Tản văn

Tên em là dân Cái Bè

Nhân Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3/2020

 

Những năm tháng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở chiến trường vùng Đồng Tháp Mười tôi may mắn được gặp các má, các chị em tưởng như chỉ là người dân bình thường, nhưng lại có những suy nghĩ và việc làm đầy nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha và tình cảm cách mạng cao quý, luôn trân trọng và biết ơn vô hạn các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân.

1. Buổi trưa ngày 19/1/1974, tại ngã tư kênh Năm Ngàn và kênh Bằng Lăng, thuộc trung tâm Vùng 4 – Kiến Tường (cũ, nay là xã Tân Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An). Đây là nơi đóng quân của Ban Chính trị, Trung đoàn 3, Quân khu 2 (cũ, nay là miền Trung Nam bộ). Mấy anh em cán bộ và chiến sỹ cơ quan chúng tôi đang bàn luận sôi nổi về thông tin ngày 18/1/1974, quân Trung Quốc tiến công xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, do phía chính quyền Sài Gòn quản lý. Bỗng cấp trên giao nhiệm vụ cho tôi là Trợ lý tổ chức, đi cùng anh Nguyễn Văn Cư(*), sinh năm 1942, quê xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, Hà Nội, là Trưởng Tiểu ban Tuyên huấn, xuống Tiểu đoàn 1, để nắm tình hình đơn vị sau trận đánh ngày 16/1/1974, tiêu diệt quân địch đóng đồn bốt ở ngã tư kênh 28 và kênh Bằng Lăng, thuộc xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (cũ, nay là tỉnh Tiền Giang). Anh Cư phụ trách chung đợt công tác này. Hai anh em chúng tôi nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, bơi chiếc xuồng ba lá trên dòng kênh Bằng Lăng, quãng đường dài gần 10km. Dọc đường đi, chúng tôi phải phòng tránh các loại máy bay L19 và trực thăng vũ trang trinh sát của địch, nên mãi xế chiều mới tới kênh 28, nơi Tiểu đoàn 1 vừa chiến đấu, đã giải phóng và nay chốt giữ. Sau khi làm việc với Ban Chỉ huy đơn vị, chúng tôi được biết tình hình tư tưởng của cán bộ và chiến sỹ, luôn an tâm, tin tưởng và quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng đánh địch tái lấn chiếm, để bảo vệ vùng giải phóng. Nhưng trong số anh em ta hy sinh, còn một trường hợp Liệt sỹ Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1952, quê ở Hải Phòng, là y tá, bị trúng đạn địch khi đang bơi vượt qua kênh 28, hiện chưa tìm thấy xác, khả năng đã bị dòng nước cuốn trôi ra sông Tiền. Chỉ huy đơn vị bố trí cho anh Cư và tôi ở phía Bắc bờ kênh 28, trong một ngôi nhà dân đã đi sơ tán chưa về. Lúc 5 giờ sáng hôm sau, ngày 20/1/1974, anh Cư gọi tôi thức dậy, hai anh em chuẩn bị bồng đồ, súng đạn gọn gàng. Rồi anh bảo tôi:

- Anh ở nhà lo nấu cơm nước, ăn sáng. Còn chú bơi xuồng sang phía Nam bờ kênh 28, gặp Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 1, nhận nhiệm vụ phối hợp công tác trong ngày.

