Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tết Sài Gòn trong du ký nửa đầu thế kỷ XX

 

Vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, Sài Gòn – Gia Định là miền đất mở, có đầy đủ mọi tiềm năng và điều kiện để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thực sự đã vượt lên, đóng vai trò tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, từng được coi là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Lược qua những trang ghi chép xa gần thuộc thể tài du ký của các tác giả Biến Ngũ Nhy, Ngô Tất Tố, Lãng Tử, Thiếu Sơn, Đông Hồ… có thể thấy được hình ảnh con người, cuộc sống, xã hội vùng đô thị Sài Gòn một thuở một thời…

Dường như có một sự thuận lý mà cũng như là nghịch lý, từ rất sớm người Sài thành đã tỏ ra phóng khoáng, cởi mở trong việc tìm thú du ngoạn trong mấy ngày Tết. Quanh năm sống nơi phường phố nên ngày Tết thảnh thơi cũng cần đổi gió, thay đổi không khí, cảnh quan, tầm nhìn, nơi ăn chốn ở. Giữa ngày đầu năm dương lịch, Biến Ngũ Nhy (Nguyễn Bính, 1886-1973) bày tỏ cảm nhận về ngày Tết kiểu mới trong bài Thủ Dầu Một du ký: “Ba ngày Tết Tây, rảnh rang công việc, nghĩ mình lẩn quẩn trong chốn phồn hoa như Sài Gòn – Chợ Lớn cũng chẳng có thú vui chi, bất quá cũng dạo quanh các phố, khi ngồi rạp hát, khi nhập tiệc rượu, chẳng có chi là thích chí… Bèn nhớ trực lại còn nhiều tỉnh thành trong xứ ta mà mình là người bổn thổ mà chưa hề biết tới. Nghĩ các nước văn minh lấy sự giao du là đều thích ý nên thường hay trẩy sang xứ nầy qua xứ khác, trước là xem phong cảnh, sau là giúp cuộc thương trường, còn chúng ta cứ xẩn bẩn quanh năm trong một chỗ, chẳng chịu vân du các nơi, đến nỗi cuộc thế trong bổn xứ mà cũng chưa thông thuộc” (Công luận báo, Sài Gòn, tháng 1-1921)… Với tâm trạng hướng ngoại tương tự, Biến Ngũ Nhy thuật cảnh Tết Sài Gòn trong Tây Ninh – Vũng Tàu du ký: “Ngày nọ tôi đã hứa rằng hễ có dịp rảnh thì sẽ đi du lịch trong các tỉnh miền trên, trải xem phong cảnh. Mới nói vừa đặng ít lâu thời may gặp dịp Tết Ngươn đế phỉ lòng sở nguyện vô cùng… Ngày 30 và mồng 1, giữ theo nề nếp cũ ở nhà cúng rước ông bà mừng xuân nhựt làm gương cho gia quyến, vì xét mình chưa phải bực văn minh mà đã vượt khỏi lối xưa, lối cũ!”,… rồi sau đó chủ ý thay đổi thói quen, quyết ra đi vãn cảnh Tết: “Sáng mồng 2, tôi định đi Tây Ninh đặng nhơn hội Tết lên viếng Điện Bà luôn thể. Nghĩ vì đi xa xuôi, đường đất chưa thông thuộc, đi một mình cũng chẳng vui nên dắt thằng nhỏ tôi lên 9 tuổi theo cho có bạn. Ra tới Sài Gòn vừa đúng 6 giờ, thấy nơi đầu chợ, xe hơi đưa hành khách đậu rất nhiều. Phía gần nhà giấy xe lửa Mỹ Tho thì có 3 cái xe đưa đi Biên Hòa và Bà Rịa. Phía góc ngó qua nhà thương thí thì hai cái đi Tây Ninh, còn dài theo đó thì xe đi Gò Công và Thủ Dầu Một… Khi xe kéo vừa tới kề thì kẻ đưa xe đã chào mời rộn rực. Dòm lên xe thấy có một cái đã đông bộ hành, tôi liền biểu xách hoa ly và đồ hành lý lên để trên mui, rồi tôi và thằng nhỏ lên ngồi phía trước. Chờ một hồi lâu có thêm được năm, ba người hành khách nữa thì xe liền chạy. Lúc ấy đã 6 giờ 45 phút” (Công luận báo, Sài Gòn, tháng 7-1921)…

