Tản văn

Tấm bình phong đặt ngược

(Đọc truyện ngắn “Không ra nước mắt” của Hồ Anh Thái trên báo Tuổi Trẻ, số Xuân Mậu Tuất)

Hồ Anh Thái là nhà văn đương đại nổi tiếng của Việt Nam, là một hiện tượng văn chương của thế hệ văn nhân thời hậu chiến sau 1975. Ông không chỉ nổi tiếng trong nước mà tác phẩm của ông còn được dịch ra nhiều thứ tiếng. Các tác phẩm của ông đã thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều nhà văn, nhà phê bình tên tuổi. Tôi không dám bình luận, nhận xét về những tác phẩm của ông. Tôi chỉ viết như một độc giả cảm nhận về một tác phẩm gây ấn tượng mạnh với mình: Truyện ngắn “Không ra nước mắt” trên báo Tuổi Trẻ, số Xuân Mậu Tuất.

Trước hết phải thú thật, tôi ít đọc báo xuân. Thứ nhất do giá cao; mấy chục ngàn tuy không nhiều với một cuốn báo xuân in ấn công phu, đẹp đẽ nhưng mỗi năm có bao nhiêu tờ báo xuân ra đời, chỉ cần mua vài chục tờ thì cũng là khoản không nhỏ đối với những người nghèo như tôi rồi. Chưa kể báo xuân thường 100 trang thì có đến 50 trang là quảng cáo. Nội dung cần đọc chẳng còn được bao nhiêu. Thứ hai, những bài trên báo xuân thường là không hay. Người đã từng viết báo, ai cũng biết báo xuân là dành cho những sáng tác ca ngợi, hào hùng, vui tươi, nhẹ nhàng. Người viết bài cho báo xuân, đa phần là những tác giả chuyên nghiệp, tên tuổi, chủ yếu là sáng tác để lấy nhuận bút cao chứ không phải rút ruột rút gan ra mà viết những điều đau đáu trong lòng. Như vậy bảo báo xuân hay mới là lạ. Tóm lại, do suy nghĩ kiểu đó nên báo xuân ra đã mấy tháng rồi thì tôi cũng mới mở tờ báo Tuổi Trẻ số Xuân Mậu Tuất ra bữa trước và đọc truyện ngắn “Không ra nước mắt” của Hồ Anh Thái tối qua.

So-495--Anh-minh-hoa---Tam-binh-phong-dat-nguoc---Anh-1

Trước hết nói về cái tên “Không ra nước mắt” không xuân, chẳng Tết, vô thưởng vô phạt, chả đoán được gì. Dĩ nhiên cái tên không phải là quá quan trọng với một truyện ngắn, như một cô gái đẹp không nhất thiết phải có một cái tên đẹp, một người gan dạ không nhất thiết phải mang một cái tên anh hùng. Ngoài ra, thì biên tập viên của báo hoàn toàn có thể đổi tên tác phẩm cho phù hợp, đôi khi chẳng cần hỏi ý tác giả. Nói dài dòng như thế để giải thích rằng, cho đến khi cầm tờ báo lên, đọc cái tên rồi, tôi vẫn nghĩ dù cái ông Hồ Anh Thái tiếng tăm lừng lẫy có giọng văn giễu nhại, sâu cay, đáng sợ đến thế nào thì khi gửi bài cho báo xuân nếu tên truyện không nhắc đến xuân thì nội dung của nó ít nhiều cũng dính dáng đến đào, mai, giêng, hai, lễ hội… Thế nhưng, tôi lại nhầm; nội dung chuyện cũng chẳng dính dáng gì đến xuân.