Tôi vừa bơi xuồng, vừa mải mê ngắm nhìn quang cảnh bình minh đang ló rạng chân trời phía Đông, tỏa ánh sáng hồng trên dòng kênh 28 trong con nước thủy triều đang lên, từ sông Tiền cuồn cuộn đổ về ngập tràn, tung sóng vỗ ì oạp phủ trắng đôi bờ, xanh mướt bóng hàng cây ăn trái, tán lá xum xuê. Tôi thích thú với những mảng lục bình nở rộ hoa màu tím, đang bập bềnh trôi trên nước và định bụng lát nữa sẽ hái một nắm hoa lục bình để chấm với mắm kho quẹt ăn bữa sáng nay. Khi tôi bơi xuồng ra đến giữa kênh 28, thì bất ngờ đụng phải một mảng lục bình lớn xô đến làm quay ngang mũi xuồng. Tôi cuống quýt dùng mái dầm gạt đám lục bình để thoát ra, bỗng đụng ngay phải một xác người chết trôi nổi lập lờ dưới mặt nước. Tôi giật mình hốt hoảng, nhưng kịp trấn tĩnh, dừng xuồng lại và đứng thẳng người lên để nhìn cho rõ hơn, nhận ra đây là xác chết của người đàn ông ở tư thế nằm ngửa mặt lên trời, hai bàn tay co quắp giơ lên và hai đầu gối co lại, nhô hẳn lên khỏi mặt nước, toàn thân ở trần, chỉ mặc chiếc quần đùi màu đen có hai sọc đỏ ở hai bên. Tôi thoáng nghĩ tới trường hợp hy sinh của Liệt sỹ Nguyễn Văn Sơn, y tá Tiểu đoàn 1 và nhớ tới kinh nghiệm dân gian, hôm nay là ngày thứ ba xác Liệt sỹ Sơn sẽ nổi lên trôi về bến cũ. May mà đúng lúc tôi bơi xuồng qua, nếu chỉ nhanh và chậm hơn ít phút thôi là xác liệt sỹ sẽ trôi đi mất. Tôi cho đây là điều linh ứng, nên vội quay mặt vào bờ, gọi to:

- Anh Cư ơi! Xác Liệt sỹ Sơn, y tá Tiểu đoàn 1, đã nổi lên và trôi về đây này.

Mấy cán bộ và chiến sĩ của Tiểu đoàn 1 ở bờ kênh 28 phía Nam cũng nghe thấy tiếng tôi gọi, lập tức họ chạy ra, hô nhau xuống đầy ba chiếc xuồng bơi tới và đứng xoay quanh đám lục bình trước mũi xuồng tôi. Dù xác chết này đã trương to, nhưng họ vẫn nhận ra đây chính là xác Liệt sỹ Sơn, nhờ mặc chiếc quần đùi quân giải phóng. Anh em cùng xúm lại, loay hoay tìm cách đưa xác liệt sỹ về bờ kênh 28 phía Bắc. Tôi cảm thấy hình như mặt trời càng lên cao, thời tiết càng nắng nóng thì xác liệt sỹ càng trương to và nổi hẳn lên trên mặt nước nên mùi tử khí càng bốc lên nồng nặc hơn. Số anh em chiến sỹ mới tỏ vẻ sợ sệt, lóng ngóng dùng những mái dầm đẩy xác liệt sỹ dìu vào bờ kênh. Họ dùng sợi dây dù võng buộc vào hai bàn tay xác liệt sỹ để kéo lên. Nhưng do bờ kênh 28 dựng đứng, nên kéo xác lên mấy lần đều không được. Họ lại phải dùng tấm tôn cũ mượn của nhà dân, uốn thành hình lòng mo, lòn dưới xác liệt sỹ, như cách người tát nước bằng gầu dai đứng trên bờ tiếp tục kéo xác lên. Nhưng vì xác liệt sỹ quá nặng, dây dù bị đứt, cả tấm tôn cũng trôi tuột xuống nước. Đúng lúc đó, tôi thấy có một chiếc xuồng máy từ hướng kênh Ngã Sáu lướt tới. Trên xuồng là một cô gái trẻ, khoảng 20 tuổi, khuôn mặt trái xoan xinh đẹp, đầu đội chiếc nón trắng, mặc áo bà ba màu hồng, quần lụa đen, đang ngồi điều khiển chiếc xuồng máy. Chắc là từ xa, cô gái đã nhìn thấy quang cảnh anh em Tiểu đoàn 1 đang vớt xác Liệt sỹ Sơn để đưa lên bờ, nhưng không được. Nên cô gái liền cho chiếc xuồng máy tấp vào. Cô vứt vội chiếc nón lá đang đội xuống chiếc xuồng chở đầy những bao tải hàng hóa. Cô tròn đôi mắt sáng nhìn anh em chúng tôi, vẻ mặt không bằng lòng và thảng thốt kêu lên lời oán trách:

- Trời đất ơi! Sao mấy anh lại nỡ đối xử như vầy với đồng đội của mình, đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân?

