Ngoài nước

“Tái cấu trúc” Mỹ Latinh và âm mưu của Hoa Kỳ ở Venezuela

 

Tây bán cầu là khu vực của chúng tôi – Michael Pompei, Ngoại trưởng Hoa Kỳ.

Kể từ khi Hoa Kỳ tuyên bố Học thuyết Monroe về “quyền tối cao” của họ đối với Mỹ Latinh từ gần 200 năm trước, Nhà Trắng đã luôn công khai khẳng định “sứ mệnh” của họ thống trị Mỹ Latinh.

Thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI đã chứng kiến, bằng cả lời nói và hành động, sự “tái cấu trúc” ráo riết và triệt để nhất của Hoa Kỳ đối với Mỹ Latinh, thể hiện công khai là một kẻ xâm chiếm thuộc địa với sức mạnh cường quốc đế quốc.

1. Sơ lược về lịch sử thực dân hóa và phi thực dân hóa thế kỷ xx ở Mỹ Latinh

Hoa Kỳ thực hiện chính sách thực dân ở Mỹ Latinh dựa trên các can thiệp trực tiếp về quân sự, kinh tế, văn hóa và chính trị, đặc biệt chú trọng vào Trung Mỹ, Bắc Mỹ (Mexico) và Caribê. Washington đã phát động các cuộc xâm lược quân sự, để áp đặt các lợi thế thương mại và đầu tư, thành lập và huấn luyện các lực lượng quân sự tay sai để duy trì sự thống trị thực dân và để đảm bảo sự phục tùng tối cao của khu vực và toàn cầu đối với Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ đã ép các cường quốc thực dân châu Âu khi đó – đặc biệt là Anh và Đức – đưa họ xuống vị thế bên lề, thông qua các áp lực quân sự, kinh tế và các mối đe dọa. Tuy nhiên, quá trình bành trướng của Hoa Kỳ đã phải chịu những thất bại nặng nề ở một số quốc gia do cuộc Đại suy thoái làm suy yếu kinh tế và sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ, tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các chế độ và phong trào dân tộc mạnh mẽ, đặc biệt ở Argentina, Brazil, Chile, Nicaragua và Cuba. Quá trình cách mạng đã dẫn đến việc quốc hữu hóa các mỏ dầu, ngành mía đường và khai thác mỏ của Hoa Kỳ. Các quốc gia đưa ra những thay đổi trong chính sách đối ngoại, với sự độc lập lớn hơn, cũng như ban hành luật lao động tiến bộ tăng quyền lợi cho người lao động và liên minh cánh tả.

Trục lợi từ Thế chiến II, uy quyền kinh tế của Hoa Kỳ được củng cố là điều kiện để Washington tái khẳng định chế độ thuộc địa của mình ở Tây bán cầu. Các chế độ ở nhiều nước Mỹ Latinh đã về phe với Washington trong các cuộc chiến tranh Lạnh và Nóng, ủng hộ các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ chống lại Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam và cuộc đối đầu chống Liên Xô và Đông Âu. Mặt khác, Washington đã thông qua các chế độ độc tài tay sai của mình, xâm chiếm nền kinh tế Mỹ Latinh, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản và nông nghiệp. Mỹ đã tiến hành chiếm lĩnh thị trường và tìm cách áp đặt các tổ chức Công đoàn thuộc địa được điều hành bởi AFL-CIO, hoạt động vì quyền lợi của đế quốc.

So-538--Tai-cau-truc-My-Latinh-va-am-muu-cua-Hoa-Ky-o-Venezuela---Anh-1

Đầu những năm 1960, một làn sóng các phong trào dân tộc và xã hội chủ nghĩa đã thách thức trật tự thực dân, dẫn đầu bởi cuộc cách mạng Cuba và các chính phủ quốc gia trên khắp lục địa bao gồm Argentina, Bolivia, Venezuela, Peru, Ecuador và Cộng hòa Dominican. Các công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ đã buộc phải tham gia vào các liên doanh hoặc bị quốc hữu hóa, trong các ngành công nghiệp, khoáng sản và năng lượng. Những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Mỹ Latinh đã tiến hành thay thế nhập khẩu bằng các sản phẩm nội địa, coi đó là chiến lược phát triển. Một quá trình “khử màu” để thoát khỏi sự lệ thuộc vào Mỹ đã được tiến hành!

