Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với hoàng tộc nhà Nguyễn sau Cách mạng Tháng Tám 1945

 

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng thể hiện thiện chí trước hoàng tộc nhà Nguyễn, đặt vấn đề đại đoàn kết dân tộc lên hàng đầu trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang lăm le trở lại với âm mưu đô hộ nước ta.

1. Đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời công dân Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại) làm Cố vấn cho Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phạm Khắc Hoè, nguyên Đổng lý văn phòng triều đình nhà Nguyễn trong cuốn hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc” đã nhận xét: “Sức cảm hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật là vĩ đại! Một ông vua bị cách mạng lật đổ mà không đầy một tháng sau đã viết thư khoe với mẹ là được người lãnh đạo cách mạng ấy “thương như con”. Chỉ có lòng nhân ái bao la “rộng hơn biển cả” của Hồ Chủ tịch mới có sức cảm hóa kỳ diệu như vậy”.

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng mời bà Nam Phương hoàng hậu ra làm cố vấn cho Ban tổ chức các “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”. Bà đã cùng với Hội Phụ nữ cứu quốc và các tổ chức xã hội vận động hoàng tộc và nhiều gia đình giàu có trong thành phố đóng góp nhiều vàng bạc, tiền của cho chính quyền. Chỉ một tuần lễ, thành phố Huế đã thu được 945 lượng vàng. Bà Nam Phương đã tuyên bố trước giới phụ nữ nước nhà: “Chúng tôi rất vui mừng thấy chị em đã tiến rất mau trên con đường cứu nước… nay mai khi nào chị em có việc gì cần đến tôi, tôi sẽ rất sung sướng mà gánh lấy một phần công việc”.

So-608--Anh-minh-hoa---Tam-long-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-doi-voi-hoang-toc-nha-Nguyen-sau-Cach-mang-Thang-Tam-1945---Anh-3
Khoảnh khắc đấu giá bức tranh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do cố vấn Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại)
chủ trì ngày cuối cùng của Tuần lễ vàng 30-9-1945. Kết quả người mua được bức tranh trên cỡ lớn
là ông Đỗ Đình Thiện với giá một triệu đồng bạc Đông Dương. (Ảnh tư liệu lịch sử)

Chính phủ Cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cử ông Lê Văn Hiến làm đặc phái viên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Trung bộ và Nam bộ để vào Huế thăm hỏi hoàng tộc nhà Nguyễn. Ngày 10-12-1945, sau khi thăm bà Từ Cung (mẹ cựu hoàng Bảo Đại), bà Nam Phương; ông Lê Văn Hiến gặp bà Thành Thái và bà Duy Tân tại trụ sở của Ủy ban Trung bộ. Lúc đó, ông Lê Văn Hiến đã nói về việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy thác việc đến Huế tìm cho được hai bà để nói lên lời ân cần thăm hỏi của Người đối với hai bà và chúc hai bà dồi dào sức khỏe và trường thọ. Ông Lê Văn Hiến cũng cho biết thêm: “Người cũng nhắn thêm rằng từ ngày ông Thành Thái và ông Duy Tân vì lòng yêu nước, mong nước nhà tự do độc lập nên bị thực dân Pháp bắt đưa đi đầy các nơi xứ lạ, hai bà đều lâm vào cảnh lẻ loi, cô đơn đằng đẵng hàng mấy chục năm. Chắc hai bà có gặp nhiều khó khăn. Hồ Chủ tịch muốn báo để hai bà biết: Chính phủ Việt Nam từ nay sẽ trợ cấp cho hai bà hàng tháng mỗi bà 500 đồng để chi dùng trước thời buổi khó khăn này. Nếu hai bà thấy không có gì trở ngại mà vui lòng chấp thuận, tôi sẽ báo cáo với Hồ Chủ tịch”.

Nghe xong, hai bà Thành Thái, Duy Tân tỏ ra vô cùng xúc động. Sau phút im lặng, bà Thành Thái cảm động nói: “Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ, từ ngày chồng và con tôi vì lòng mong muốn cho nước nhà độc lập tự chủ, nên bị Pháp bắt đầy quê người đất khách. Chúng tôi phải lâm vào cảnh sống lẻ loi, cô đơn không ai để ý. Ngay trong hoàng tộc nhiều người cũng sợ phải liên lụy. Bản thân tôi phải nương nhờ cửa Phật lần lữa qua ngày. Không ngờ! Thật là không ngờ! Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mới thành lập mấy tháng nay, “quốc gia đại sự” dồn dập, mà Cụ Chủ tịch đã nghĩ ngay đến chúng tôi, gửi lời thăm hỏi ân cần, lại còn gửi tặng cho tôi và dâu tôi, bà Duy Tân, một món trợ cấp hàng tháng rất hậu hĩ. Chúng tôi quả thật đứng trước một bất ngờ rất lớn! Rất cảm kích! Nghẹn ngào! Xúc động quá! Biết nói lời gì để xứng đáng với lòng chiếu cố của Người”. Bà Duy Tân thì xúc động nói: “Chúng tôi sống lẻ loi, cô đơn. Phải chịu đựng mấy chục năm nay với hoàn cảnh hết sức khó khăn. Chỉ có Hồ Chủ tịch mới nghĩ đến chúng tôi. Xin cảm ơn Hồ Chủ tịch”.