Rồi cô tỏ rõ bản lĩnh qua giọng nói quả quyết:

- Xin lỗi mấy anh nha! Phải dùng cách này nè!

Nói đoạn, cô gái bất chấp nước kênh sâu đầy nguy hiểm đến tính mạng mình và mùi tử khí xông lên ngột ngạt khó thở, cô nhảy tùm xuống kênh, dùng hai bàn tay lùa dưới xác Liệt sỹ Sơn nâng lên và hô lớn:

- Nào! Mấy anh cùng xuống nước đi, nhào zô đỡ dùm em đưa xác liệt sỹ lên bờ kênh, heng!

Lời nói thể hiện tình cảm đầy trân trọng, yêu thương và hành động quả cảm của cô gái trẻ đã có sức hút mãnh liệt anh em chúng tôi lúc đó. Thế là, tất cả 15 cán bộ, chiến sỹ có mặt đều để nguyên quần áo dài lao xuống nước, xúm lại cùng cô gái, nhanh chóng nâng xác Liệt sỹ Sơn đưa lên bờ, sau đó tổ chức an táng tại khu đất vườn ở gần đó. Tôi chăm chú theo dõi anh em làm việc, nên không biết cô gái đã lặng lẽ xuống xuồng đi từ lúc nào (?). Đến lúc nghe tiếng máy Koler nổ giòn, tôi mới nhận ra, nhìn theo cô, xúc động nói:

- Thay mặt anh em đơn vị, anh xin cảm ơn em nhé!

Cô gái ngước nhìn tôi với đôi mắt buồn ngấn lệ, đỏ hoe vì chưa nguôi cơn xúc động. Rồi cô đáp giọng nhỏ nhẹ, khiêm tốn:

- Dạ! Không có chi… Tình cảm Quân với Dân như cá với nước mà anh.

Chiếc xuồng đã ra đến giữa dòng kênh 28, tôi sực nhớ ra điều hệ trọng còn chưa được biết tên và địa chỉ của cô gái, liền hỏi với theo:

- Này cô gái ơi!!! Nhà em ở đâu??? Em tên gì???

- Dạ! Nhà em ở Cái Bè… Tên em là “Dân Cái Bè”… “Dân Cái Bè”… nha anh.

Câu trả lời đầy vẻ tự hào với quê hương có truyền thống Anh hùng cách mạng của cô gái trẻ tuổi xinh đẹp này mang ý nghĩa sâu sắc, đã tan vào sóng nước Cái Bè dạt dào, làm lay động tâm hồn mỗi người lính chiến chúng tôi từ ấy đến giờ.

Sau chiến thắng lịch sử ngày 30/4/1975, anh Cư rủ tôi và một số anh em trong đơn vị nhiều lần về vùng Đồng Tháp Mười để thăm chiến trường xưa. Chúng tôi luôn để ý tìm kiếm cô gái trẻ ngày ấy có tên là “Dân Cái Bè”, nhưng chưa gặp được. Đồng bào địa phương hướng dẫn chúng tôi hãy nhắn tin lên các đài, viết bài in trên các báo, may ra sẽ tìm được cô gái ngày xưa ấy, trong số hàng vạn phụ nữ huyện Cái Bè cùng trang lứa hôm nay.

So-584--Ten-em-la-dan-Cai-Be---Anh-1
Trưởng Tiểu ban Tuyên huấn Nguyễn Văn Cư (người ngồi bìa trái, hàng đầu)
và Tiểu ban Tuyên huấn E3/QK2 (cũ) tại kênh Năm Ngàn, tháng 4/1974 (Ảnh tư liệu).