So-628--Tet-Sai-Gon-trong-du-ly-nua-dau-the-ky-XX---Anh-1
Xin xăm ngày Tết ở Lăng Ông, Gia Định. (Nguồn: plo.vn)

Nhà văn, nhà báo Ngô Tất Tố vào khoảng những năm 1927-1929 từng nhập cuộc Sài Gòn hoạt động báo chí. Tròn mười năm sau, trong bài Tản Đà ở Nam kỳ vừa là hồi ức, vừa là du ký, vừa là tưởng niệm thi sĩ Tản Đà mới qua đời, Ngô Tất Tố trần tình: “Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà vẫn là một người đứng đầu của thời đại này. Thế thì bao nhiêu dật sự của ông, có lẽ đều là tài liệu để cho người sau khảo cứu về ông. Nhưng những dật sự của ông ở Bắc, bà con chắc đã nhiều người biết cả rồi. Cái mà, ngoài tôi, trong các bạn thân của ông ở đây, ít ai hiểu rõ, có lẽ chỉ là thời kỳ ông ở Nam… Vì vậy, tôi mới chọn cái đầu đề trên kia. Và tôi sở dĩ phải nói ra ngoài lề nhiều thế, chỉ cốt để khỏi có ai phải hỏi tại sao tôi viết về ông Tản Đà có vậy?… Ông Tản Đà vào Nam tất cả 3 lần. Lần cuối cùng tôi không được biết. Lần thứ nhất, cái cớ đã đưa ông đi chỉ là sự thất bại của An Nam tạp chí”. Rồi ông nhấn mạnh câu chuyện Tản Đà vui đùa cùng anh em bè bạn giữa ngày Tết Sài Gòn: “Lại một lần, nhằm ngày mồng 1 Tết âm lịch, anh em tòa soạn Đông Pháp thời báo đến thăm ông Diệp Văn Kỳ. Trong khi ông Kỳ mở các thứ rượu ra uống, ai nấy đều say loáng choáng, cố nhiên say nhất thì ông Tản Đà. Ông Bùi Thế Mỹ đến sau, liền bị ông Tản Đà đùa giỡn đuổi bắt. Cái gác mà chúng tôi ngồi tuy rộng, nhưng những thống, chóe và các đồ đạc bày ra gần chật. Trong lúc ông Tản Đà đuổi theo ông Mỹ, ba, bốn anh người nhà ông Kỳ cứ phải chạy miết theo chân hai ông để giữ những thứ đồ kia, vì sợ các ông ấy va vào nó. Bà Diệp Văn Kỳ ngồi trong vỗ tay cười reo, ông Đào Trinh Nhất thì mủm mỉm cười nụ… Nóng máu là ông Trần Quỳ, thấy ông Tản Đà diễn mãi trò ấy, ông Quỳ cau mày và gắt: “Làm cái gì thế? Người ta coi như cinéma kia kìa”… Ông Tản Đà vẫn không tha ông Mỹ và trả lời ông Quỳ thế này: “Ông phải biết cái thằng trong cinéma nó không biết người ngoài là ai”… Nhất sinh tư tưởng của ông Tản Đà có thể thu vào câu đó. Chính ông đã tự coi ông là một người bóng trong phim cinéma, quốc dân, xã hội, mà đến cả thế giới nữa, đều là những người ở ngoài. Như thế, đối với ông, sự yêu ghét chê khen chỉ là sự thừa. Vì vậy, tôi cũng không muốn nói nhiều về ông” (Tao đàn, số 8, tháng 7-1939)…