2. Thực dân Pháp xâm lược nước ta. Những đoàn quân Nam tiến và sau đó Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Chính phủ cách mạng lên Việt Bắc chỉ đạo toàn quốc đánh thực dân Pháp. Không thực hiện được âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”, thực dân Pháp chuyển sang chiêu bài “dùng người Việt trị người Việt” và đưa Vĩnh Thụy (đang ở nước ngoài) về lập làm “Quốc trưởng” Bảo Đại. Từ Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cụ Ưng Úy (Thượng thư Bộ Lễ thời Bảo Đại, chú ruột Bảo Đại) lúc đó đang ở Huế. Bức thư viết:

“Kính gửi cụ Ưng Úy tại Huế,

Trước hết, tôi xin gửi lời thăm sức khỏe của cụ và quý quyến, xin chúc cụ được nhiều sức khỏe. Sau đây, xin mời cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc.

Việt Bắc ngày 25-1-1948

HỒ CHÍ MINH”

Lên tới Chiến khu Dương Hòa (xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế), hoàng thân Ưng Úy đã ra tuyên bố: “Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong hoàng gia – nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một đôi phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ một phần uất trong lúc tuổi già”. Sau một thời gian ở Chiến khu Dương Hòa, trung ương bố trí đón hoàng thân Ưng Úy ra vùng tự do Liên khu 4. Báo Cứu Quốc ra ngày 12-11-1949 đăng tin trên trang nhất: “Cụ Ưng Úy làm Trưởng ban Vận động tòng quân tại Liên khu 4”.

So-608--Anh-minh-hoa---Tam-long-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-doi-voi-hoang-toc-nha-Nguyen-sau-Cach-mang-Thang-Tam-1945---Anh-4
Bác sĩ Tôn Thất Tùng (người mặc complet bên trái) dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm
Bệnh viện Việt – Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10-10-1954). (Ảnh tư liệu lịch sử)

Sau này, hoàng thân Ưng Úy nhớ lại: “Cụ Hồ thiệt nhơn đức. Ổng đã cứu thằng cháu ta thoát khỏi đoạn đầu đài, còn cho ngôi Cố vấn tối cao. Vậy mà… chừ nó lại ký cái hiệp ước Élysée, nhận mần vai quốc trưởng ô nhục như rứa…”. Hiệp ước Élysée chính là một văn kiện được ký kết ngày 8-3-1949 giữa Bảo Đại và Tổng thống Pháp, theo đó Pháp giở trò “công nhận” quốc gia Việt Nam là một nước “độc lập” nhưng “nằm trong Liên hiệp Pháp”. Trong cuốn “Bảo Đại – hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam”, Daniel Grandclément viết: “Quen sung sướng, quen được cung phụng, Bảo Đại dường như chưa bao giờ nghĩ đến việc đi tìm độc lập bằng con đường nếm mật nằm gai như các vua Hàm Nghi, Duy Tân trước ông. Ông đã khước từ những cơ hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra, mang đến cho ông… Khước từ cơ hội đi chung đường với cả dân tộc, dù ông đã cùng chính phủ cộng hòa non trẻ ngồi họp bàn từ việc lớn đến việc nhỏ trong những ngày khai sinh nhà nước. Con đường mà Bảo Đại chọn cuối cùng đã dẫn đến kết cục ông hoàng bị quét đi như quét một hạt bụi vô giá trị…”. Mặc dù vậy, trong số những “con vua, cháu chúa” nhà Nguyễn, rất nhiều người trong hoàng tộc đã tham gia kháng chiến trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội. Nổi bật nhất là nhà ngoại giao Tôn Thất Vỹ, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ Tôn Thất Tùng.

Nhà ngoại giao Tôn Thất Vỹ (1914-2014) là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III; Nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – hành chính tỉnh Khánh Hòa; Nguyên Bí thư Đảng đoàn, Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung bộ; Nguyên Liên khu ủy viên dự khuyết, Chánh Văn phòng Liên khu ủy; Nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ quan hệ Bắc Nam, Ban Thống nhất Trung ương; Nguyên Chủ nhiệm Báo Thống nhất; Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin; Nguyên Phó trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris; Nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương… Chính vì vậy ông có biệt danh là “Ông hoàng cộng sản”.

Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ (1914-1985), tên thật Nguyễn Phúc Dương Kỵ, là cháu 4 đời của vua Gia Long. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 là Thư ký Liên đoàn văn hóa cứu quốc Thừa Thiên. Năm 1964, tại Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, ông được cử vào Ủy ban Trung ương. Năm 1968, ông được cử làm Bí thư Đảng đoàn, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam. Sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), ông được bầu làm Ủy viên thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bác sĩ Tôn Thất Tùng (1912-1982) là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan. Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông được chính quyền cách mạng cử làm Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn và cùng với giáo sư Hồ Đắc Di, ông đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y Hà Nội. Ông cũng được cử làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y ở Bộ Quốc phòng. Cũng trong thời gian này, cùng với bác sĩ Đặng Văn Ngữ, ông đã góp phần sản xuất Penicilline phục vụ thương bệnh binh trong điều kiện dã chiến. Năm 1947, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế và giữ chức vụ này cho tới năm 1961. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Bác sĩ Tôn Thất Tùng chia sẻ: “Ôn lại những bài học Bác dạy, tôi càng thấm thía sự ân cần của Bác đối với tôi như tình cha, con: “Chú phải sống như người ta, làm như người ta mới có thể cảm hóa người ta”, “Cái gì lợi cho nước thì làm, không lợi thì không làm”, “Muốn thành công việc gì, trước hết phải đoàn kết với nhau; thiếu đoàn kết, không bao giờ làm được việc gì”. Nghĩ lại, nếu quả tôi đóng góp chút gì về khoa học, chính là nhờ tôi biết học và hành bài học đoàn kết của Bác Hồ”.

Huế, ngày 7-8-2020

Nguyễn Văn Toàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 608

Ý Kiến bạn đọc