2. Trung đoàn 3 chúng tôi tiếp tục những tháng ngày chiến đấu đầy hy sinh gian khổ, để xây dựng và bảo vệ căn cứ giải phóng Vùng 4 – Kiến Tường (cũ). Buổi chiều ngày 12/4/1974, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ đi xuống Đại đội vận tải (C22), để kiểm tra công tác tu sửa các ngôi mộ liệt sỹ của đơn vị đã hy sinh trong trận đánh ngày 6/4/1974, chống địch càn quét lấn chiếm kênh Cà Nhíp (nay là xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An), được chôn cất tại Nghĩa trang Liệt sỹ ở ngã tư kênh Năm Ngàn và kênh Tài Lòn. Sau đó, tôi sẽ cùng Ban Chỉ huy C22 tổ chức đón tiếp và hướng dẫn các thân nhân gia đình Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm, sinh 1943, quê ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, nguyên là Đại đội phó Đại đội 12,8 ly (C18) súng phòng không, đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong trận đánh đó.

Trên quãng đường dài gần 4km, tôi đi bộ dọc bờ kênh Năm Ngàn và suy nghĩ mông lung. Sau 8 năm (1966 – 1974), Trung đoàn chúng tôi vào Nam chiến đấu, đã có hàng nghìn cán bộ và chiến sỹ hy sinh. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nên chưa bao giờ được đón tiếp thân nhân gia đình liệt sỹ tới thăm viếng mộ liệt sỹ. Đây có lẽ là trường hợp đầu tiên, nên cấp trên rất quan tâm, chỉ đạo công tác tổ chức đón tiếp và thăm viếng chu đáo, đảm bảo đúng với chế độ chính sách.

Nhờ được cấp trên gọi điện thoại thông báo trước, nên khi tôi tới nơi đã thấy Đại đội trưởng C22 Nguyễn Văn Phái, sinh năm 1938, quê xã Vĩnh Lại, cùng huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú (cũ, nay là tỉnh Phú Thọ), đứng đón chờ tôi ở bờ kênh. Anh vui vẻ cho biết: Dù đơn vị anh nhận lệnh rất cận, nhưng sáng nay anh đã tổ chức C22 kịp thời đào đắp đất tu sửa xong 12 ngôi mộ liệt sỹ ở đây. Trên các ngôi mộ đều có cắm bia, bảng ghi rõ thông tin họ và tên, năm sinh, đơn vị, quê quán và ngày hy sinh của các liệt sỹ. Rồi đón tiếp chu đáo 2 chị là vợ và em gái Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm. Nay anh chờ tôi xuống kiểm tra xong, sẽ mời họ ra thăm viếng mộ liệt sỹ.

Tôi truyền đạt với anh Phái ý kiến chỉ đạo của cấp trên: Lễ vật phúng viếng phải có hương, hoa, lời viếng ngắn gọn và phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Anh Phái liền phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ và chiến sỹ đơn vị thực hiện ngay nhiệm vụ mới này. Rồi anh cùng 10 chiến sỹ mang theo vũ khí, súng đạn, đưa tôi ra kiểm tra Nghĩa trang Liệt sỹ cách đó hơn 100m. Đây là khu đất trống, trên bờ một đìa cá của nhân dân địa phương, do chiến tranh nên lâu nay đất bỏ hoang hóa, mọc đầy cỏ lau lác, nay được C22 phối hợp với nhân dân ấp kênh Cà Nhíp, lựa chọn cải tạo thành Nghĩa trang Liệt sỹ. Tôi hiểu, vùng đất Đồng Tháp Mười về mùa khô, nắng nóng, làm lớp đất mặt bị chai cứng, nứt nẻ, nhưng sâu xuống khoảng 0,50m đất vẫn toàn sình lầy nước đọng. Do đó, các ngôi mộ liệt sỹ chôn cất ở đây đều rất nông, chủ yếu là lấy đất đắp nổi, cao, to bên trên. Tôi kiểm tra đã thấy đạt yêu cầu của cấp trên đặt ra, nên bảo anh Phái cho anh em thắp hương, cắm những bông hoa sen thơm ngát và chắp tay cúi đầu vái lạy trước anh linh các liệt sỹ. Rồi mới cho anh em về đón các thân nhân gia đình Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm ra thăm viếng mộ liệt sỹ.