Trước nguy cơ mất “sân sau”, Hoa Kỳ đã phản ứng một cách điên cuồng, phát động các cuộc chiến tranh để tái chiếm Mỹ Latinh bằng cách thông qua các cuộc đảo chính quân sự, các cuộc xâm lược trực tiếp và thao túng các cuộc bầu cử. Mỹ Latinh một lần nữa lại “xếp hàng” sau Mỹ trong các hành động bao vây phong tỏa kinh tế Cuba và đàn áp các chính phủ theo đường lối độc lập khác trong khu vực. Hoa Kỳ tác động, o ép để đảo ngược các chính sách dân tộc, thao túng nền kinh tế của họ thông qua các tổ chức tài chính quốc tế – như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ thuộc Ngân hàng Thế giới (WB).

Quá trình “tái cấu trúc” được tiến hành suốt những năm 1970 và 1980, dưới sự bảo trợ của các chế độ quân sự mới được dựng lên cùng các giá trị theo học thuyết thị trường “tân tự do” được áp đặt. Một lần nữa, việc này đã dẫn đến sự phân cực gay gắt trong xã hội Mỹ Latinh, trong đó giới “tinh hoa” thuộc địa trong nước chỉ là một thiểu số riêng biệt. Hơn nữa, học thuyết kinh tế thuộc địa cho phép các ngân hàng và nhà đầu tư Hoa Kỳ cướp bóc các nước Latinh, áp đặt các gánh nặng nợ ngoài tầm kiểm soát, phi công nghiệp hóa các nền kinh tế, thất nghiệp gia tăng nghiêm trọng và giảm mức sống.

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, việc thực dân hóa sâu sắc đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế và sự hồi sinh của các phong trào quần chúng, làn sóng mới của các phong trào dân tộc tìm cách lật đổ – ít nhất là một phần – mối quan hệ thuộc địa. Các khoản nợ thuộc địa được đàm phán lại hoặc xóa nợ, một số công ty nước ngoài bị quốc hữu hóa, tăng thuế đối với các nhà xuất khẩu nông nghiệp, tăng chi tiêu phúc lợi công cộng để giảm nghèo, tăng lương và tiền công…

Tuy nhiên, những thay đổi đó không giải quyết được triệt để cấu trúc thuộc địa, nó chỉ tác động được đến một khu vực hạn chế của nền kinh tế, chủ yếu chỉ làm tăng mức tiêu thụ chứ chưa thể thay đổi cơ cấu tài sản và sức mạnh tài chính. Chủ nghĩa thực dân Hoa Kỳ ở Mỹ Latinh vẫn tồn tại thông qua giới tinh hoa quyền lực thuộc địa, giảm thiểu sự hiện diện trực tiếp của Hoa Kỳ.

2. “Tái cấu trúc” Mỹ Latinh, Brazil, Argentina và Hiệp ước Lima chống Venezuela

Sức mạnh đế quốc có thể bị giảm thiểu và Hoa Kỳ có thể mất một vài tay sai trong khu vực, nhưng trong khi họ vẫn có vai trò nắm giữ các đòn bẩy sức mạnh quân sự và kinh tế thì vẫn có thể và sẽ sử dụng tất cả các công cụ quyền lực đó để tái tổ chức lại khu vực, theo cách tiếp cận từng bước, nhằm bảo vệ uy quyền của Hoa Kỳ đối với Tây bán cầu.

Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI mở ra với việc nhiều chính phủ và phong trào Mỹ Latinh bắt đầu quá trình phi tập trung hóa, thay thế các chế độ con rối của Hoa Kỳ thông qua bầu cử dân chủ, vươn lên dẫn đầu trong các tổ chức khu vực mới hình thành ngoài vòng cương tỏa của Hoa Kỳ, đa dạng hóa thị trường và đối tác thương mại của họ.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo và các đảng cánh tả vẫn chưa đủ khả năng và không muốn phá vỡ hoàn toàn mối quan hệ chính trị với giới tinh hoa địa phương vốn luôn gắn liền với dự án thuộc địa của Hoa Kỳ. Dễ bị tổn thương trước những biến động của tình hình, các liên minh chính trị mới tiến bộ nhưng không đồng nhất và không thể tạo ra hoặc làm sâu sắc thêm văn hóa chống thực dân – những điểm yếu đó của cánh tả khiến Hoa Kỳ có nhiều cơ hội thiết lập lại dự án thuộc địa của mình.

