Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tầm thời đại của Anh hùng dân tộc

 

Trước khi bàn đến tác phẩm chính luận của Phan Châu Trinh, chúng tôi xin giới thiệu đến ông Nguyễn Xuân Sanh(*) cùng bạn đọc công trình khảo cứu có giá trị về Chủ tịch Hồ Chí Minh của GS. Hà Minh Đức, quyển Hồ Chí Minh – Anh hùng dân tộc và tầm thời đại của Người, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật tái bản năm 2018.

Nội dung của quyển sách được Nhà xuất bản tóm tắt như sau, qua Lời Nhà xuất bản:

“Với sự hiểu biết sâu rộng, có hệ thống, năng lực tìm tòi, chắt lọc, phân tích, tổng hợp sắc sảo, qua ba phần nội dung chính của cuốn sách, tác giả đã trình bày về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước cho tới khi Người mãi mãi đi xa và sự đánh giá cao, sự ngưỡng mộ tôn vinh của thế giới đối với Người…”. (Hồ Chí Minh… Sđd. Trg.5)

Viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ sớm nhất là nhà thơ Nga Man-đen-xtam, năm 1924. Cho đến nay, các bài viết, các công trình nghiên cứu về Người, ở trong nước cũng như trên thế giới, vẫn đang tiếp tục. Nếu tổng hợp lại thì đấy là một khối lượng khổng lồ. Thừa hưởng những người đi trước và cùng thời, GS. Hà Minh Đức đã chắt lọc lại trong hơn 400 trang sách, giúp người đọc hiểu được những nét cơ bản trong cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là điều đầu tiên rất đáng trân trọng khi đọc quyển sách này.

Các vĩ nhân là những giá trị văn hóa quí báu của nhân loại. Nghiên cứu các vĩ nhân là để thừa hưởng những giá trị văn hóa quí báu đó. Nghiên cứu về Hồ Chí Minh còn có sự đặc biệt hơn. Vì những giá trị của Người không chỉ có tính phổ quát cho cả dân tộc hay nhân loại, mà còn thiết thực cho từng cá nhân, trong mọi hoàn cảnh. Đó là phong cách sống của Người.

So-610--Tam-thoi-dai-cua-Anh-hung-Dan-toc---Anh-1

Công trình của GS. Hà Minh Đức chia làm ba phần:

- Phần thứ nhất: 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài.

- Phần thứ hai: Về nước lãnh đạo cách mạng.
- Phần thứ ba: Thế giới tôn vinh, ca ngợi Hồ Chí Minh.

Sự phân chia như thế là hợp lí để qua mỗi phần bạn đọc tiếp cận được giá trị Hồ Chí Minh từ cụ thể chi tiết đến khái quát.

Trong 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài, thể hiện những phẩm chất quí báu nhất của con người Hồ Chí Minh mà nhờ đó, Người đã vượt qua mọi gian khổ, tìm được con đường cứu nước và bằng mọi cách, đưa con đường đó về nước, tổ chức lực lượng, tổ chức phong trào cách mạng.

Trước hết phải thấy Hồ Chí Minh là con người yêu nước, là nhà yêu nước vĩ đại và nhất quán.

Vĩ đại vì Người đã tìm được con đường đưa đến thành công trong hoàn cảnh đất nước và khu vực và thời đại cực kì khó khăn đối với những người yêu nước, tưởng như không có lối thoát. 

Khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (1911), thì hệ thống thuộc địa của thực dân Anh – Pháp còn nguyên vẹn. Thực dân Anh từng tự đắc: Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh. Thực dân Pháp có thuộc địa ở cả Cựu thế giới và Tân thế giới, trong đó Đông Dương có vị trí sống còn đối với Pháp. Sau chiến tranh Thế giới thứ I, thực dân Anh – Pháp thắng thế và chúng càng thẳng tay khai thác thuộc địa. Ở Việt Nam do sự thống trị ác nghiệt của thực dân Pháp nên phong trào chống Pháp trở nên liên tục, ngay sau khi Pháp đánh Đà Nẵng (1858). Sau thế kỷ XX, thì phong trào chống Pháp càng lan rộng, liên tục: Phong trào Duy Tân ở Trung bộ chủ yếu là Quảng Nam từ trước năm 1905. Phong trào Đông Du của Cụ Phan Bội Châu đỉnh cao là 1905. Đông Kinh nghĩa thục và vụ Hà Thành đầu độc năm 1908. Phong trào nông dân Yên Thế do Thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám cầm đầu, vắt qua hai thế kỷ, cho đến 1913. Năm 1916, sự biến kinh thành do Trần Cao Vân và Thái Phiên lãnh đạo. Năm 1917, khởi nghĩa Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn cầm đầu. Năm 1926 là phong trào để tang Cụ Phan Châu Trinh và đòi ân xá cho Cụ Phan Bội Châu. Tiếp tục đến đỉnh cao năm 1930 với khởi nghĩa Yên Bái và Xô Viết Nghệ – Tĩnh. Các phong trào yêu nước trước sau đều bị thực dân Pháp đàn áp, dập tắt. Duy chỉ có phong trào do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, khi Đảng ra đời vào ngày 3-2-1930, là liên tục, ngày càng mạnh, đưa đến cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 thành công. Nhìn ra thế giới thì đến 1948, đế quốc Anh mới trao trả độc lập cho Ấn Độ. Sau khi phân chia khu vực giải giáp quân Nhật thì toàn bộ Đông Á, từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á là do Mỹ kiểm soát, khống chế. Tình hình đó kéo dài cho đến hết chiến tranh chống Mỹ (1975). Liên minh chống Cộng toàn châu Á không phải mới xuất hiện ở thời Thủ tướng Ngụy Phan Huy Quát làm Chủ tịch (1965), mà trước đó, từ 1945. Trong hoàn cảnh khó khăn như thế mà cứu được nước, quả là thiên tài vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Sự nhất quán trong sự nghiệp cứu nước của Hồ Chí Minh là trong bất kì hoàn cảnh nào, Người cũng tập trung lo cho dân cho nước. Từ khi quyết tâm đi ra thế giới học tập, tìm đường để trở về giúp cho đồng bào (năm 1911. Theo Trần Dân Tiên: Những mẩu đời hoạt động của Hồ Chủ tịch)… đến khi sắp từ giã cõi đời, trong Di chúc (1965) cũng đều lo nghĩ cho dân cho nước. Trong bài thơ Chúc Tết năm 1969, Người viết:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì Độc lập vì Tự do
Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Lòng yêu nước đó đã trở thành ý chí mãnh liệt giúp Người vượt qua mọi gian khổ trên đường cứu nước.

Ra đi với hai bàn tay trắng, không

có nghề nghiệp chuyên môn, Người phải làm những công việc cực nhọc nhất như phụ bếp, phụ lò, xúc tuyết… để sống và học tập, tìm đường cứu nước. Người phải chịu đựng những gian khổ đến tột cùng. Phải nung hòn gạch để chống chọi với mùa đông giá lạnh ở Paris. Người đã trải qua nỗi cô đơn khủng khiếp. Một thân một mình lặn lội khắp châu Âu châu Phi châu Mỹ… Chỉ đến khi trở lại Pháp trước Đại chiến Thế giới I, Người mới có những đồng bào bên cạnh mình, tuy ít ỏi. Cũng đến khi trở về châu Á, Người mới có những đồng chí thân thiết, tin cậy, là đồng bào của mình, khi ở Trung Quốc và Thái Lan…

Vượt lên mọi khó khăn gian khổ, Người kiên trì học tập, tìm hiểu cuộc sống, gần gũi với những người yêu nước của các dân tộc khác, tổ chức các hoạt động yêu nước như Hội Liên hiệp Thuộc địa, ra báo Người cùng khổ, Người trực tiếp đi bán báo. Người tham gia các phong trào xã hội tiến bộ ở Pháp, từ đó gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, rồi tiếp nhận được Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa mà Người xem như là cẩm nang trên con đường cứu nước.

Quá trình gian khổ để tìm đường cứu nước trải qua suốt 9 năm (1911-1920). Và suốt 21 năm sau (1920-1941), Người tìm mọi cách đưa đường lối cứu nước về cho đồng bào, giác ngộ đồng bào, tổ chức đồng bào. Từ những khóa huấn luyện ở Quảng Châu (1927) đến hợp nhất các tổ chức Cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (3-2-1930) là những sự kiện đánh dấu thời đại mới của công cuộc cứu nước. Nền tảng lí luận và tổ chức đã được hình thành. Còn lại là tổ chức thực hiện, thực tiễn.

So-610--Anh-minh-hoa---Tam-thoi-dai-cua-Anh-hung-Dan-toc---Anh-1

Như vậy, Hồ Chí Minh tiếp tục con đường của Mác – Ăngghen – Lê-nin, là những vĩ nhân kết hợp được lí luận và hành động thực tiễn. Đó thực sự là người Khai sáng – khai minh cho dân tộc, Người cha của dân tộc mà dân tộc đã tôn vinh. Mác – Ăngghen đã gắn học thuyết của các vị với Phong trào Công nhân Quốc tế (Quốc tế I). Lê-nin đã “mượn của Mác phép biện chứng” đưa Cách mạng Nga đến thành công (1917).

Hồ Chí Minh đã từ lòng yêu nước, nhen nhóm, phát triển thành phong trào quần chúng, đi đến thành công, dưới ánh sáng của lí luận Mác – Lê-nin: Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chỉ có chủ nghĩa Lê-nin là chân chính nhất (Đường Kách mệnh – 1927). 

Ở phần thứ hai, Về nước lãnh đạo cách mạng, thể hiện thiên tài tổ chức, lãnh đạo; tầm nhìn xa trông rộng, dự đoán đúng xu hướng phát triển của thực tiễn; thấy rõ thời cơ và chuẩn bị chớp lấy thời cơ với ý chí sắt đá, khi Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp, đại ý: Đây là thời cơ ngàn năm có một, dù phải đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được Độc lập.

Tổ chức Mặt trận Việt Minh, ra báo, làm thơ ca tuyên truyền, hình thành hệ thống Mặt trận Việt Minh trên toàn quốc. Mặt trận Việt Minh chính là tổ chức tập hợp, đoàn kết được lực lượng dân tộc. Đây chính là động lực dẫn đến chiến thắng. Thực dân Pháp phải dùng từ Vi ci (Việt Minh) và trên thực tế, phải đối mặt với Việt Minh cho đến kết thúc trận Điện Biên Phủ.

Tổ chức Quốc dân đại hội trước khi Nhật đầu hàng mấy ngày (từ 13-8-1945). Khi Nhật đầu hàng (15-8-1945), thì ngay ngày hôm sau (16-8-1945) kết thúc cuộc họp. Từ Hội nghị Tân Trào, cán bộ tỏa về các địa phương tổ chức Tổng khởi nghĩa. Và chỉ trong vòng 10 ngày, giành được chính quyền trên toàn quốc. Thực dân đế quốc đầy mưu mô hiểm độc cũng không trở tay kịp trước thực tiễn Cách mạng đến như bão táp ở Việt Nam. Sau Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), tiến hành ngay mọi bước cần thiết để thực hiện Tổng tuyển cử. Họp Quốc hội bầu ra Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một sự kiện có tính pháp lí cực kì quan trọng. Và cuối cùng, thực dân Pháp phải đàm phán và kí Hiệp định với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) ngày 20-7-1954. Nhân đây cũng cần nhấn mạnh, mọi ý đồ phục dựng các “thực thể chính trị” như Quốc gia Việt Nam hay Việt Nam Cộng hòa đều là phản lịch sử cả trên phương diện pháp lí lẫn thực tiễn lịch sử. Bởi cử tri – công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau Tổng tuyển cử 6-1-1946 cho đến trước Tổng tuyển cử năm 1976, không bao giờ bỏ phiếu bầu cho Quốc gia Việt Nam hay Việt Nam Cộng hòa. Cuộc Tuyển cử của Ngô Đình Diệm năm 1955 chỉ là một trò hề gian lận do ngoại bang đạo diễn và tài trợ. Chỉ có những bồi bút như Vũ Hoàng Chương mới ca tụng “Lá phiếu trưng cầu một hiển linh”.

Kháng chiến chống Pháp thành công thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đường lối chiến lược đến thực tiễn tổ chức hành động là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Từ đây đã có tiền đồ, có cơ sở vững chắc để cuộc kháng chiến chống Mỹ thành công (1975).

