Tản văn

Tết này vắng tiếng gậy khua

 

Tháng 9, tháng 10 năm 2020, mấy em tôi ở quê thường điện thoại than:

- Bà nội lúc này lẫn dữ quá, cứ nửa đêm dậy chống gậy khua lộp cộp, càm ràm, làm cả nhà phải dậy vì sợ bà té hay mở cửa đi ra ngoài đường chó cắn, xe đụng… Sáng ra người lớn đi làm, trẻ con đi học đều bơ phờ vì mất ngủ!

Tôi nửa đùa nửa thật bảo:

- Rồi có lúc cầu mong được nghe tiếng gậy khua của bà, ước ao được nghe bà la rầy, trách móc…

Hơn tháng sau, cậu út nhà tôi lại điện thoại hớt hải:

- Anh ơi, bà vừa ăn hết chén phở, đang chơi với cháu nội, cháu cố tự nhiên nói ngọng, đi lảo đảo!

Tôi vội hối cả nhà đưa bà đi bệnh viện vì đó là dấu hiệu của tai biến, đột quỵ…

Nhà tôi ở Đức Trọng, cách Đà Lạt khoảng 40 cây số, chỉ mất chưa đầy một giờ là cụ đến được bệnh viện, nghĩa là còn trong “giờ vàng”, nhưng vì cụ đã 87 tuổi, bị tiểu đường, huyết áp, tim, dạ dày hàng chục năm nên cơ thể suy kiệt dần, dù các bác sỹ BV Hoàn Mỹ Đà Lạt, BV Đa khoa Lâm Đồng đã cố gắng. Cụ nằm mê man, thở oxy và phải lấy nước cơ thể ra bằng ống… Chị em tôi nhìn mẹ đau xót mà bất lực!

Bảy chị em tôi đã may mắn có mẹ từ thuở chào đời cho đến khi trong ngoài 60 tuổi, thành ông bà của các cháu nội, ngoại. Vậy mà giờ đây, nhìn mẹ đã “gần đất xa trời”, chúng tôi sợ hãi viễn cảnh “mồ côi mẹ” y hệt 45 – 50 năm trước khi còn ở tuổi thiếu niên!

Ngày bé tôi được mẹ ôm ấp. Cứ sớm tinh mơ, mẹ lặng lẽ rời manh chiếu còn ấm hơi nồi than sưởi đặt dưới gầm giường để đặt quang gánh lên vai, bước vào một ngày mưu sinh vất vả kiếm tiền nuôi bầy con nheo nhóc. Mẹ thì thào dặn chị Hai chuyện cơm nước, giặt giũ cho các em rồi quẩy gánh, đẩy cửa phòng trọ ra đi giữa sương đêm buốt giá của Đà Lạt, cất tiếng rao trong trẻo, in vào tim tôi suốt hơn 50 năm sau đó: “Ai xôi nóng, bắp luộc không?”… Mẹ đi rồi, tôi mới 3, 4 tuổi bỗng thấy quanh mình trống vắng, lạnh lẽo nên tủi thân òa khóc. Chị Hai phải vỗ về…

Xuan2021--Niem-vui-cua-ba---Bui-Vi-Hoai---Anh-1
Niềm vui của bà – lụa – Bùi Vi Hoài.

Sau ngày thống nhất đất nước, gia đình tôi “vô sản” thứ thiệt nên được đi kinh tế mới đợt đầu (cuối năm 1975) ở vùng núi R’Chai (nay thuộc xã Tân Hội – Đức Trọng – Lâm Đồng). Ngày đó cuộc sống rất khổ cực, cứ nửa đêm, mẹ lại dậy hầm một nồi hạt bắp với vôi ăn trầu rồi hì hục đãi vỏ, đem nấu lại thành bữa ăn sáng cho cả nhà. Quanh năm khoai, bắp hoặc cơm độn; chỉ đến dịp Tết mới được ăn cơm trắng 1, 2 ngày. Mẹ lại tần tảo với gánh rau, cá, trứng, thịt… bán dạo từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Tôi với cậu em kế đang học cấp 2, cứ chiều chiều mỗi đứa một cây gậy băng đường rừng về hướng Phú An – Đại Ninh để đón mẹ. Chiều nào như chiều nào, vừa đi theo con đường mòn len lỏi giữa rừng, men theo bờ suối, tôi vừa lẩm nhẩm bài học thuộc lòng năm lớp 2, lớp 3 gì đó… “Có những chiều khi nắng tắt bên sông / Màu tím hoàng hôn phủ cánh đồng / Tôi đón mẹ về nơi cuối xóm / Chợ chiều tan mẹ bước thong dong / … Có chiều mắt mẹ buồn thăm thẳm / Vì suốt ngày qua chẳng bán được gì / Tôi biết lòng người lo lắng lắm / Mẹ nhìn con chẳng nói năng chi…”.