Với bút danh Lãng Tử, Nguyễn Thúc Nhuận (Thúc Tề, 1916-1946) trong bài Đêm trừ tịch của Tản Đà trên đất Nam kỳ (Nợ văn. NXB Tân Việt, 1941) kể chuyện những ngày Tản Đà làm báo, du ngoạn, giao hảo với “bạn nhậu” Sài thành (Tùng Lâm, Hoài Nam, Lê Trung Cang…), phải đi vay tiền mà vẫn chơi ngông trong cách mời bạn, đón bạn: “Năm ấy, Tết đến mà tiền lãnh trước của nhà báo T.C bác Ấm Hiếu đã tiêu phăng hết cả rồi. Rộng rãi với nhà thơ quá lắm lúc ban đầu, ông Diệp cuối cùng phải đâm ra không chịu được với cái khí phách giang hồ rất ngang tàng của người giúp việc kỳ khôi ấy… Nhưng ông Diệp cũng không thể chối từ được vào hôm 30, lúc thi sĩ ý chừng không say, chỉ muốn mượn có 5 đồng bạc. Được tiền, nhà thơ của chúng ta tức thời chạy đi mướn một chiếc xe hơi “lô ca xông” khứ hồi, để vào Bà Chiểu, kéo ông bạn rượu Tùng Lâm ra Sài Gòn, cùng ăn Tết với mình”… Tiếp đó là dự kiến chương trình đón Tết lãng mạn: “Đêm ấy là đêm 30, cái đêm nó bắt người tài hoa lưu lạc chạnh lòng nhớ đến quê nhà xa. Không nói ra chứ ai cũng nhận thấy lòng sầu xứ thương quê đang hành hạ lòng nhau. Cái cười lúc ấy nó ngượng ngập và mất cả tự nhiên. Cuối cùng hai người định phác họa một chương trình chơi xuân mà cố nhiên là rượu chiếm địa vị quan trọng từ khoản đầu đến khoản chốt… Vì chẳng lẽ lại uống rượu khan nên ông Tùng Lâm mới lĩnh mạng “vác” số tiền đó đi mua thêm một chai Mai Quế Lộ và một con gà quay. Con người vui tính và hay chiều bạn ấy mặc đồ mát ra đi để ông Ấm Hiếu ở nhà một mình rót rượu sẵn ra mấy ly đầy, ngồi đợi đồ nhắm”… Thế rồi đêm rượu trừ tịch lại gặp sự cố cười ra nước mắt: “Nhưng mua xong, toan quay về thì nhà thơ lại gặp ngay một đám đánh lộn. Vốn tính hiếu kỳ, ông mới xớ rớ đứng lại xem. Trà trộn trong đám đông, con hải âu mà thi sĩ Baudelaire đã nói, thường chậm chạp và ngơ ngác nên lúc lính mã tả áp lại, ông Tùng Lâm không “rút dù” tránh kịp. Thấy anh ăn mặc lôi thôi như quân du thủ du thực, lính bèn điệu ông về bốt cùng theo một lũ chẳng có lá bùa hộ mạng… Quả thiệt, tình thế của bác khi ấy nó chẳng còn nên thơ nên phú chút nào. Phần tức giận hoàn cảnh phần lo nghĩ đến anh bạn rượu đương ngồi đợi mình ở nhà, thi sĩ lòng như tơ chia trăm mối… 12 giờ khuya, pháo nổ. Cái phút trân trọng của lễ Giao thừa, với bác, nó chẳng còn trân trọng quái gì. Cả hương xuân ngào ngạt ở đâu đâu không biết, chớ mà ở chỗ bác đương bị giam hãm chắc nó cũng chẳng dám bay vào… Nhưng tiếng pháo nổ vang ở gần rồi lại ở xa. Cuối cùng cũng giúp cho thi sĩ một quyết định “bạt mạng”. Là đập quách miệng chai cùng xé phăng con gà quay ra để nhắm. Cái công việc ấy lão ta làm một cách âm thầm, tỉ mỉ và không khỏi hằn học, như muốn trả thù tất cả loài người”. “Lúc ấy, ở nhà Tản Đà vẫn bình tĩnh trông đợi, nhưng thấy ông bạn rượu một ngày một mất nên lão cũng tức giận và buồn bã, bèn uống rượu khan một mình suốt đêm. Sáng ra, bác Tùng Lâm bị chú biện đánh thức dậy, bác ngơ ngác như cò trắng giữa đàn quạ quanh mình. Bác ta quên hết, nên chẳng hiểu vì sao mình lại ở đó và lại vạ vật nằm giữa gạch. Tuy nhiên, vì là mồng 1 Tết, nên bác được thả ra cùng một lũ người bất hạnh khác. Về đến nhà, lúc bước vào ngó thấy ông Hiếu say mềm, đương nằm một đống bên cạnh chai rượu đã sạch trơn. Nghĩ buồn cười cho câu chuyện xui xẻo ngày Tết, bác Tùng Lâm bèn lấy đũa gõ vào chai rượu ngâm: Cao hứng vì yêu bác Tản Đà,/ Một chai Quế Lộ một con gà./ Suốt đêm trừ tịch nằm trong bốt,/ Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra”…