Đầu tiên, Hoa Kỳ đánh vào những “liên kết yếu nhất” của tiến trình cách mạng Mỹ Latinh. Các cuộc đảo chính được Mỹ hậu thuẫn ở Honduras và Paraguay. Sau đó, Washington chuyển sang tấn công chính trị bằng cách tác động thay đổi hệ thống Tư pháp và Quốc hội của các nước có vị trí chiến lược là Argentina và Brazil, cũng như các chế độ thứ cấp ở Ecuador, Chile, Peru và El Salvador, đưa các nước này trở lại quỹ đạo của Hoa Kỳ.

Khi quá trình “tái cấu trúc” tiến triển, Hoa Kỳ lấy lại sự thống trị của mình trong các tổ chức khu vực và quốc tế. Các chế độ thuộc địa đã nhanh chóng tư nhân hóa các nền kinh tế của họ, trở thành lệ thuộc vào Hoa Kỳ và Washington nhanh chóng trói buộc họ vào các khoản nợ khổng lồ khác nhau, kể cả những khoản nợ mà chế độ trước đã phủ nhận trách nhiệm.

Nắm được khu vực, Hoa Kỳ liền tập trung hướng mũi tiến công chính nhắm vào chính phủ Venezuela, một quốc gia giàu có, năng động và là một Nhà nước có tinh thần chống đế quốc mạnh mẽ nhất ở Mỹ Latinh.

Venezuela bị trở thành mục tiêu vì nhiều lý do chiến lược. Đầu tiên, từ thời Tổng thống Hugo Chavez đất nước này đã mạnh mẽ phản đối chính sách thuộc địa toàn cầu cũng như bá quyền khu vực của Hoa Kỳ. Thứ hai, Caracas đã cung cấp nguồn tài chính để củng cố và thúc đẩy các chế độ chống thực dân trên khắp châu Mỹ Latinh, đặc biệt là ở vùng Caribbean và Trung Mỹ. Thứ ba, Venezuela đã thực hiện một chương trình xã hội sâu sắc và toàn diện, xây dựng trường học và bệnh viện với giáo dục và chăm sóc sức khỏe miễn phí, thực phẩm và nhà ở được trợ cấp; chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa của Venezuela hoàn toàn tương phản với Mỹ, một chế độ luôn tìm cách thủ tiêu mọi phúc lợi xã hội. Thứ tư, tài nguyên thiên nhiên của Venezuela, đặc biệt là dầu mỏ, là mục tiêu chiến lược trong chương trình nghị sự của đế quốc Washington.

Trong khi Mỹ thành công trong các cuộc đảo chính lật đổ, hoặc loại bỏ các đồng minh của Venezuela bằng nhiều cách ở phần còn lại của Mỹ Latinh, thì các nỗ lực lặp đi lặp lại của họ để khuất phục Venezuela lại luôn gặp thất bại. Một cuộc đảo chính đã bị đánh bại, cũng như một cuộc trưng cầu dân ý nhằm mục đích phế truất Tổng thống Hugo Chavez. Các biện pháp bao vây của Hoa Kỳ và việc tác động vào các cuộc bầu cử cũng đã thất bại trong việc lật đổ chính phủ Venezuela. Washington đã không thể gây áp lực cũng như không thể có được sự ủng hộ của đông đảo dân chúng hoặc quân đội Venezuela.

Khi kỹ thuật đảo chính, từng thành công trong việc áp đặt chế độ thuộc địa ở nhiều nơi khác, bị thất bại ở Venezuela – Hoa Kỳ đã chuyển sang một cuộc chiến tổng lực nhằm lật đổ Maduro, thông qua các hành động chiến tranh cả về quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa.