Chuyện kể về một cô giáo trẻ, một giảng viên khoa lịch sử, tên Diệp. Diệp nhận được học bổng học cao học tại Ấn Độ. Cô “Nhắm mắt lên đường theo cái vé máy bay trường gửi cho. Trong túi không một xu”. Ngày ấy chưa có điện thoại di động, cô chẳng quen ai và cũng “không có tài liệu gì về thành phố mình sẽ đến, không có thông tin về ngôi trường mình sẽ học”. Rủi ro thay, cô đến trễ và trường không nhận. Vé máy bay của cô là vé một chiều, muốn về nước không được, muốn ở trọ cũng không xong. Trong tình trạng tuyệt vọng chẳng có gì hết và cũng không biết gì hết ấy, cô đã được những người không quen, mới gặp lần đầu ở sân bay cưu mang, giúp đỡ. Họ, nhất là bà mẹ người Ấn, đã chăm sóc, lo lắng cho cô vô cùng chu đáo. Họ giúp cô chỗ ăn ở, dẫn cô đi chơi, giới thiệu cho cô những địa danh, thắng cảnh ý nghĩa của Nam Ấn. Hướng dẫn cho cô từ cách nấu các món ăn Ấn cho đến phong tục, văn hóa, tính cách con người Ấn Độ. Họ cũng giúp cô trong cả những việc khó khăn, phức tạp nhất là liên hệ, yêu cầu, thúc giục Hội đồng Quan hệ văn hóa ICCR (Indian Council for Cultural Relations), một cơ quan của Bộ Ngoại giao Ấn Độ để tìm trường khác cho cô. Trong vòng một tháng, Diệp dường như chỉ biết khóc ấy “Họ đã đẩy tung những cánh cửa tưởng như đóng, họ khai thông những đường ống tưởng như bế tắc. Cuối cùng họ đã thành công. Hội đồng thông báo đã tìm ra được một trường đại học sắp khai giảng đồng ý nhận Diệp. Trường ấy ở thủ đô New Delhi. Cô được cấp cho một cái vé tàu để đi hơn hai nghìn cây số lên phía Bắc”. Khi Diệp đi, họ cũng chuẩn bị cho cô chu đáo hơn cả người ruột thịt “Hành lý bây giờ thêm cả xoong nồi bát đĩa thìa inốc bà Vimala mới mua cho Diệp đến nơi có mà dùng ngay. Bà Vimala còn đưa một miếng trầu, bắt Diệp ăn luôn, để lấy may”. Trong lòng Diệp cảm động nhưng sự đời trớ trêu, lúc ấy cô chẳng làm sao mà nhỏ được một giọt nước mắt.

Truyện ngắn nếu chỉ dừng lại ở đây thì đúng là phù hợp đăng vào số Tết, nghĩa là ngoài những chi tiết hấp dẫn về địa danh, con người, văn hóa Ấn Độ, vốn là một thế mạnh của Hồ Anh Thái, nó chẳng đọng lại gì. Thế nhưng, nếu chỉ đơn giản thế thì đây đã không còn là văn của Hồ Anh Thái, người mà bất cứ tác phẩm lớn nhỏ nào cũng phải gửi đi những thông điệp sâu sắc về “cõi người”.

Nội dung chính của câu chuyện nằm trong phần thứ hai của truyện ngắn. Nó giản dị, ngắn gọn tới mức có thể thuộc được. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, bình thản đến thờ ơ, ông kể: “Gần 2 năm sau, có lần tôi từ đại sứ quán ở thủ đô New Delhi đi công tác xuống miền Nam, đến thành phố Bangalore. Một buổi sáng tôi đến thăm nhà Ravi… Bà mẹ dẫn tôi vào một căn buồng, kéo rèm, mở cửa sổ rồi bảo, đấy căn phòng lúc nó ở như thế nào thì bây giờ vẫn nguyên xi như thế”. “Gần hai năm sau” nghĩa là khi ấy Diệp vẫn còn đang học ở New Delhi, chưa về nước. “Trên mặt bàn có một cái bình phong nho nhỏ gồm bốn tấm sơn mài xuân hạ thu đông, chắc là khi Diệp ở đây, cô đã lấy tấm sơn mài mỹ nghệ Việt Nam từ vali ra, đặt lên đấy như một mảnh Việt Nam ghép vào khung cảnh xứ Ấn. Tôi nói cái bình phong đã bị đặt ngược. Cành hoa đào mùa xuân với đôi chim rõ ràng là chúc đầu xuống dưới. Mẹ Ravi bật cười, hằng ngày tôi lau dọn cái bàn và chắc là tôi đã đặt ngược đấy”.