Anh em tôi vừa đi vừa đập gậy vào các bụi cỏ ven đường để xua rắn, rít. Thường thì đến lúc tắt nắng hoàng hôn, khu rừng quạnh quẽ tối dần thì chúng tôi gặp mẹ. Hai anh em tíu tít đến đỡ quanh gánh trên vai mẹ, mẹ đưa tay áo vá víu nhiều mảnh lau mồ hôi trán rồi hỏi các con chuyện nhà, chuyện học hành… lúc nào mẹ cũng nhắc các con cố gắng học hành…

Đêm 8/12/2020… tôi đi làm về, ăn tối xong ra xe Thành Bưởi ở quận 10, đặt chuyến 21 giờ. Đến 2 giờ sáng thì đến Đà Lạt. Tôi đi bộ từ ngoài cổng Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng vào khoa nội A. Quãng đường chỉ 200m đó làm tôi xúc động. 50 năm trước, khi còn học tiểu học, cứ mỗi độ hoa dã quỳ khoe sắc vàng rực trên khắp các con phố, Đà Lạt lạnh hơn khi sắp Noel, tôi lại bị viêm phổi – sốt, ho, mẹ đã dắt tay tôi vào bệnh viện này. Tôi nhớ ngọn đồi có nhiều thông cổ thụ gió reo vi vu, nhớ dãy nhà của người Pháp để lại với tường màu ngà, các cửa sổ, cửa lớn màu xanh lá; nhớ khu vệ sinh có những két nước treo trên tường cùng sợi xích lủng lẳng để giật xả nước. Giờ thì các khu nhà cổ đã bị phá dỡ để xây dựng một bệnh viện to lớn, hiện đại hơn. Tôi bước đi giữa đêm vắng vẻ, tìm lại từng cây thông cổ thụ của tuổi thơ, từng tiếng gió ru thông khe khẽ, vi vu…

Phòng cấp cứu vẫn sáng đèn nhộn nhịp, những dãy lầu im lặng, sừng sững và ánh đèn vàng vọt đục mờ dưới sương đêm đang rơi trên các lối đi. Lòng tôi bỗng nôn nao, xúc động…

Mẹ tôi nằm trong căn phòng có 5 giường bệnh, đa số là bà con các dân tộc Tây Nguyên, chỉ mình mẹ là người Kinh. Tiếng rên đau đớn, hơi thở khò khè, tiếng gáy mệt nhọc và những câu nói mớ phát ra từ các giường chung quanh làm tôi bừng tỉnh. Trong thế giới ảm đạm và nồng mùi thuốc sát trùng này, người ta hy vọng nhiều hơn hồi tưởng. Giấc mơ chung của những khuôn mặt khổ sở này là rời xa bệnh tật! Đèn trong phòng vẫn sáng để tôi nhìn rõ mẹ. Mẹ được “xuống tóc” như các sư cô để tiện việc điều trị dài ngày. Mẹ nhỏ bé trong màu áo sọc của bệnh viện, khuôn mặt trẻ và thanh thản kỳ lạ. Gần 90 năm làm người, mẹ được 20 năm cuối đời thanh thản, gần 70 năm còn lại là tất tả ngược xuôi, vất vả trăm bề. Một cơn tai biến hồi tháng trước đã giải thoát mẹ khỏi những ưu phiền. Giờ thì mẹ ngả trên tay tôi, nhưng tôi không bao giờ được nghe mẹ nói, cười hay trách mắng con cháu. Mẹ thanh thản như suốt cuộc đời dài dặc chỉ có niềm vui, hạnh phúc…

Tôi vuốt mái đầu trụi tóc của mẹ mà nước mắt chực trào. Hơn nửa thế kỷ trước, khi được mẹ dắt tay đến bệnh viện này khám bệnh, cậu bé như tôi đâu thể hình dung những gì đang xảy ra đêm nay trên khu đồi thông lộng gió, hiu hắt sương đêm. Mẹ cũng viêm phổi như tôi hồi đó, nhưng thêm bệnh tim mạch, bao tử, tiểu đường hơn 20 chấm và liệt nửa người vì đột quỵ não. Mẹ yếu dần theo ngày tháng trên đường về với tổ tiên. Chị em tôi thương mẹ nhưng bất lực trước quy luật sinh – lão – bệnh…

Tôi ước được quay lại ngày xưa, ra khỏi cổng bệnh viện này dù sốt ho, mệt mỏi tôi vẫn nắm tay mẹ tung tăng. Mẹ dẫn tôi đi tắt ra phía Cẩm Đô, mua cho một cái bánh patêsô nóng dòn, thơm ngon rồi nhỏ nhẹ dặn: “Về đừng kể, mấy đứa ở nhà ganh nghe con”… Mẹ nghèo lắm, tiền đâu mua cho mỗi đứa một cái bánh như vậy, mẹ ưu tiên cho đứa đang bệnh thôi!