Nhà Trắng chính là người “bổ nhiệm” Juan Guaido, vốn vẫn chỉ là một ẩn số mờ nhạt, là “Tổng thống lâm thời”. Guaido vốn được bầu vào Quốc hội chỉ với 25% số phiếu trong quận nhà của anh ta. Washington đã chi hàng triệu đô la để hỗ trợ Guaido, tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nhân quyền trá hình để bôi nhọ chính phủ Venezuela và tiến hành các cuộc tấn công bạo lực nhằm vào lực lượng an ninh.

Nhà Trắng đã ép các chế độ con rối trong khu vực và ở châu Âu công nhận Guaido là “Tổng thống hợp pháp”. Washington đã tuyển dụng những quốc gia hàng đầu Liên minh châu Âu làm quân xung kích, đặc biệt là Anh, Pháp và Đức để cô lập Venezuela. Hoa Kỳ đã tìm cách xâm nhập và lật đổ Venezuela thông qua cái gọi là viện trợ nhân đạo, từ chối làm việc thông qua Hội Chữ thập đỏ và các tổ chức độc lập khác.

Nhà Trắng đã ấn định ngày cuối tuần 23 – 24 tháng 2/2019 là thời điểm hất cẳng Tổng thống Maduro. Đó là một thất bại hoàn toàn của Washington. Hoa Kỳ tuyên bố Lực lượng Vũ trang Venezuela sẽ đào thoát và đứng về phe đối lập do Mỹ tài trợ – nhưng chỉ một số rất nhỏ trong số 260.000 người lính Quân đội Bolivar đã làm như vậy. Quân đội vẫn trung thành với nhân dân, chính phủ và hiến pháp Venezuela, bất chấp các khoản hối lộ và hứa hẹn khác.

Washington tuyên bố “người dân” ở Venezuela sẽ phát động một cuộc nổi dậy và hàng trăm ngàn người sẽ vượt qua biên giới. Kết quả là, ngoài vài chục tên côn đồ đường phố quăng bom Molotov, không có cuộc nổi dậy nào diễn ra và chưa đến vài nghìn người cố gắng vượt qua biên giới.

Hàng tấn “viện trợ” của Mỹ đến nay vẫn nằm trong kho của Colombia và Brazil. Ngay cả việc những tên khiêu khích thiêu hủy hai chiếc xe tải “viện trợ” cũng bị lộ tẩy, các phương tiện trong ngọn lửa vẫn ở bên kia biên giới Colombia. Cuộc cấm vận của Hoa Kỳ nhằm vào xuất khẩu dầu của Venezuela thành công một phần chỉ là do Washington ngang nhiên chiếm giữ trái phép doanh thu xuất khẩu của Venezuela. Nhóm Lima do Mỹ tạo ra đã thông qua các nghị quyết thù địch với Venezuela, ủng hộ Trump và Guaido, nhưng rất ít cử tri trong khu vực coi trọng tuyên bố của họ.

3. Phần kết luận

Tại sao Nhà Trắng thất bại trong việc tái chiếm Venezuela như đã làm ở phần còn lại của Mỹ Latinh?

Các quốc gia được Mỹ “tái cấu trúc” ở Mỹ Latinh mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư Mỹ một cách dễ dàng, với thuế thấp và chi phí lao động xã hội rẻ mạt, sự ổn định chính trị và kinh tế chỉ là bề mặt, dựa trên việc đàn áp những người lao động và các cuộc đấu tranh giải phóng quốc gia.

Các chế độ thuộc địa đó dự kiến sẽ hỗ trợ việc phong tỏa, đảo chính và xâm lược, kể cả cung cấp quân đội theo lệnh của Hoa Kỳ. Các chế độ thuộc địa đó xung kích cho Mỹ trong các cuộc xung đột và đàm phán quốc tế, trong các hội nghị của các tổ chức khu vực, họ bỏ phiếu theo chỉ đạo của Hoa Kỳ, ngoan ngoãn đáp ứng các khoản thanh toán cho Hoa Kỳ đúng hạn và đầy đủ.

