Truyện ngắn

Tên biệt kích cuối cùng

Đã hơn một tuần nay ông cụ Vượng không đi bán vé số dạo. Người ta kháo nhau: Bệnh ấy thì trời kêu ai nấy dạ. Mấy bà đi chợ nhai trầu bỏm bẻm than thở: Khổ thân ông lão, giờ nằm đấy… rồi mai mốt ai trông nom thằng Khờ?!

Con hẻm ấp Quảng Đà dường như vắng lặng hơn mọi hồi, bởi vắng tiếng rao khàn khàn, đùng đục của ông cụ Vượng. Bữa nào cũng thế, cứ tầm sáu rưỡi sáng là ông dắt chiếc xe đạp cũ kỹ, cầm xấp vé số trên tay vừa đạp xe vừa gõ chiếc kẹp vé số vào ghi-đông phát ra những tiếng kêu cặp cặp… cặp cặp. Thi thoảng lắm ông mới cất giọng: “Số ê…đê…”, nghe khó nhọc như tiếng cà vào nhau của bộ sên nhão lâu ngày. Con hẻm toàn dân lao động nghèo, chả mấy khi ông bán được tấm vé nào. Vậy nhưng mỗi khi bước ra khỏi nhà ông vẫn cất lên tiếng gõ đều đặn, như thể thói quen cố hữu. Khách mối của ông là những chủ sạp bán buôn ngoài chợ, hoặc vài người nhàn hạ nhâm nhi cà phê sáng dọc con lộ trên thị trấn.

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông đạp xe bán dạo đều đặn, đến nỗi không cần xem đồng hồ nhưng khi thấy tiếng gõ cặp cặp… cặp cặp trên đường về của ông cụ là tôi biết ngay đã đến giờ đưa con đến trường. Những hôm gặp khách rủng rỉnh mua nhiều, ông bán hết sớm và y rằng ghé qua nhà tôi, khi thì bụm trà bắc thơm ngon, khi thì cái bánh bông lan cho thằng nhóc. Tôi vốn chẳng mơ trúng số bao giờ, nhưng để đáp lễ ông, tôi cũng mua giúp ông vài tấm, rồi tiếp chuyện ông, những câu chuyện tự cổ chí kim, mà có lẽ tấm vé số chỉ là cái cớ để ông tìm đến với tôi để dốc bầu tâm sự. Nhiều lần vợ tôi nhăn nhó: “Ông cụ bán vé số kiếm từng đồng, mà bố con anh nhận quà hoài, em thấy tội lắm”. Nhưng nào tôi có muốn nhận đâu, ông cụ cứ tìm đủ lí do, hôm thì bảo thằng cháu ở Sài Gòn mới về cho. Hoặc… hôm nay gặp bà bán bánh bông lan ế nên đổi cho tôi lấy số… Tôi hiểu ý ông nhưng cũng thấy áy náy mà chẳng biết làm sao. Người ta có quý mình mới tới chơi chớ. Ở đời giàu sang chắc gì đã có bạn tri kỷ tri âm. Vợ tôi cười mỉa: “Anh với ông lão là tri kỷ chắc, đồng niên chả phải, đồng nghiệp cũng không. Khéo mà bị vạ lây đấy…”. Tôi ậm ừ cho qua chuyện. Cả ấp này ông lão có chơi với ai đâu, nói đúng hơn, chẳng ai muốn qua lại với gia đình có người tham gia chế độ cũ. Tôi cũng không hiểu tại sao mình lại thân với ông cụ, lúc đầu chỉ là vài ba câu chuyện xã giao, dần dà tôi thấy ông cụ có phần tồi tội, nên hỏi thăm, an ủi, rồi thân quen lúc nào không hay. Nhà ông Vượng ở cuối hẻm, mỗi lần ngang qua nhà tôi, ông rà rà bàn chân mang đôi dép lào mòn vẹt, một tay lái xe, tay kia cầm xấp vé số gõ cặp cặp thay cho lời chào. Nghe tiếng gõ tôi biết ông buồn hay vui. Hôm bán được nhiều, tiếng gõ khoan thai từng nhịp. Bữa nào ế ẩm tiếng gõ lạc lõng, rời rạc chìm theo bóng ông lão xiêu vẹo nghe buồn mênh mang…

Nguoi---son-dau---Tran-Minh-Tam
Người – sơn dầu – Trần Minh tâm.

