Tản văn

Tết thời bao cấp

Tết thời bao cấp với cán bộ công nhân viên giống như một ngày hội, được ăn ngon, mặc đẹp, chúc tụng nhau. Nhưng chỉ diễn ra được vài ba ngày.

Năm 1978, tôi cưới vợ và được phân một căn phòng ở khu cư xá Bạch Đằng. Căn phòng này nằm ở đầu hồi – vốn là một trong hai căn của anh Vưu, phụ trách tổ chức Ty Giáo dục Đồng Nai. Và may mắn được tiếp quản một ruộng rau muống xanh tốt do anh để lại. Rau xanh đã có – khỏi phải mua, tôi lại bổ sung thêm nguồn rau bằng cách làm một cái dàn bên hông nhà để trồng bầu. Dàn làm bằng từ những thanh gỗ dài chọn từ củi được duyệt mua tại Nhà máy gỗ Tân Mai. Được cái mát tay, bầu mọc lên xanh tốt, lan tỏa khắp dàn, trái trĩu trịt ăn không hết lại có quà biếu hàng xóm. Thuở ấy đường cát trắng hiếm, chỉ thỉnh thoảng được phân đường táng (đường miếng) và đường cát đỏ, nhai còn thấy lạo xạo, không đảm bảo vệ sinh. Tôi trồng một khóm mía trên mô đất trống bên ruộng rau muống, tốt bời bời, thỉnh thoảng háo chất ngọt lại đẵn một cây, chặt khúc, róc vỏ, tiện ra từng miếng nhỏ cho cả nhà ăn… Hồi đó thịt rất hiếm hoi nhưng cá thì thoải mái, không rõ nguồn từ đâu ra, nhiều khi mỗi nhà được phân phối vài ba chục ký cá mối, cá nục. Ăn không hết, nên mổ cá, rửa sạch rồi phơi trên mái tôn các nhà, chưa vào đến khu Bạch Đằng đã thấy mùi cá tanh nồng lan tỏa khắp nơi.

Thức ăn của gia đình tôi chủ yếu là rau muống luộc, cá kho (cũng chẳng có mỡ mà rán cá). Lương thực mới là gian nan. Chủ yếu là bo bo, sắn gạc hươu, bắp, mì sợi… gạo thì được chút xíu… Nghe tin lương thực về là tức tốc đạp xe ra cửa hàng lương thực sát bờ sông Đồng Nai, nhìn những bao mì chất trong kho như đánh đố người mua. Bao nào mốc bao nào không đây, mọi người xúm đen xúm đỏ, loay hoay.

- Lới ra! Lới ra nào! – Tiếng nói ngọng của chị Khảo cửa hàng trưởng vang lên.