Các quốc gia con rối đó đảm bảo kết quả thuận lợi cho Washington bằng cách thao túng bầu cử và các quyết định tư pháp bằng cách loại trừ các ứng cử viên có tư tưởng chống thực dân đế quốc, bắt và giam giữ các nhà hoạt động chính trị cánh tả. Các chế độ của họ phục vụ cho quyền lợi của Washington, đưa ra các nghị quyết thay mặt Hoa Kỳ trong các tổ chức khu vực.

Trong trường hợp của Venezuela, họ thúc đẩy và tổ chức các tổ chức khu vực như Tập đoàn Lima để thực thi chính sách can thiệp của Hoa Kỳ. Khi Washington tiến hành gây bất ổn cho Venezuela, các đồng minh thuộc địa lập tức đẩy mạnh tuyên truyền cho Hoa Kỳ, đưa ra các biện pháp thực thi lệnh “trừng phạt” của Hoa Kỳ đối với Venezuela, khuyến khích những kẻ đào tẩu và tị nạn đối lập. Tóm lại, giới tinh hoa Mỹ Latinh được “tái cấu trúc” sẽ tạo mọi điều kiện cho sự cướp bóc trong nước và các cuộc chinh phạt ở nước ngoài theo chiến lược khu vực của Hoa Kỳ.

Thành công của Venezuela trong việc chống lại nỗ lực tái chiếm của Hoa Kỳ là kết quả của các nhà lãnh đạo quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa, tìm cách phân bổ lại của cải tư nhân và phân phối lại chi tiêu công cho công nhân, nông dân và những người thất nghiệp. Từ thời Tổng thống Hugo Chavez, Venezuela đã tuyển mộ và đào tạo các lực lượng quân sự và an ninh trung thành với trật tự hiến pháp và phù hợp với một chương trình nghị sự kinh tế xã hội chủ nghĩa chống thực dân đế quốc. Venezuela đảm bảo rằng các cuộc bầu cử và các vấn đề tư pháp là tự do, phù hợp với nhu cầu chính trị của đa số nhân dân. Venezuela đã xây dựng được lực lượng quân đội độc lập với các cơ quan quân sự và các cơ quan viện trợ Hoa Kỳ luôn có âm mưu đảo chính, phục vụ cho quyền lợi của nước ngoài và thiểu số các nhà tư bản chứ không trung thành với nhà nước của quốc gia.

Nền dân chủ xã hội Venezuela, những tiến bộ xã hội, giảm nghèo đói và bất bình đẳng, góp phần củng cố các cam kết đối với các giá trị văn hóa nội sinh và chủ quyền quốc gia. Sự thao túng của Hoa Kỳ đối với các chư hầu thuộc địa trên khắp châu Mỹ Latinh và châu Âu, mặc dù Washington nắm giữ các phương tiện truyền thông đại chúng toàn cầu, nhưng nó không thể ảnh hưởng đến ý chí của giai cấp lao động trên phạm vi toàn thế giới.

Bất chấp các mối đe dọa của Hoa Kỳ về một “lựa chọn quân sự”, trước sự kháng cự ngoan cường với quy mô quần chúng rộng rãi ở Venezuela, Washington đã phải do dự. Mặt khác, nhóm Mỹ Latinh thuộc địa đang rơi vào khủng hoảng kinh tế và xã hội và sự phản kháng chính trị sâu sắc trong nước, châu Âu thì đang phải đối đầu với sự chia rẽ, có thể dẫn tới tan rã, Washington liên tục sa vào các cuộc đấu đá giữa các đảng phái cũng như một cuộc khủng hoảng hiến pháp lan rộng.

Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ trong âm mưu khuất phục Venezuela có thể tạo ra một làn sóng đấu tranh phi thực dân hóa mới, buộc Mỹ phải điều chỉnh lại các chính sách đối ngoại và đối nội của mình. Cuộc đấu tranh của Venezuela, Mỹ Latinh và các quốc gia khác trên toàn thế giới còn nhiều cam go phía trước nhưng chắc chắn đã và đang đóng góp lớn cho xu thế tiến bộ, mở ra một cao trào cách mạng mới trên toàn cầu.

Ngô Mạnh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 538

Ý Kiến bạn đọc