Nhìn lại sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1911 Người ra đi tìm đường cứu nước đến 1969 khi Người qua đời ta thấy trí tuệ vĩ đại của Người, hành động tổ chức lãnh đạo thực tiễn cực kì tài ba và xuyên suốt là ý chí mãnh liệt của Người trong hành trình cứu nước. Từ giấc mộng trong lao tù: Một canh hai canh lại ba canh / Trằn trọc thâu đêm giấc chẳng thành / Canh bốn canh năm vừa chợp mắt / Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh (Nhật kí trong tù – 1943); đến dẫu phải đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được Độc lập; đến Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi (1946); đến Không có gì quí hơn Độc lập – Tự do (1965); đến Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào! (1969).

Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là ở nỗ lực cá nhân của một trí tuệ thiên tài. Đồng thời Người là sự chung đúc của ý chí dân tộc từ Hai Bà Trưng – Bà Triệu – Trần Hưng Đạo – Lê Lợi – Nguyễn Trãi đến Quang Trung Nguyễn Huệ và cả phong trào dân tộc từ nửa cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX với Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, v.v… Sự nghiệp của Người cũng thắp sáng niềm tin, đáp ứng nguyện vọng của thời đại: Thời đại nhân loại cần lao ý thức được vận mệnh của mình quyết đứng lên giành lại quyền sống. Từ học thuyết của Mác – Ăngghen đến Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Cách mạng Tháng Mười Nga làm thay đổi hẳn cục diện thế giới và Cách mạng Giải phóng dân tộc Việt Nam tiếp tục làm thay đổi cục diện thế giới. Thế giới sau Việt Nam (1954 và 1975), chứng kiến các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, đứng lên giành độc lập. Đó là thực tiễn lịch sử và cũng chính là tầm thời đại của Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Đó là tóm tắt phần thứ ba của quyển sách. Và có sở cứ rõ ràng ở Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO tôn vinh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa (Trg.313 đến 316). Có in kèm nguyên bản tiếng Anh. Sđd. Trg.313-316).

Ôn lại sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thêm một lần khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân lí của dân tộc và thời đại. Cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, mẫu mực cho công cuộc xây dựng đất nước, phát triển dân tộc theo định hướng XHCN. Đối với Hồ Chí Minh, CNXH rất cụ thể: Tổ quốc được Độc lập. Nhân dân được Tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. CNXH là phải thương yêu nhau…

Tấm gương Hồ Chí Minh thiết thực cho mọi người trong mọi hoàn cảnh: Sống cần – kiệm – liêm – chính – chí công – vô tư – thanh đạm – giản dị. Đấy là hạnh phúc đích thực của con người vừa tự chủ được bản thân vừa tôn trọng các quan hệ xã hội và hòa nhập vào xã hội. Đồng thời cũng được xã hội bảo đảm cho “Cái tôi cá nhân” được tự do trong quan hệ hài hòa Tự cung thanh đạm tinh thần sảng / Tố sự ung dung nhật nguyệt trường (Sống quen thanh đạm nhẹ người / Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung. Hồ Chí Minh… Sđd. Trg.282).

Có lẽ Hồ Chí Minh là vĩ nhân duy nhất có phong cách sống như thế, và nói lên bằng thơ phong cách đó.

Bảo vệ văn hóa Hồ Chí Minh là bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bởi đang có sự xuyên tạc, hạ thấp giá trị văn hóa Hồ Chí Minh. Lê Hữu Mục, một nhân vật chống Cộng ở hải ngoại đã bịa ra chuyện Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật kí. Người cầm đầu Văn đoàn độc lập và lũng đoạn Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh cho rằng chúng ta (?) sai từ 1920. Ý nói khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp (1920). Rằng độc lập là cần nhưng có thể trước có thể sau. Rằng Phan Châu Trinh mới là đầu óc chói sáng nhất Việt Nam thế kỷ XX, con đường Phan Châu Trinh mới là đúng đắn, v.v… Chúng tôi sẽ tiếp tục trao đổi với ông Nguyễn Xuân Sanh về vai trò khai minh khai sáng cho dân tộc của cụ Phan Châu Trinh.

Đồng Nai hạ, tháng 8-2020

Nguyễn Thành Vinh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 610

———————————
(*) Ông Nguyễn Xuân Sanh viết phần Dẫn nhập cho quyển Phan Châu Trinh và các tác phẩm chính luận. NXB Trẻ. TP.HCM. 2018.

Ý Kiến bạn đọc