Khác với Biến Ngũ Nhy, Thiếu Sơn nhấn mạnh chất lượng cuộc sống đời thường và niềm vui hướng về vùng đất kinh kỳ phương Nam trong bài Đời sống tinh thần của thành phố Sài Gòn: “Tôi không dám so sánh Sài Gòn với Badgad, nhưng Sài Gòn cũng có những tình trạng ta không nên chú trọng ở cái hình thức mà chẳng tìm hiểu cái đời sống tinh thần của nó. Ăn chơi đúng bậc là Sài Gòn. Kiểu cách lố lăng là Sài Gòn. Nhưng ở Sài Gòn người ta cũng chịu cực vì miếng ăn, chịu khổ để nuôi sống gia đình thân tộc, người ta cũng siêng năng hoạt động để nâng cao địa vị và tô điểm cuộc đời… Đối với khách bàng quan thì Sài Gòn náo nhiệt lắm, lộn xộn lắm, bác tạp lắm. Nhưng Sài Gòn vẫn có những nơi thanh tịnh, những đầu óc thanh cao và những tâm hồn đẹp đẽ. Trước đây ở Sài Gòn người ta đã chờ từng kỳ tàu một để đọc những sách vở, báo chí từ Paris gửi qua. Đó là đời sống tinh thần của kinh thành ánh sáng truyền tới cho hòn ngọc Viễn Đông. Nhưng hòn ngọc đó vẫn không tham lam mà giữ lấy một mình. Nó thâu vào rồi nó thoát phát ra ở những báo chí, sách vở, mà khắp nơi người ta đều thiết tha trông đợi… Mỗi lần có dịp đi chơi xa, tôi thường hăng hái lúc ra đi, nhưng lại lật đật mong trở về để hô hấp cái không khí tinh thần của nơi thủ phủ miền Nam đất Việt” (Nam kỳ tuần báo, số Xuân, tháng 3-1944).