Tôi sắp 60 tuổi rồi, nghĩ đến cái bánh nóng hổi ngày xưa rồi nhìn mẹ nằm thoi thóp trên giường bệnh, tim thắt lại đau đớn. Tuần trước, mái tóc trọn đời của mẹ vẫn xanh tốt, bạn bè đến thăm cụ kinh ngạc rồi trêu tôi: “Tóc cậu còn bạc nhiều hơn tóc mẹ!”… Tôi nhìn lại giật mình. Tóc mẹ chỉ có đúng một sợi bạc, còn tôi “muối tiêu” hơn nửa đầu! Mẹ từng bảo hồi xưa uống Hà Thủ Ô nhiều quá nên già mà tóc không bạc, mẹ buồn vì mái tóc từ thời con gái đến tuổi gần 90 vẫn cứ “xanh” mà không bạc. Bệnh tật đã cướp mất mái tóc rất lạ đó của mẹ!

Tôi đặt mẹ xuống giường để người nhà trông rồi lặng lẽ xuống lầu, đi ra công viên giữa bệnh viện đứng cắn môi nén nước mắt. Ước gì mẹ trẻ lại chưa đầy 40, còn tôi mới 7, 8 tuổi như 50 năm trước. Tôi sẽ dắt tay mẹ ra cổng bệnh viện, đi ra phố mua thật nhiều bánh cho mẹ thay vì nũng nịu xin mẹ mua cho mình một chiếc bánh…

Trời rét buốt vào dịp sắp Noel, sau đó sẽ là Tết Nguyên đán – ngày mà ba mẹ tôi trông đợi nhất mỗi năm. Anh em tôi dù bận rộn, xa cách cũng phải có mặt đêm giao thừa và sáng mồng 1 để chúc thọ, mừng tuổi hai cụ. Căn nhà từ đường ở quê chật cứng khi hơn 30 con cháu, dâu rể, cháu chắt cùng về ăn Tết, phải trải chiếu la liệt xuống nền nhà mà ngủ. Đêm nào mẹ, bà, cố… của chúng tôi cũng lục cục khua gậy đi vệ sinh hay trông lửa nồi bánh tét ở sân sau. Cụ làm con cháu mất ngủ vì phải dậy bật đèn, lo cụ đi vướng mùng màn vấp té. Nhiều khi nghe cụ càm ràm đứa này, đứa kia ham ngủ không chịu châm nước cho bánh tét đang sôi… Tết này con cháu lại về đông đủ, nhưng sẽ không còn được nghe tiếng gậy khua và lời càm ràm của cụ. Nước mắt tôi ứa ra với viễn cảnh đó. Chợt nhớ hôm qua, ba tôi điện thoại than:

- Từ ngày má mày bệnh, đàn bồ câu của bà cũng bỏ đi bớt, chỉ còn vài chục con!

Tôi nhắm mắt lại, thấy cái sân sau thấp thoáng bóng mẹ ôm rổ thóc vừa rải đầy sân vừa gọi: “Chắp… chắp… chắp… xuống ăn sáng các con ơi!” là cả đàn hơn trăm con bồ câu đủ màu sắc từ mái tole và cây cối xung quanh sà xuống hối hả mổ thóc. Mẹ đứng giữa bầy bồ câu ríu rít đòi ăn khi bình minh vừa ló rạng, y hệt một bà tiên dung dị hiền từ trong bộ bà ba nâu hoặc xám. Chúng thân với mẹ đến mức dám mổ cả những hạt thóc dính trên bàn chân, ống quần mẹ. Tiền mừng tuổi của con cháu, mẹ cứ để dành mua thức ăn cho bồ câu. “Tiếng lành đồn xa” nên bồ câu rủ thêm bạn bè từ nơi khác đến. Từ chục con ban đầu sau lên hơn trăm con…

Từ ngày mẹ bệnh, em tôi, cháu tôi mỗi sớm mai lại ôm cái rổ nhựa màu đỏ ra sân vãi thóc, bắt chước mẹ gọi bồ câu. Nhưng cả bầy cứ đứng mãi trên mái nhà, cành cây mà chẳng chịu sà xuống giành ăn như ngày trước. Rồi chúng lặng lẽ rủ nhau đi bớt, chỉ còn lại chưa đầy 1/3 số cũ. Gà, vịt, ngang, ngỗng sau vườn cũng không còn kêu réo ỏm tỏi đòi ăn lúc sớm mai như những ngày còn thấy bóng dáng của mẹ…

Có phép màu nào cho mẹ ngồi dậy để chồng, con, cháu, chắt, gà, vịt, ngang, ngỗng, bồ câu… cùng vui không? Tôi chắp tay cầu xin ơn trên phù hộ cho mẹ!

12.12.2020

Lại Văn Long
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2021

Ý Kiến bạn đọc