên gọi của ông đã nói lên điều đó (Khuyến có nghĩa là cố gắng, chăm chỉ). Với nhà nho, con đường học hành, thi đỗ, làm quan là khát vọng muôn đời để trí quân trạch dân, lo đời, giúp nước, nhưng trước cảnh triều chính nhiễu nhương, chốn quan trường nhiều kẻ xu nịnh, Nguyễn Khuyến đã cáo quan về quê, sống ẩn dật, làm bạn với cỏ cây, mây núi, nhưng không lúc nào thôi trăn trở về vận nước:

Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
(Tự trào)

Xã hội, cuộc đời như một ván cờ, kẻ sĩ như con tốt, tiến không được mà thoái cũng không xong bởi “nước” không còn. Cảnh “chạy làng”, bỏ cuộc giữa chừng của một kẻ “ham chơi”, muốn dấn thân, cho thấy bi kịch đớn đau và nỗi day dứt khôn nguôi của một nhân cách lớn như Nguyễn Khuyến, để rồi mỗi lần nghe tiếng con cuốc kêu, trái tim ông lại dâng trào cảm xúc nhớ thương quê hương da diết:

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ? 
(Cuốc kêu cảm hứng)

Vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, Nguyễn Khuyến ý thức rõ về bổn phận, trách nhiệm của bậc sĩ phu, quân tử trước vận mệnh dân tộc. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, vậy mà giờ đây, khi nhìn tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến như thấy bóng dáng của chính mình. Tam nguyên thật đấy nhưng tình cảnh hiện tại thì chẳng khác gì ông tiến sĩ giấy kia, chỉ là thứ đồ chơi, là con rối cho cuộc đời giật dây. Đây chính là nỗi đau, sự dằn vặt, tự vấn lương tâm, tự trách bản thân, là nỗi thẹn của bậc nam nhi trước cuộc đời: bất lực, buông xuôi mà không thôi thao thức.

Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
(Ngày xuân dặn các con)

Câu kết của Tiến sĩ giấy trĩu nặng tâm tình, một sự thức tỉnh những ảo giác của một người nhiều tâm trạng: “Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!”. Cảm xúc về cái thật – giả; giả – thật, cái hữu danh – vô thực xoáy sâu vào lòng người đọc, gợi nhiều suy cảm về nỗi niềm của một nhân cách văn hóa lớn: Nguyễn Khuyến.

Không chỉ tự trào, tự chế giễu bản thân, qua Tiến sĩ giấy Nguyễn Khuyến còn hướng ngòi bút phê phán một bộ phận không nhỏ những kẻ háo danh, bất tài, vô dụng nhưng lại tìm đủ mọi cách để mua danh, để được dân gian tôn xưng là ông Nghè, ông Cống, và cuối cùng để làm quan đe nạt dân lành.

Trong bối cảnh nhiễu nhương, cũ – mới giao tranh, Á – Âu xáo trộn, nền học vấn khoa cử trở nên “lộn xộn, bát nháo, nhố nhăng” khi chủ nhân của trường thi là quan Tây, bà Đầm (Điều này đã được Tú Xương phản ánh sinh động trong Vịnh khoa thi Hương với những vần thơ trào phúng, hóm hỉnh, sâu cay: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ / Ậm ọe quan trường miệng thét loa / Lọng kéo rợp trời quan sứ đến / Váy lê quét đất mụ đầm ra…). Chính trong bối cảnh ô hợp, nhố nhăng ấy, nhiều loại tiến sĩ giấy xuất hiện mà câu thơ của Nguyễn Khuyến chứa đựng những hàm ý mỉa mai:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!

Cái “nhẹ” ở đây là nhẹ về tri thức, nhân cách, cái rẻ mạt (hời) của tấm bằng vinh danh tiến sĩ, bởi những cái đó được đo bằng tiền. Hiện tượng này đã được Nguyễn Khuyến đúc kết qua hình tượng Đốc học Hà Nam: Ông rằng ông dại với ông điên / Ông dại sao ông biết lấy tiền? / Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp / Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên (Tặng đốc học Hà Nam).

Có thể nói, nét đặc sắc của Tiến sĩ giấy là từ những hình ảnh cụ thể, có thực của đời thường, Nguyễn Khuyến tạo nên một hình tượng nghệ thuật đa nghĩa, nói lên bao tâm sự về thế thái nhân tình. Ẩn sau hình ảnh của tiến sĩ giấy là những tâm tư, day dứt, khôn nguôi của một tam nguyên giàu lòng yêu nước. Và thấp thoáng trong hình tượng thơ là sự đả kích, lên án những kẻ háo danh – bề ngoài khoác tên ông Nghè, ông Cống nhưng bản chất là giả dối, bịp bợm, mị dân để rồi cuối cùng cũng chỉ là thứ đồ chơi, làm tay sai, công cụ cho thực dân – phong kiến.