Người trong ấp kể, trước đây ông Vượng đất đai nhiều bao la, có cả nhà mặt tiền mấy chục thước ngoài thị trấn. Nhưng thằng con dị tật bẩm sinh đã khiến ông bà khánh kiệt tài sản vì chạy chữa khắp nơi. Để có tiền trị bệnh cho con, ông cắt đất bán dần. Thằng Khờ đã ngoài 30 mà như đứa con nít. Ấy là nghe mọi người kêu thế, chứ chẳng ai biết tên thật của nó là gì. Cái mặt nó lúc nào trông cũng đần đần, mắt trợn thao láo, không biết nói, không biết cười, chỉ gào lên vật vã mỗi lần lên cơn động kinh. Những lúc như thế nó lùa đánh cả bố đẻ thừa sống thiếu chết. Bà con lối xóm mỗi khi nghe tiếng vỡ chén bát loảng xoảng, tiếng gào khóc của nó lại nháo nhào chạy sang giúp ông trói nó lại chờ qua cơn mới thôi. Căn nhà của ông cứ bán rồi mua giật lùi dần từ ngoài phố về trong hẻm, rồi giật lùi mãi đến cuối cùng mà tiền vẫn không đủ để chữa trị cho thằng Khờ. Biết rằng chẳng thuốc gì chữa được căn bệnh quái ác nhưng ông vẫn không bao giờ hết hy vọng chạy chữa cho nó. Sức cùng lực kiệt, ông cụ Vượng bán vé số sinh nhai, và ngày nào ông cũng để lại cho mình một vé, ông nói với tôi: Biết đâu trời thương cho một tấm độc đắc, khi đó ông lại tiếp tục chữa bệnh cho con… Mấy người bàn: Hay là đưa nó vào nhà thương Biên Hòa? Ông lắc đầu, khuôn mặt già nua nhăn nheo, mắt ầng ậc nước.

Tôi biết ông Vượng cũng vào một ngày thằng Khờ lên cơn động kinh như thế. Ngày ấy gia đình tôi mới chuyển đến cư trú nơi ấp Quảng Đà. Giữa trưa, trời nắng như đổ lửa. Nghe tiếng la hét, tiếng chân giậm bình bịch từ phía căn nhà cuối hẻm, tôi tò mò chạy xuống coi. Gã thanh niên tóc tai bờm xờm như vượn, chân mang cùm đang cầm khúc cây đuổi đánh một ông già. Tôi sôi máu lao vào giật phăng cây gậy, xô hắn té sấp. Nhưng lạ thay ông lão lật đật chạy lại đỡ thằng mất dạy ấy lên rồi xuýt xoa ra chiều xót xa lắm. Ông lão ngẩng mặt nhìn tôi đoạn nói giọng đứt quãng: “Cảm phiền thầy, cháu nó không biết gì đâu”. Nói rồi ông cùng vài người hàng xóm dắt nó vào cái cũi ở chái nhà. Sau tiếng khóa lách cách, nó nhổ phì phì như rắn hổ mang, mồm méo xệch, rớt dãi trắng xóa như bọt xà phòng. Mấy bà ngoài ngõ rỉ tai tôi: “Con ổng bị thần kinh đấy. Chú coi chừng…”. Sáng hôm sau, lúc ông cụ đạp xe đi bán vé số qua nhà tôi, ông dừng lại gõ cặp cặp, khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn sâu hoắm nở nụ cười méo mó. Tôi không hiểu ý chừng ông cụ chào mời vé số hay trách cứ. Một giọng nói trầm đục nửa Nam nửa Bắc:

- Bữa nay thầy ở nhà?

- Vâng, chào bác. Mời bác vô uống nước.

- Xin phép thầy, tôi phải đi cho kịp giờ.

- Chuyện hôm qua mong bác bỏ quá cho… chả là…

- Ấy không. Thầy mới đến nên chưa biết đó thôi, tôi khổ lắm…

Ông cụ chực khóc. Tôi chẳng biết nói sao cho phải. Nhìn tấm thân gầy guộc trên chiếc xe đạp cũ kỹ lảo đảo tiến về hướng đầu giao lộ, tôi thấy lòng mình nao nao.

Sau vài lần thằng Khờ lên cơn động kinh, tôi đã quen với cảnh nhốn nháo ở căn nhà cuối hẻm. Lần nào cũng vậy, tôi chạy đến nhẹ nhàng giúp ông khống chế thằng con tội nghiệp. Qua một hồi vật lộn với nó để đưa vào cũi, ông lão mời tôi ở lại chơi, như để cảm ơn, hay tâm sự nỗi đời của lão cũng không biết nữa. Lúc đầu, tôi ngồi một chút cho phải phép. Lâu dần, thấy tâm sự của ông lão đầy uẩn khuất… tôi đâm ra ghiền nghe chuyện của lão. Có người bảo, cán bộ đảng viên ai lại chơi với lính Ngụy. Có người thì cho rằng tôi đang lấy cớ để theo dõi lão. Mặc kệ thiên hạ, thời buổi này rồi còn theo dõi nỗi gì, hơn nữa một người già khú đế như lão… Hồi mới quen, nghe lão chào tôi bằng thầy, tôi lại tưởng ý chừng lão kêu như vậy vì vợ tôi là giáo viên. Sau lão bảo, hồi trước giải phóng, sỹ quan quân lực Cộng hòa ai cũng được kêu bằng thầy hết ráo. Có xe Jeep riêng chạy tối ngày. Họ oai lắm chứ không… hiền lành như thầy đâu.

