Trong nước

Tấm lòng người nữ quân y

Tuổi hai mươi làm cách mạng

Trong giây phút bồi hồi nhớ lại những ngày đầu tiên đến với cách mạng, cô Hạnh cho biết quê mình ở xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn; năm 1964, khi vừa tròn 20 tuổi cô được một người anh là bộ đội giới thiệu đến phụ việc lớp y tá tại Trạm quân y xã Mỹ Đức (khi ấy vẫn còn thuộc huyện Châu Thành). Tại đây cô Hạnh vừa học vừa làm, rồi nhen nhóm tình yêu dành cho cách mạng từ lúc nào không hay biết.

Cô nói: Hồi 20 tuổi, cô làm cách mạng ban đầu vì những lý do đơn giản lắm, hồi đó mình cũng không suy nghĩ gì nhiều. Chỉ biết yêu nước là cần phải làm cách mạng, chung sức đồng lòng cùng với bà con làng xóm đánh giặc vậy thôi. Cô dừng lại một lúc, đôi mắt đăm chiêu như nghĩ ngợi…

Co-Tran-Thi-Hanh
Cô Trần Thị Hạnh – Ảnh: PV

Nghe cô tâm sự, tôi nói, 20 tuổi quả là còn trẻ để dấn thân vào những chuyện sinh tử như thế. Cô cười nhẹ nhàng. Ngày đó nhiều người còn trẻ hơn mình, mười mấy tuổi đã xung kích ra chiến trường, xông pha ở khắp mọi trận tuyến. Ai cũng nói nhờ tham gia cách mạng mà cái tôi của người lính được trui rèn. Cô thì thấy mình sống bản lĩnh hơn trước, như được tiếp thêm nhiều nghị lực, không còn biết nản lòng, sợ hãi…

Rồi cô bỗng tiếp lời. Con biết không, ngày đó có những người hy sinh lúc tuổi còn rất trẻ…

Trên quê hương những người nằm xuống

Cô Hạnh cho biết, giai đoạn 1968-1969 là giai đoạn cuộc chiến trở nên tàn bạo, khốc liệt nhất. Địch hành quân nhiều, đạn pháo trút xuống như mưa suốt ngày đêm, đó cũng là năm quân chủ lực của ta bị tổn hao lực lượng nặng nề. Những trạm quân y thô sơ ngày ấy nơi cô Hạnh và những đồng nghiệp của mình bám trụ phải di chuyển liên tục trước những trận càn. Thiếu thốn thức ăn, nước uống là chuyện thường, cô nói, lo nhất là khi tiếp nhận quá nhiều thương bệnh binh mới mà thuốc men thì cứ ngày càng ít đi, không làm sao xoay xở đủ. Nhiều lúc quá cấp bách, cô cùng đồng đội đã nghĩ ra bao phương kế cấp cứu kịp thời, như cắt người đi hái dừa, lấy nước dừa truyền dịch thay cho nước biển.

Nhìn thương binh ta phải chịu đựng những cơn đau đớn vật vã, bao vết thương dày vò, không ai không đau lòng, nhiều trường hợp đến rơi nước mắt. Cô kể, năm đó có anh lính quân lương tải thức ăn cho đơn vị đang cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ trên đoạn đường cách khu vực núi Tô khoảng 4, 5 cây số thì bất ngờ bị địch phục kích. Anh bị thương khá nặng mà lúc ấy quân địch đã áp đến sát gáy, thấy chạy không kịp nữa anh liền vùi mình xuống những bụi cỏ rậm rạp hai bên đường hy vọng thoát thân. Địch lùng đến đâu thì trốn đến đó. Khi đồng đội quay lại tìm thì không thấy anh đâu, ai cũng ngỡ là anh đã bị giặc bắt. Suốt 22 ngày đêm chui lủi vật vã, đến một ngày khi có người đồng đội bắt gặp có một xác người nằm bên vệ đường thoi thóp, ngỡ đã chết vì toàn thân mặt mày tay chân người ấy chỉ còn trơ ra lớp xương bọc da, đến phút ấy mới nhận ra là anh vẫn còn sống.