Chính trị viên Đại đội C22 Bùi Quang Hào, sinh năm 1942, quê xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, cùng tỉnh Vĩnh Phú (cũ, nay là tỉnh Phú Thọ), giới thiệu với tôi 2 người phụ nữ đứng sau anh. Tôi đoán 2 chị đều xấp xỉ 30 tuổi, gương mặt phúc hậu, nước da trắng, lưu dấu một thời xuân sắc của những người con gái miệt vườn xứ dừa Bến Tre. Họ có dáng người thon thả, nhanh nhẹn, trong bộ đồ bà ba đen cũ bạc phếch, đầu chít khăn tang trắng, mái tóc búi gọn gàng sau gáy, cổ quấn chiếc khăn rằn, nhìn tôi với đôi mắt mọng nước, đỏ hoe và thể hiện rõ nỗi khổ đau tột cùng trong lòng mỗi người. Chị đứng trước là chị Năm, vợ của liệt sỹ, vẻ nhiều hơn vài tuổi, tay xách chiếc làn nhựa bên trong đựng đầy đồ lễ, có đủ hương, hoa, quả, chai rượu, gói trà và mấy gói thuốc lá. Chị đứng sau là chị Sáu, em gái của liệt sỹ, tay cũng xách chiếc làn nhựa, bên trong đựng 2 con vịt quay màu vàng sẫm, được gói giấy báo và thêm chiếc đĩa nhựa to màu đỏ. Anh Hào nói tiếp:

- Sau ngày anh Bé Năm hy sinh, gia đình các chị đã được cơ sở địa phương ở đây tìm cách báo tin và móc nối giúp đỡ để thực hiện được chuyến thăm viếng này. Nay gia đình có nguyện vọng đề nghị đơn vị tạo điều kiện cho các chị đưa thi thể liệt sỹ về an nghỉ ở quê nhà. Tôi trả lời các chị do hoàn cảnh chiến tranh, nên đơn vị chưa thể đáp ứng được nguyện vọng đó, mong gia đình hết sức thông cảm. Hơn nữa, đến ngày toàn thắng, đất nước hòa bình, thống nhất, tất cả các ngôi mộ liệt sỹ của các đơn vị nhỏ lẻ như thế này sẽ được tổ chức cất bốc, di dời, quy tập vào Nghĩa trang Liệt sỹ chung của địa phương, để nhân dân ta đời đời thờ phụng, tưởng nhớ công ơn.

Tôi chưa kịp nói gì thêm, thì đã thấy 2 chị xăm xăm bước tới ngôi mộ có gắn tấm biển gỗ ghi tên Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm. Rồi họ cùng ngã vật xuống đất, choàng tay ôm lấy ngôi mộ và khóc gào lên thống thiết, vật vã, đau khổ, khiến tất cả anh em cán bộ và chiến sỹ chúng tôi có mặt đều nghẹn ngào rơi lệ. Thế là, chúng tôi quên hết mọi nghi lễ tổ chức, cùng nhau xúm lại đưa tay đỡ hai chị dậy và lựa lời an ủi, chia sẻ một hồi lâu họ mới tạm nguôi ngoai. Anh em giúp hai chị bày đặt các lễ vật của gia đình mang theo lên trên ngôi mộ Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm và thắp hương cho tất cả các ngôi mộ liệt sỹ xung quanh, tạ thành những làn khói trắng cuồn cuộn nghi ngút bốc lên cao, lan tỏa quấn quýt. Hai chị ngồi khóc sụt sùi lầm rầm khấn bái. Bỗng một cơn gió đông nam ù ù thổi tới, làm nghiêng ngả hàng cây tràm, cây trâm bầu, khiến hàng nghìn chiếc lá vàng, lá xanh rơi lả tả và dòng kênh Năm Ngàn tung sóng nước trào lên, chao nghiêng đôi bờ, như tấu lên bản nhạc trầm hùng của lời ru các linh hồn liệt sỹ yên nghỉ trong lòng đất Mẹ quê hương. Thế rồi bỗng tất cả các bó hương trên các ngôi mộ liệt sỹ cùng bốc lửa cháy xèo xèo. Chúng tôi im lặng đưa mắt nhìn nhau và cùng miên man suy nghĩ về một cõi tâm linh sâu thẳm.