Giữa dòng người xuôi ngược, ông cụ Vượng vẫn lặng lẽ đạp xe đi bán từng tờ vé số. Và những câu chuyện giữa tôi và ông cụ được chắp nối sau từng cơn điên dại của đứa con tật nguyền.

Ngày ấy, lúc vừa mới chào đời còn đỏ hỏn, cha mẹ cu Vượng đã chết trong nạn đói tháng ba Ất Dậu. Ông chú họ ở Bùi Chu nhận làm con nuôi. Hiệp định Giơ-ne-vơ, gia đình chú thím mang theo Vượng vào Nam. Tiếng súng nổ khắp miền Nam cho Vượng biết hắn đang sống trong thời buổi chiến tranh. Đứa trẻ mới lớn như Vượng sớm chứng kiến cảnh bắn giết, bắt bớ giữa hai làn đạn. Đến một ngày Vượng bị bắt lính. Năm ấy Vượng đã ngoài 20 tuổi, gã được chọn đưa vào học trường biệt kích Nha Trang.

- Vậy lúc đó bác có biết lính biệt kích là gì không? – Tôi hỏi.

- Tôi đâu có rành. Thời ấy trai trẻ tang bồng, lính gì thì cũng thế thôi.

Ông cụ Vượng vốn không hút thuốc. Nhưng khi kể chuyện đời lính của mình, ông xin tôi một điếu, lặng lẽ nhả khói dày đặc. Ông bảo: “Thầy ạ, lúc đầu khi biết thầy là quân giải phóng, tôi ngại lắm. Nhưng khi tiếp chuyện thầy, tôi mới biết thầy rất… thông cảm với tôi. Ngày xưa, nếu gặp ông thiếu tá như thầy, tôi đâu dám nhìn mặt”. Tôi cười xòa. Nhớ lại mấy năm trước khi vợ tôi còn dạy học ở Xuân Lộc, tôi cũng tình cờ quen vài ông lính chế độ cũ. Chả biết thực hư thế nào, các ông ấy khi biết tôi là bộ đội đều giải thích giọng ráo hoảnh: “Hồi đó tớ là lính quân y thôi mà”. Hoặc như: “Tôi làm ở văn phòng, có được bắn viên đạn nào đâu”… Còn lão Vượng đây, lão thừa hiểu tôi rành rẽ lính biệt kích thám báo ác ôn như thế nào. Vậy mà lão vẫn nói ra tất cả. Lão là một con người thành thật đấy chứ! Có lần lão hỏi tôi: “Thầy được học nhiều, thầy có tin ở thuyết nhân quả của nhà Phật không?”.

Ra khỏi quân trường, Vượng chính thức trở thành tên lính biệt kích chuyên hoạt động ở vùng căn cứ Chiến khu D mà cấp trên cho gã biết đấy chính là căn cứ của Khu ủy miền Đông Nam bộ.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Rừng núi chiến khu D trở nên vô cùng nguy hiểm với bất cứ lực lượng nào của quân đội Cộng hòa. Toán biệt kích của Vượng đã mất mạng 4 tên. Không còn lính để bổ sung nữa. Nhưng Sài Gòn vẫn mạo hiểm đổ những toán biệt kích cuối cùng như một canh bạc sắp tàn mà phần thua đã hiện hữu trong gang tấc. Hôm ấy, cả tiểu đoàn của gã loan tin: Buôn Ma Thuột đã thất thủ. Gã thấy từng gương mặt của các cấp chỉ huy nhăn nhó, lo âu. Lệnh thiết quân luật kéo dài đằng đẵng. Rồi trực thăng tới tấp bốc quân đi đặc vụ. Có đi, nhưng chẳng thấy chuyến nào trở về. Vượng nín thở chờ đến lượt mình. Gã cầu nguyện hàng đêm… Rồi Vượng nghe tin quân Bắc Việt đang tiến nhanh như thác đổ. Gã mơ đến một ngày thật gần, khi cuộc chiến này kết thúc, gã sẽ thoát kiếp nạn. Đúng lúc ấy thì toán của Vượng nhận lệnh đổ xuống điểm Z thuộc khu vực rừng Mã Đà. Vậy là giờ định mệnh đã đến. Mấy đêm trước ngồi nhậu với bọn truyền tin, chúng nó rỉ tai chiến khu D giờ dày đặc cộng sản. Chẳng còn mấy bữa nữa đâu… Vượng chợt nghĩ: Hay là đào ngũ? Nhưng giờ biết đi đâu? Gã làm gì có ai thân thích để về nương tựa. Thôi thì đời đến đâu biết đến đó.