Chúng tôi dạt ra. Chị cầm cái dùi sáng loáng thọc mạnh vào một bao. Từ cái lỗ thủng phun ra một luồng khói, như khói thần thoại. Mốc rồi! May quá, nếu vớ phải bao mì này không biết phải chần bao nhiêu lần với muối mới hết mốc để có thể ăn được. Bo bo thì dễ hơn, không mốc nhưng ăn vào là… đau bụng, còn nếu như nhận ngô thì lại là ngô răng ngựa ngâm qua đêm rồi ninh gần hết lò mùn cưa mà vẫn chưa mềm, còn sắn (khoai mì) gạc hươu thì giã mỏi tay mới có bột làm bánh ăn thay cơm vì lúc đó các nhà sáng chế chưa kịp làm ra những cái máy xay xát tiện lợi như bây giờ. Mỗi lần đi cửa hàng lương thực chở về trên xe cái bao to tướng kềnh càng với hình thù quái dị khi thì sắn gạc hươu khi thì bo bo, khi thì ngô hạt răng ngựa, một ít gạo được buộc túm lại, nhỏ xíu ngoắc trên ghi-đông xe. Gạo trở nên vô cùng quý hiếm. Năm 1979, sinh con gái đầu lòng không có gạo cho vợ ăn để có thêm sữa cho con bú, gạo nấu cháo cho con cũng thiếu, tôi đánh đường xuống An Giang – nơi có bà chị họ ở dưới ấy để mua gạo. Thuở ấy đang ngăn sông cấm chợ nghiêm ngặt. Mua được 10 kg gạo tôi nghĩ bụng nếu bỏ trong bao tải để dưới gầm xe thế nào cũng bị bắt, nên giả vờ như cán bộ đi công tác bỏ vào cái va-li thì có thể qua trạm được. Tôi ngồi trên xe, tay cắp cái cặp, im thin thít, như một ông cán bộ cấp trên đi công cán dưới tỉnh về, tim đập thình thịch hồi hộp chỉ sợ bị bắt thì con mình đói. May mà thoát. Thời bao cấp chẳng những tiền bạc, lương thực, thực phẩm khó khăn mà ngay cả điện, nước cũng ngặt nghèo. Điện phập phù, lúc cao vống lên có khi cháy cả bóng đèn có khi tụt xuống đèn lù mù như đom đóm, mất điện liên miên, căn phòng bít bùng trở nên nóng như lò thiêu. Còn nước mới là khổ nạn, ri rỉ từng giọt hứng suốt ngày mới được một thau nhôm Liên Xô nước do đường ống ở dãy nhà tôi lâu ngày bị nghẹt. Dãy đối diện có nước khá mạnh nhưng họ nuôi heo nên dùng nước cả ngày chỉ có đêm mới rảnh. Sau khi thương lượng cứ 2 giờ đêm thức dậy, bì bõm lội qua một đám ruộng, gỡ dây thép gai bít bùng để cắm ống dùng dây cao su buộc chặt vào vòi và mở nước. Gần sáng thì thùng phuy nước đã đầy đủ dùng cho người và heo trong ngày, chúng tôi mới sang tháo ống, khóa nước. Cứ như thế suốt 2 năm trời, mất ngủ liên miên cũng phải chịu. May hồi ấy còn khỏe.

Tôi kể dông dài cuộc sống ngày thường để nói chuyện Tết. Tết đến! Mặt người nhàu nát vẻ lo âu ngày thường đã biến mất thay vào đó là nét rạng rỡ, tươi cười. Cá thì vẫn đầy ắp, ngoài ra còn được phân phối thêm thịt heo, nếp, đậu xanh, một túi bé xíu hạt tiêu bắc đủ gói vài cái bánh chưng, đường cát trắng, một chai rượu chanh, một gói trà tàu, hai gói thuốc Trị An, một chục hộp diêm. Ra chợ mua thêm củ kiệu về ngâm, dưa về muối. Còn con gà trống và vài con gà mái còn sót lại trong chuồng sau đợt dịch thì được “phân công” rõ ràng: anh gà trống làm nhiệm vụ cúng tế còn 2 chị gà mái được tiếp tục làm nhiệm vụ sản xuất trứng làm thức ăn cho con. Tối 30 đón giao thừa đã tươm tất đủ món: con gà cúng, thịt kho với trứng, dưa hành, củ kiệu, xôi, chè, bát canh miến, đĩa mướp (cây nhà lá vườn) xào lòng gà. Mồng 1, mồng 2 mặc bộ quần áo đẹp đi chúc Tết loanh quanh hàng xóm và bạn bè, đến mồng 3 thì đã vãn Tết. Tiền lì xì trẻ con thì cũng 1, 2 ngàn đồng gọi là. Ra Tết lại điệp khúc rau muống, cá kho, bo bo, bắp bung…

Từ khi bước sang thời kỳ đổi mới đời sống cán bộ công nhân viên khá lên thì ngày nào cũng thành Tết. Bây giờ chẳng còn ai mong đến Tết để được ăn ngon, mặc đẹp. Mà chỉ mong Tết để vui chơi, nghỉ ngơi, thăm thú chúc tụng bạn bè, người thân. Khá giả thì đi du lịch trong, ngoài nước. Bình thường thì về thăm quê. Không đi đâu cả thì cũng lo Tết cho đầy đủ, chúc Tết bạn bè đồng nghiệp, bà con hàng xóm… Dư vị của Tết còn kéo dài đến hết tháng giêng… Nhưng sao cái Tết thời bao cấp vẫn làm lòng ta xao xuyến và mỗi khi nghĩ đến lại ấm lên tình người một cách lạ thường. 

Biên Hòa, 30/11/2015

Bùi Quang Tú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 389

Ý Kiến bạn đọc