Năm 1969, trong hồi ức của cô Hạnh là một năm đầy đau thương vì quân chủ lực của ta hy sinh, tổn thất rất nhiều. Giặc bố ráp ngày đêm ở cánh đồng Chàm (Mỹ Đức) và những đợt pháo dội liên miên xuống Tức Dụp. Đi xuồng mà thấy thấp thoáng bóng giặc là mình phải nhận chìm xuồng, lúc nào quân ta cũng phải cảnh giác, ngụy trang phủ lá khắp người để tránh bị địch phát hiện. Vì cứ thấy ai đáng ngờ là giặc nó xả súng không thương tiếc – cô nói – năm đó có anh Sáu Khánh, bác sĩ chuyên khoa mổ của trạm, trong đợt giặc càn, khi mọi người đã kịp trốn xuống công sự thì anh vẫn còn nán lại lo cho bệnh binh, loay hoay tìm cách di chuyển cho những ca bệnh nặng nên không kịp đi khi địch tràn vào, rồi anh bị địch bắn chết…

Cô Hạnh gặp chú Lâm Thanh Hiền, chồng cô, cũng trong những lần chạy chữa cho bệnh binh như thế. Chú Hiền sinh năm 1946, quê ở xã Vọng Thê, hai người cứ “không hẹn mà gặp” thường xuyên vì chú liên tiếp bị thương phải vào điều trị nhiều đợt. Cảm động trước sự chăm sóc tận tình, chu đáo của cô y tá trẻ ngày ấy tình cảm trong trái tim chú dành cho cô cứ lớn dần. Để rồi năm 1970, cô trở thành “người một nhà” của chú. Nhắc về chú, tôi thấy gương mặt cô nghĩ ngợi đăm chiêu: Ảnh ra đi hồi cuối năm 1974, chỉ còn mấy tháng nữa thôi là đến ngày giải phóng…

Phong-kham-benh---Ha-Quang-Buu
Phòng khám bệnh – Tranh khắc – HS Hà Quang Bửu.

“Mình phải sống thay cho người đã khuất”

Tôi hỏi sức khỏe của cô giờ đây thế nào, từ ngày chú mất cô phải cáng đáng mọi việc ra sao? Cô chia sẻ, sau chiến tranh sức khỏe cô yếu dần, nhiều lúc trở bệnh nặng. Năm 1977-1978, vì tình hình sức khỏe cô được đơn vị cho phục viên ở nhà dưỡng bệnh. Đến năm 1985 khi sức khỏe ổn định, cô được nhận trở lại vào làm công tác ở Văn phòng Huyện ủy. Cô nói mình may mắn vì nhận được sự quan tâm chu đáo của chính quyền, được ghi nhận thành tích với “Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III”, và được nhận trợ cấp, hỗ trợ hàng tháng.

Nhưng trước sự ra đi đột ngột của chú Hiền, một mình cô sống với hai người con nhỏ cuộc sống gia đình lúc ấy rất vất vả, khó khăn. Cô vừa làm mẹ, vừa làm cha, vừa nuôi dạy con, vừa mưu sinh gánh vác. Ngoài thời gian ở cơ quan, cô Hạnh còn chăn nuôi, giúp việc nhà, nhận hàng đan móc xuất khẩu để kiếm thêm thu nhập.

Có gì đâu. Thời chiến, sống chết mong manh mình còn vượt qua được, khi đất nước hòa bình thì mình phải sống sao cho thật có ích. Mỗi lần đuối sức cô luôn tự động viên mình phải cố gắng lên vì hai đứa con. Vì mình may mắn nên phải sống tốt, sống thay cho cả những người đã khuất…

Đến đây tôi thấy trong mắt cô thấp thoáng niềm hạnh phúc khi nhắc đến anh Lâm Thanh Hòa, người con trai cả, hiện đang làm Phó bí thư xã Vọng Thê. Và chị Lâm Thị Tuyết Hồng, cô con gái chào đời trước đúng một ngày cha mất. Chị Hồng hiện đang công tác ở Bưu điện huyện Thoại Sơn. Cả hai người con nhỏ ngày ấy đều được cô Hạnh nuôi dạy ăn học thành tài. Và giờ đây cả hai cũng đang nỗ lực đem tài năng và trí tuệ của mình đóng góp cho sự phát triển vươn lên của quê hương, đất nước.

Nguyễn Lê
(TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM so