Người tốt - Việc tốt

Tầm nhìn văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Là một nhà chính trị kỳ tài từng đưa đất nước vượt qua bao phen ngàn cân treo sợi tóc để đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hung hãn, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà văn hóa lớn. Điều này đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ra quyết định tôn vinh. Và khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris (20.10 – 21.11.1987) đã thông qua Nghị quyết 264/18.65 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết này khẳng định những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, góp phần quan trọng vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc… Toàn văn bản dịch của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết này như sau:

“18.65. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại hội đồng,

Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới.

Nhắc lại Nghị quyết số 18C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại.

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.

Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

1. Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

2. Đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”.

(Trích Nghị quyết Đại hội đồng Khóa 24 tại Paris, 20.10 đến 20.11 năm 1987)

Qua nghị quyết trên đây, ta thấy UNESCO đã nhân danh nhân loại, dùng những lời lẽ kính cẩn nhất, trọng thị nhất, đẹp đẽ nhất cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người Việt Nam chân chính, không ai không thấy lòng sung sướng diệu kỳ trước danh dự lớn lao ấy của Lãnh tụ yêu quý của mình. Người đã nhận giùm ta tiếng thơm từ nhân loại, thông qua những hoạt động không mệt mỏi suốt cả đời mình. Người làm mọi việc có thể, không phải vì bản thân mình, mà chỉ vì quốc gia, dân tộc. Chúng ta, một lần nữa thành kính biết ơn Người vô hạn và tự hào trào dâng. Nhờ có Người, tên tuổi đất nước mới sáng ngời như ngày hôm nay. Mỗi khi nhắc đến Hồ Chí Minh là trên thế giới đều hiểu ngay rằng đó là một biểu tượng huy hoàng của Việt Nam, một Việt Nam anh hùng, yêu tự do, thông cảm với người lao động trên toàn thế giới.

So-515--Tam-nhin-van-hoa-cua-Chu-tich-Ho-Chi--Minh---Anh-1
Bác Hồ thay mặt Đảng, Nhà nước, Quốc hội gắn Huân chương Sao vàng cho Bác Tôn (ngày 19/8/1958)

Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh là một con người rất toàn diện. Người không những chứng tỏ là một thiên tài trong chính trị, quân sự, Người còn là một nhà văn hóa lớn, am hiểu văn hóa sâu sắc, chăm sóc cho văn hóa phát triển sâu rộng trong nhân dân, nâng cao trí tuệ quần chúng bằng mọi cách thiết thực, như xóa nạn mù chữ, phát triển báo chí, xây dựng đời sống mới ngay trong lúc đất nước có chiến tranh, trồng cây gây rừng, chăm sóc trẻ em, người già, phụ nữ, đối nhân xử thế độ lượng, từ bi. Suốt cả cuộc đời làm lãnh tụ của dân tộc, của Đảng, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân, với Đảng là tuyệt đối. Chỉ cần nghĩ tới Người là ta có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn, thử thách. Tố Hữu có những câu thơ rất đẹp và xác đáng về Người:

“Các chị, các anh ơi, có phải
Mỗi khi lòng ta sung sướng rung rinh
Môi ta thầm kêu “Bác Hồ Chí Minh”
Và mỗi bận, mỗi mùa thi thắng lợi
Đôi mắt Bác hiện lên cười phấn khởi
Ta lớn lên, bay bổng diệu kỳ
Trên đường dài, hai cánh đỡ ta đi”…

Sau khi nước nhà giành được độc lập, tự do, Người nghĩ ngay đến vấn đề dân trí. Dân trí là một lợi khí của nhân dân để bảo vệ độc lập, tự do và dân chủ. Người chỉ rõ: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Và giao nhiệm vụ cho Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên xóa nạn mù chữ với câu nói giản dị mà đầy ý nghĩa: “Chú phải chia chữ cho dân!”. Và rất nhanh chóng, chỉ sau một thời gian ngắn, phần lớn nhân dân mù chữ đã biết đọc biết viết theo khẩu hiệu dễ làm của Người: “Người biết chữ dạy người chưa biết chữ, chồng dạy vợ, anh dạy em…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn đời bằng con mắt văn hóa, cho nên Người nhìn thấu đáo mọi việc, thấu đáo mọi con người. Bởi vì văn hóa là thứ ánh sáng kỳ diệu, soi sáng con đường cho người ta đi, mở rộng tầm mắt cho con người được thấy xa, hiểu rộng, nâng cao đạo đức, tâm hồn con người, khiến họ trở nên cao đẹp, duyên dáng, đáng yêu. Những ai chỉ cậy của, cậy quyền thì dù họ giàu có bao nhiêu, làm tới chức vụ gì, họ cũng không hấp dẫn, cảm hóa được người ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh trái lại, đến với Người, người ta cảm thấy thư thái, thăng hoa như đến với một vườn hoa vừa thơm vừa đẹp, không muốn rời. Chủ tịch Hồ Chí Minh thu hút mọi người không chỉ vì Người tài cao, đức trọng, sức thu hút đặc biệt ấy còn vì cái hương vị văn hóa khó ai sánh kịp. Bất cứ ở đâu, chỉ cần nghe nói “Bác đến” là ở đó, người ta vui như hội. Nhạc sĩ Văn Cao là người khắc họa tài tình và sâu lắng sức thu hút lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những câu hát tinh tế:

“Người về đem tới ngày vui,
Mùa thu, nắng cỏ Ba Đình
Tiếng của Người còn dịu dàng như tiếng đất trời.
Người về đem đến xuân ngời
Từ đất nước cặn, từ bùn lầy,
Cả cuộc đời vùng lên…”

Hay là:

“Ngày mùa vui năm nay
Lúa reo như hát mừng
Nhớ công ơn Cụ Hồ
Khi mùa vàng thôn quê…”

Chưa có ai huy động được sức mạnh truyền thống của nền văn hóa mấy ngàn năm của các dân tộc Việt Nam để giữ nước kiên cường như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cùng ra trận với các chiến sĩ thân yêu của mình trong Chiến dịch Biên giới 1950, Người có những câu thơ đậm đà văn hóa bất hủ như sau:

“Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta thế mạnh nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng, lũ sói cầy”

Người xem bọn xâm lăng là một lũ man rợ, chỉ có tài chém giết, cướp phá, hãm hiếp như loài thú hoang mà thôi. Chúng ta dùng nền văn hóa Việt Nam để đánh bại chúng. Và ở Điện Biên Phủ, hàng vạn tù binh Pháp lóp ngóp ra hàng. Hồ Chí Minh đối xử với tù binh rất nhân đạo và cao thượng. Người không hề làm nhục các tù binh của đối phương, mà đối xử tử tế, cho ăn, cho mặc đầy đủ và thả họ, khiến họ biết ơn mãi.

Với bọn xâm lược Mỹ cũng vậy. Mặc dù chúng tàn ác, gây ra nhiều đau khổ cho nhân dân ta, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành sự tôn trọng cần thiết cho nhân dân Mỹ, không xúc phạm đến người Mỹ và nền văn hóa Mỹ. Thái độ của Người thật là từ bi, hỉ xả, không cố chấp hẹp hòi nhưng vô cùng cương quyết, khiến Người được tôn kính và yêu thương rất mực. Nhà sử học người Pháp Raymond Aubrac có câu đánh giá về Hồ Chí Minh như sau: “Có lẽ (trên đời này), Hồ Chí Minh là người được nhiều người yêu mến nhiều nhất”.

Bởi vì, chẳng có gì khó hiểu, Hồ Chí Minh là hiện thân đẹp đẽ của văn hóa, của tính người.

Chưa có ai đủ khả năng và quan tâm đến văn hóa thấu đáo như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì Người biết rõ văn hóa nâng cao tâm hồn và đạo đức cho con người.

Người có văn hóa sẽ sống khác hơn, đẹp hơn người sống thiếu văn hóa. Những người biết sống đẹp, rất nhiều trường hợp họ không giàu, nhưng họ có học, có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh có giàu như ai đâu, nhưng Người không bận tâm vì chuyện đó; Người chỉ chăm lo hoàn thiện mình, lo học hỏi, lo trau dồi đạo đức.

Lãnh tụ Fidel Castro của Cuba cũng có quan điểm giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Fidel nói: … “Tất nhiên tôi hoàn toàn không coi nhẹ ý nghĩa của việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Mọi người đều biết rằng muốn được học hành, muốn cải thiện những điều kiện của cuộc sống thì phải thỏa mãn những nhu cầu nhất định về thể lực và vật chất. Song chất lượng của cuộc sống là ở kiến thức và văn hóa. Chính những giá trị này quyết định chất lượng thực sự của cuộc sống, chất lượng cao nhất của nó, chứ không phải chất lượng đồ ăn, thức uống, nhà cửa và áo quần…”.

Bác Hồ khi trở về với cát bụi, chẳng để lại một tài sản cá nhân nào. Bác chỉ trao cho đồng chí Lê Duẩn một cái hộp gỗ và nói:

- Bác không có gì để lại cho chú. Bác gửi chú cái này!

Trong hộp là một chiếc áo len mà Bác đã mặc qua. Còn tài sản lớn nhất của Bác thì nằm trong cuốn sổ tiết kiệm mà Bác đã rút hết ra, tặng cho bộ đội mua nước giải khát khi trực chiến nắng nôi. 