Tôi đã đọc khá nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái và thấy những thông điệp ông muốn nhắn gửi không mấy khi hiện ra lộ liễu. Chúng ẩn giấu trong những tình thế, chi tiết, câu nói rất giản dị, bình thường. Và chi tiết đầy ẩn ý “tấm bình phong đặt ngược” của “Một mảnh Việt Nam ghép vào khung cảnh xứ Ấn” cũng vậy. Nó bắt người đọc phải so sánh và liên tưởng. Người bản xứ biết về văn hóa Việt qua cách cư xử của người Việt Nam. Mỗi thái độ, hành vi, lời nói của người Việt đều là một “mảnh nhỏ” tạo ra văn hóa Việt Nam, và trong văn hóa Việt Nam thì đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” giữ một vị trí quan trọng. Ai đã giúp mình một lần thì phải nhớ ơn, ai đã chỉ dạy, bảo ban mình một chút cũng phải tôn làm thầy “một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”. Vậy mà… Tuy nhiên, nếu chuyện dừng ở đây thì người đọc cũng vẫn có những lý do để bênh vực và tha thứ cho Diệp. Một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm sống, yếu đuối, không tiền bạc, giàu nước mắt (thường được coi là giàu tình cảm), biết đâu vì lý do bất khả kháng nào đó không thể trở lại thăm gia đình ân nhân trong hai năm học ở Ấn được. Nhưng hãy đọc tiếp đoạn sau: “Cô ấy học xong về nước, làm giám đốc sở ở một tỉnh, rồi lên trung ương làm quản lý trong ngành du lịch”. Cuối cùng tác giả như là tiện thể, thêm vào mấy dòng: “Gần đây có lần tôi sực nghĩ ra, liền bảo Diệp nên sang thăm lại nhà Ravi. Từ Hà Nội sang Bangkok một tiếng rưỡi, từ Bangkok bay tiếp sang Bangalore ba tiếng rưỡi, đường bay như thế không phải là xa”. Giọng văn bình thản, nhẹ nhàng, không lên gân, nhấn mạnh, chẳng day dứt, răn dạy gì đó khiến người đọc phải “khóc mà không ra nước mắt”. Chua chát quá cho văn hóa ứng xử của một người có trách nhiệm mang văn hóa Việt quảng bá ra thế giới. Một tháng giúp đỡ, cưu mang, bảo ban, chỉ dạy cho một người hoàn toàn xa lạ. Đừng nói đến chuyện không đồng hương, không cùng văn hóa, nghề nghiệp, ngôn ngữ, quốc tịch, đến anh em bạn bè cũng khó có thể làm thế. Vậy mà từ năm 1992 tới khi tác giả kể câu chuyện từ một cô giáo trẻ vô danh trở thành một người quản lý ngành du lịch, với tất cả những điều kiện tốt nhất, Diệp đã không một lần sang Ấn, về căn nhà có bà mẹ già đến lúc chết vẫn thương nhớ, vẫn tự hào vì cô gái Việt, mà số phận đã đưa đẩy đến nhà bà.

Tự nhiên lại nhớ tới suối nước mắt của Diệp. Đó là những giọt nước mắt mà những phụ nữ khôn ngoan và giả tạo thường dùng như vũ khí hay đó là nước mắt mà những kẻ ích kỷ, yếu kém thường phun như mưa vì thương thân khi đứng trước khó khăn? Buồn!

Dù chẳng muốn suy diễn xa xôi gì nhưng khi đọc xong truyện ngắn không thể không giật mình tự hỏi: Trong cuộc đời nói dài cũng rất dài nói ngắn cũng rất ngắn này đã bao nhiêu lần do hối hả và vô tâm mình đã vô tình thành người vô ơn, bạc nghĩa như nhân vật cô Diệp trong chuyện kia. Ngay lúc này thì chưa nhớ ra, chẳng biết lúc nhớ ra có còn bị ám ảnh với cái tấm bình phong nho nhỏ bị đặt ngược trong chuyện không nữa!?

Vũng Tàu, ngày 27/3/2018

Bùi Đế Yên
(Hội VHNT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 495

Ý Kiến bạn đọc