Cho đến năm Tết cuối cùng trước Cách mạng mùa Thu 1945, thi sĩ Đông Hồ trong bài Một câu đối Tết giữa thành phố Sài Gòn đã phác vẽ quang cảnh ngày xuân nơi phố thị: “Năm đã sắp tàn rồi. Chung quanh chợ Bến Thành đã rộn lên rồi. Những tờ báo Tết, những tranh phụ bản đã treo giăng giăng trên các gian hàng. Các thứ bánh mứt, các thứ dưa, các thứ trái đã đổ lên như những ngọn núi. Các hàng hoa giấy và những lẵng hoa xinh xinh rải rác khắp hàng phố, trong làn hương người tắm nước hoa thượng hảo hạng như mang lại cho một vùng vốn không có mùa xuân, những cảnh Hàng Châu, Giang Nam, cũng như những bức tranh tứ thời, bức vẽ tứ hữu, lạc khoản những bài thơ, câu đối, nét chữ bay múa sương kính như mang lại cho lòng người ta vốn quanh năm mê mải trong cuộc vật lộn để cầu no ấm, những êm đềm của vận sự và lạc thú cổ thời … Rồi đặc tả niềm vui viết câu đối Tết: “Chàng khách lạ nhìn quanh gian nhà. Chàng thấy lòng mình ấm lại và vui lên. Mùa xuân đã đến trong tâm hồn chàng. Hoa thơm và cỏ đẹp đã nảy nở trong cảm hứng của chàng. Lòng chàng bầng bầng những niềm ý vui vui. Chàng buột miệng nói lên như không từng nghĩ trước. Cái mùi mực và cái chất giấy này giá mà được làm tài liệu cho một câu đối Tết thì đời mới không có sự đáng phàn nàn. Nói câu đó, vì chàng nhìn quanh thư phòng có nhiều chỗ khả dĩ cũng treo được những câu đối dài… Chàng trải ra là hai bức giấy “hồ điệp hoa” mùi thanh thiên điểm nhiễm ẩn ước trên mặt giấy có những vệt mây mùi phấn hồng, trên dưới trục gấm hoàng yến, hai mép giấy viền sa Vân Nam, nhuyễn và dẻo, cơ hồ xé cũng không rách. Bốn ống trúc Tương Giang luồn vào bốn đầu trục gấm, nhấc lên nhẹ như những ống đăng tâm mà chạm vào nhau khua lên những tiếng thanh vui như những nhạc khí bằng chất ngọc gọt. Thực là một tuyệt mỹ phẩm của ai là người biết yêu cái đẹp tinh vi trong vận sự tài hoa… Một tâm hồn nghệ sĩ đã sống mạnh trong người chàng. Chàng quyết rằng trong đời chàng, không khi nào chàng được thưởng thức một vật trân ngoạn vừa kỳ diễm vừa thanh nhã như thế bao giờ. Chàng sẽ tay vuốt lên mặt giấy. Êm và dịu chạy mát lạnh trong người chàng. Chàng rùng mình. Mùi mực xạ ở chỗ mép con ngư bằng đá phun ra đã ngát hơn, thêm nhựa mực đã tràn lên mép ao đặc sánh lại và đen nhanh nhánh dưới mấy ngón tay người mài, những bút ngà vẽ những vòng đều và dịu… Tự nhiên, chàng với lấy quản bút giắt trong ống sứ Giang Tây, thứ bút “ngâm đáo mai hoa”, ngòi mềm tày như lông đuôi thỏ mà viết nên nét gân xương như cành mai già… Nhúng ngòi lông vào ao mực, chàng phóng bút viết. Viết như không nghĩ. Viết như không đoái lại một cái gì. Như mê man, như say sưa, như hoảng hốt. Chàng đã bị chất giấy và mùi mực quyến rũ, huyễn hoặc chàng. Tâm hồn chàng như mê lạc trong chiêm bao phong nhã” (Tri tân tạp chí, Xuân Ất Dậu, tháng 2-1945)…

Trên đây chúng tôi tập trung lược thuật những trang viết cơ bản nhất thuộc thể tài du ký giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX liên quan đến ngày Tết, ngày xuân vùng đô thị Sài Gòn… Các tác giả đều thống nhất đề cao vị thế Sài Gòn là vùng đất mở, có đầy đủ mọi tiềm năng và điều kiện để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thực sự đã vượt lên, thu hút tài năng bốn phương, đóng vai trò đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa để trở thành “Hòn ngọc Viễn Đông”. Đây đồng thời còn là những trang ghi chép bằng chữ Quốc ngữ thuộc thể tài du ký viết về ngày Tết Sài Gòn một thuở, lưu giữ ký ức ngôn từ nghệ thuật trăm năm còn lại đến ngày nay…

LA NGUYỄN HỮU SƠN
(Viện Văn học)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 628

Ý Kiến bạn đọc