Xế chiều ngày hôm đó, chúng tôi mới hoàn thành xong nhiệm vụ và rời Nghĩa trang Liệt sỹ, rồi lưu luyến tiễn hai chị trở về kênh Cà Nhíp. Anh Phái có ý cử một tổ chiến sỹ đơn vị, mang theo vũ khí đi cùng để bảo vệ các chị. Nhưng chị Năm một mực từ chối và nói đã có cơ sở địa phương đưa đón rồi, các anh đơn vị hãy yên tâm.

Bất ngờ, lúc 5 giờ sáng hôm sau, ngày 13/4/1974, tôi thấy người chiến sỹ canh gác của C22 hốt hoảng chạy vào báo cáo với Ban Chỉ huy đơn vị:

- Đêm qua, chúng em đứng gác, phát hiện thấy có ánh đèn pin ở Nghĩa trang Liệt sỹ. Nhưng do chủ quan, cho là ánh đèn đó của người dân đi soi cá như mọi đêm nên sáng nay chúng em ra kiểm tra, mới thấy ngôi mộ Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm đã bị ai đó đào bới đất tung lên, lấy thi thể liệt sỹ mang đi mất rồi.

Tôi vô cùng bàng hoàng, sửng sốt, suy nghĩ và tự hỏi: Ai đã cả gan làm cái việc động trời này? Bởi thi thể liệt sỹ đã chôn xuống đất được 6 ngày nay, bắt đầu phân hủy, sặc mùi tử khí. Dù là cánh lính chiến từng trải, con trai như chúng tôi, mới chỉ nghĩ đến đã thấy sợ, nổi da gà rồi. Huống chi là hai chị em nhà chị Năm. Chắc họ phải là những người có trái tim gan góc lắm mới dám làm việc này. Tôi vội vàng cùng anh Hào, anh Phái và một số anh em đơn vị chạy ngay ra Nghĩa trang Liệt sỹ: sự việc xảy ra đúng như lời người chiến sỹ đã báo cáo. Anh em chúng tôi sững sờ giây lát, rồi đi tìm dấu vết xung quanh, chỉ thấy dấu chân của hai người in đậm lối mòn của cánh đồng cỏ khô và một số đoạn dây nilon có lẽ để dùng quấn quanh chiếc tăng nilon bao bọc thi thể liệt sỹ còn rơi sót lại. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi nhận định: Chính chị Năm và chị Sáu đã làm việc động trời này, rồi khiêng thi thể Liệt sỹ Nguyễn Bé Năm vượt qua cánh đồng cỏ khô dài gần 3km về kênh Cà Nhíp. Sau đó chị em chị Năm mới dùng xuồng máy chở về quê hương Bến Tre.

Những ngày sau đó, khi hay tin này, toàn thể cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 3 chúng tôi đều bàn luận xôn xao về vụ việc xảy ra. Chúng tôi đều nhận thức chung một điều: Chỉ có tình yêu thủy chung, son sắt của người vợ đối với người chồng là chiến sỹ Quân giải phóng và tình cảm máu mủ ruột thịt của anh em trong gia đình cách mạng, mới tạo nên lòng can đảm của những người phụ nữ miền Nam Anh hùng thành đồng Tổ quốc.

Thời gian đã 46 năm trôi qua (1974 – 2020), từ quê hương Phú Thọ, tôi viết lại những kỷ niệm chiến đấu sâu sắc này, để bày tỏ lòng kính phục, biết ơn và mong ước được gặp lại những người phụ nữ có tên trong bài viết. Hình ảnh các má, các chị, các em ngày xưa ấy, vẫn lung linh sáng mãi trong tâm trí tôi, để giúp tôi không ngừng tu dưỡng, phấn đấu và rèn luyện, giữ gìn phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, suốt đời chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân.

Bùi Ngọc Quế
(Hội LHVHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 584

——————–
(*) Đồng chí Nguyễn Văn Cư, sau 1975, là Thạc sĩ, nguyên Trưởng khoa Kinh tế Phát triển của Học viện Chính trị khu vực 2, thuộc Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh. Năm 2005, nghỉ hưu, ở phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, TP.HCM.

Ý Kiến bạn đọc