Cái nghèo của Bác là cái nghèo đáng khâm phục. Chính cái nghèo ấy đã chinh phục cụ Huỳnh Thúc Kháng – một nhà nho yêu nước nổi tiếng, theo chân Bác phục vụ Tổ quốc cho tới hơi thở cuối cùng.

Muốn thực sự giải phóng con người, làm cho họ được hạnh phúc vì biết tự hào với phẩm chất cao quý thì, ngoài cơm ăn, áo mặc, nhà ở, còn phải cho họ được học hành, được mở rộng kiến thức, được trau dồi đạo đức và lương tri. Ở đời, thiếu gì kẻ nhiều tiền lắm của, có chức có quyền, nhưng sống rất đê tiện, chẳng ai yêu, chẳng ai phục. Sống như thế thì sống để làm gì? Thử hỏi, có người lương thiện nào mà ca ngợi Hitler và những tên hung ác như y hay không?

Giữa trăm công nghìn việc cấp bách chống đói, chống ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn kiên quyết không kém trong yêu cầu chống dốt cho dân. Dân phải có hiểu biết, giác ngộ nghĩa vụ và quyền lợi của mình thì họ mới tha thiết bảo vệ đất nước, bảo vệ cách mạng và thực sự làm chủ nước nhà. Về mặt này, bọn thống trị, bọn đàn áp nhân dân làm ngược lại. Sự ngu dốt của dân là chỗ dựa an toàn cho chúng tha hồ lừa dối, bóc lột. Thử nhìn lại cái biển người dân mù chữ dưới chế độ tàn ác của bọn thực dân Pháp và bè lũ phong kiến tay sai thì rõ. Bằng quyết tâm sắt đá và biện pháp khéo léo, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào xóa nạn mù chữ mạnh mẽ khắp cả nước. Chỉ trong vòng một năm, số người thoát nạn mù chữ đếm không xuể. Nhờ đó, người biết chữ có thể đọc báo, hiểu được quyền công dân và nghĩa vụ của mình.

Để đưa ánh sáng văn hóa tới nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tận tụy không biết mệt mỏi. Từ việc nhỏ đến việc lớn, Người chu đáo hơn một người cha. Làm sao không cảm động, khi đất nước trong cơn khói lửa, Người vẫn không quên dạy quốc dân ăn ở hợp vệ sinh, làm việc theo đời sống mới. Ngày 20.3.1947, dù bận rộn lãnh đạo cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người vẫn có thể viết xong quyển “Đời sống mới” để phục vụ đồng bào.

Hỏi: Trong lúc này, người thì lo đánh giặc, người thì lo phá hoại (để làm cản trở giặc – NV), người thì lo tản cư, toàn dân ai cũng khó nhọc vất vả. Kêu gọi thực hành đời sống mới, chẳng không hợp thời sao?

Và Người đáp:

- Hợp thời lắm. Chính trong lúc này, càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Quân đội phải siêng tập, siêng đánh. Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi. Thế cho nên phải Cần.

Binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Nhân dân phải tiết kiệm vật liệu, mới giúp được bộ đội và đồng bào tản cư. Thế nên phải Kiệm.

Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Cho nên ai cũng phải Liêm.

Mỗi người dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân, quyết làm cho Tổ quốc thống nhất, độc lập.

Thế là Chính. Do đó thì biết, đời sống mới bây giờ rất hợp thời.

Với bốn chữ vàng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng đạo đức tiến bộ nhất cho mỗi con người. Ai cũng có thể thực hiện được bốn chữ vàng ấy, và lấy bốn chữ vàng ấy mà soi rọi bản thân mình. Ai cũng phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, vì nó đưa lại lợi ích cho nước, cho dân, trong đó có bản thân mình. Nước mất, nhà tan. Đất nước còn thì quyền lợi của mỗi nhà, mỗi người mới còn. Những kẻ tham nhũng vơ vét của dân để làm giàu cho mình. Như thế là chống lại đất nước. Vì vậy người ta coi họ là giặc, không thể dung thứ được.

Suốt đời, Hồ Chủ tịch chắt chiu từng củ khoai, từng hạt lúa cho dân. Lẽ nào chúng ta không chịu học theo gương Người!

Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn mà chúng ta rất nên soi vào, để trở thành một con người ngày càng hoàn hảo, ngày càng cao quý, duyên dáng, đáng yêu. Ngoài trí tuệ tuyệt vời, tài đức đáng nể phục, người ta còn hào hứng, thú vị đến với Chủ tịch Hồ Chí Minh vì văn hóa ứng xử, sự duyên dáng hiếm ai có được của Người, một con người mà đến đâu là niềm vui có mặt ở đó, là tình thương ngự trị ở đó.

Tố Hữu viết:

“Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười
Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi
Bác Hồ đó, là lòng ta yên tịnh”…

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 515

Ý Kiến bạn đọc