Tiến sĩ giấy tưởng là tiến sĩ thật, có những thứ bề ngoài là thật nhưng nhìn kỹ thì lại là “giấy”. Đó chính là sức hấp dẫn của bài thơ mà đến nay vấn đề tiến sĩ giấy vẫn vẹn nguyên giá trị và tính thời sự sâu sắc.

… Và ngày nay vẫn còn

Ngày nay đất nước đã hoàn toàn độc lập, nền học vấn thi cử có nhiều đổi mới, khởi sắc; nhân sĩ, trí thức được đào tạo chính quy, được trọng dụng, đãi ngộ bởi họ có nhiều đóng góp lớn cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nền giáo dục – đào tạo cũng còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, trong việc xây dựng nhân cách, tâm hồn con người Việt Nam.

Tưởng rằng tiến sĩ giấy chỉ xuất hiện trăm năm trước, thời Nguyễn Khuyến, nhưng hiện nay, bên cạnh những tiến sĩ thật thì tiến sĩ giấy cũng không ngừng được bổ sung, gia tăng về số lượng!

Tiến sĩ giấy giờ đã trở thành câu nói cửa miệng, một thành ngữ xuất hiện nhiều trong giao tiếp thường ngày với bao hàm ý mỉa mai, hài hước trước một thực trạng đáng buồn về chất lượng của tiến sĩ Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ, năm 2014 cả nước có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó tiến sĩ tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm. Cũng theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo, tính đến năm 2013 có 633 tiến sĩ là giảng viên các trường cao đẳng, 8.519 tiến sĩ là giảng viên các trường đại học. Vậy 15.000 tiến sĩ còn lại đang làm việc ở những đâu? Theo ông Nguyễn Khắc Hùng, nguyên chuyên viên đối ngoại, Học viện Hành chính Quốc gia thì nếu tính từ hàm thứ trưởng trở lên, số người có trình độ tiến sĩ ở Việt Nam cao gấp 5 lần Nhật Bản. Vậy là phần đông những người có học vị tiến sĩ ở nước ta làm công tác quản lý hành chính chứ không tham gia trực tiếp công tác nghiên cứu khoa học, vì thế mà số lượng, chất lượng những công trình, phát kiến khoa học của giới trí thức rất khiêm tốn, thậm chí quá ít so với các quốc gia trong khu vực. Bàn về vấn đề này, Viện Thông tin khoa học (ISI) cho biết trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan (69.637), 1/6 của Malaysia (75.530), và 1/10 của Singapore (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, ba lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái Lan. Với khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ mà số ấn phẩm khoa học của cả nước trong vòng 15 năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của trường Đại học Tokyo (69.806 ấn phẩm) và một nửa của trường Đại học quốc gia Singapore (28.070 ấn phẩm).

Những con số trên nói lên thực trạng buồn, đáng báo động về một bộ phận tiến sĩ Việt Nam. Vì chạy theo thành tích, vì mục đích thương mại mà nhiều cơ sở giáo dục tuyển sinh ồ ạt, đào tạo tràn lan tiến sĩ. Tận dụng những mối quan hệ, những kẽ hở trong quy trình đào tạo tiến sĩ, nhiều người sẵn sàng tìm mọi cách, đánh đổi nhiều thứ quan trọng, thậm chí cả giá trị, nhân cách để có được tấm bằng, để được ghi danh tiến sĩ. Và rồi cái danh ấy sẽ là bàn đạp, là cái cớ để họ tiến thân… đúng quy trình trên con đường quan lộ. Vì thế mà trong xã hội ngày nay, có rất nhiều tiến sĩ nhưng thực ra nhiều kẻ cũng chỉ là tiến sĩ giấy mà thôi!

Thực đấy mà giả đấy, bài thơ Tiến sĩ giấy đã gieo vào lòng người đọc bao câu hỏi lớn về lương tâm, trách nhiệm của kẻ sĩ, trí thức thực thụ trước tương lai, vận mệnh nước nhà!

Nguyễn Huy Phòng
(Viện Văn hóa và phát triển
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 419

Ý Kiến bạn đọc