Ông cụ đột ngột dừng câu chuyện, khẽ hỏi tôi:

- Thầy có biết thằng cháu nhà tôi bị bệnh gì không?

Rồi chẳng đợi tôi trả lời, ông bảo: Ai cũng tưởng nó bị động kinh. Nhưng không phải. Thầy có nghe vụ chất độc da cam chưa?

- Cháu biết. Nhưng bác có khi nào…

Ông cụ lắc mái đầu bạc trắng giọng chua chát:

- Thầy ạ! Chúng nó đổ chất độc xuống rừng để tiêu diệt… cộng sản. Nhưng chất độc ấy nó đâu có phân biệt phe nào. Tôi bị nhiễm dioxin vì những ngày làm biệt kích ở trong rừng mà không biết. Vợ chồng tôi chỉ có mình nó mà tàn tật thế này… là quả báo thầy ạ!

Giọng ông cụ chùng hẳn xuống. Từ hai hốc mắt già nua ứa ra những giọt tủi hờn, nghẹn đắng. Tôi rót cho ông cụ ly trà đặc. Đêm hôm ấy, sau mấy tuần trà vòng vo tam quốc ông lão Vượng mới nói ra được sự thật khiến lão day dứt cả đời. “Tôi đã giết một anh lính Bắc Việt thầy ạ. Đúng hơn là tôi quá hoảng sợ mà giết chết anh ấy”.

Tôi chẳng bất ngờ về lời thổ lộ ấy. Lính biệt kích vốn giết chóc là nghề! Lão Vượng lập cập ra dấu thánh, thở dài:

- Thầy là sỹ quan, chắc thầy hiểu. Thời chiến nếu không đăng lính bên này thì cũng ở phía bên kia. Thề có Chúa, tôi không yêu mến gì cái chế độ Cộng hòa nhưng cũng chẳng thể làm khác được. Tôi không đếm được bao nhiêu lần xuất trận, không biết đã bắn chết bao nhiêu quân… Bắc Việt. Nhưng người lính cuối cùng phía… bên thầy, đáng lẽ anh ấy phải sống… Toán của tôi vừa chạm đất đã đụng một tiểu đội bộ binh. Có lẽ họ mới ngoài kia vào, quần áo còn mới lắm. Ba thằng chiến hữu của tôi dính ngay loạt đạn đầu. Tôi và thằng còn lại liều chết băng rừng thoát thân. Chạy đến gần sáng thì lạc nhau và tôi phát hiện một căn cứ chắc là của hậu cần hay y tế gì đấy vì thấy trên cây treo đầy túi cứu thương. Lán trại trống hoắc, chỉ có một anh giải phóng đang nằm đu đưa trên võng. Tôi đã định di chuyển sang hướng khác nhưng vừa nhìn thấy nòng súng AK hướng lên nên tôi vội quăng một trái mỏ vịt. Thầy biết không, trái lựu vừa nổ cũng là lúc trên máy PRC25 tôi nghe rõ lệnh rút chạy của sư đoàn 18 ra khỏi căn cứ Xuân Lộc… Giá như tôi nghe được sớm hơn… vài giây thôi…

Tôi run người. Cảm giác căm giận dồn lên khiến mặt tôi nóng bừng. Lão Vượng này đang chống chế hành động tội lỗi của lão ư?! Tôi định làm một cái gì đó, nhưng chợt hình như có mùi thuốc súng đâu đây? Không phải. Phía căn nhà cuối hẻm phát ra tiếng kêu thất thanh: “Ới ông Vượng ơi… thằng Khờ đốt nhà…”.

Sau buổi trò chuyện với tôi đêm ấy, ông cụ Vượng nằm bẹp ở nhà không đi bán vé số như mọi ngày. Thấy lạ mấy lần tôi định sang chơi nhưng bận việc nên lại thôi. Thời gian ấy, khi tôi đang chỉ huy đơn vị ngoài bãi tập. Bỗng một hôm thì chợt nghe vợ gọi qua điện thoại:

- Tuần này anh có trực không? Ông bạn tri kỷ chết đến nơi rồi.

- Bạn nào?

- Ông Vượng vé số!

- Làm sao mà chết?

- Ung thư vòm họng, giai đoạn cuối.

Vợ tôi cúp máy. Vậy ra lão Vượng âm thầm chịu đựng nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần bấy lâu mà tôi không hay. Tôi bần thần: Cũng một kiếp người. Dù sao lão cũng đã sống thật trong cuộc đời này. Tôi sẽ về để gặp ông cụ lần cuối. Một tên biệt kích trong toán biệt kích cuối cùng.

Phạm Văn Đảng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 402

Ý Kiến bạn đọc