Tản văn

Tác giả Quốc ca vẽ tác giả Quốc kỳ

Cha tôi chơi thân với nhà văn Sơn Tùng, một nhà văn nổi tiếng có nhiều tác phẩm viết về Bác Hồ. Một lần ông đến gặp cha tôi hồ hởi nói: “Tôi đã tìm ra tác giả vẽ lá cờ đỏ sao vàng”. Cha tôi ngạc nhiên: “Mình tưởng lá cờ đó do Bác vẽ ra chứ”. Sơn Tùng cười: “Mọi người đều nghĩ như vậy, nhưng không phải”. Trầm ngâm trong giây lát rồi ông kể lại cho cha tôi nghe về quá trình tìm kiếm để xác minh ra người đã sáng tác lá cờ đỏ sao vàng…

“Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tháng 11/1940. Nhưng tác giả là ai?

Năm 1965, tôi tìm gặp cụ Đặng Văn Cáp một nhà nho người Hà Tĩnh, từng hoạt động với Bác tại Thái Lan. Năm 1940, khi Bác hoạt động tại Quế Lâm Trung Quốc, Bác phân công cho cụ Cáp theo dõi tin tức qua Ra-đi-ô rồi hàng ngày kể lại cho Bác. Khi nghe tin cuộc khởi nghĩa Nam kỳ xẩy ra thất bại, cụ Cáp đã báo lại cho Bác biết tình hình, Bác trầm ngâm nói: “Dậy non rồi, tổn thất lớn”. Bác hỏi: “Trong khởi nghĩa Nam kỳ có gì mới?”. Cụ Cáp nói: “Trong khởi nghĩa Nam kỳ lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng”. Bác hỏi: “Sao có mấy cánh?”. Cụ Cáp trả lời: “Họ không nói rõ”. Bác lại hỏi: “Sao nằm ở góc hay ở giữa?”. Cụ Cáp: “Họ cũng không nói”. Bác lặng đi suy nghĩ một lát rồi bảo cụ Cáp ra phố mua cho Bác một miếng vải đỏ. Bác thửa một lá cờ đỏ rồi lấy giấy vàng cắt một ngôi sao năm cánh dán vào giữa. Bác giao lá cờ cho cụ Cáp giữ.

Năm 1941, Bác về nước mang theo lá cờ đó. Ngày 19/5/1941, lá cờ đỏ sao vàng được treo giữa hang Pắc Bó trong lễ khai mạc hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt minh.

Ngày 22/12/1944, Bác trao lá cờ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp trong ngày thành lập đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

Một cơ duyên đến với tôi vào năm 1968, tôi bị thương nặng phải nằm bệnh viện trong một khu rừng tại miền Đông Nam bộ do bà Thúy Ba làm giám đốc. Tôi đã gặp được đồng chí Năm Thái, lão thành cách mạng, một chiến sỹ khởi nghĩa Nam kỳ. Ông đã cho biết chính ông được giao nhiệm vụ in đá lá cờ đỏ sao vàng và tài liệu khởi nghĩa lên báo Tiến lên của Khởi nghĩa Nam kỳ. Lá cờ đỏ sao vàng do chính tay người phụ trách cơ quan ấn loát và là thường vụ xứ ủy. Ông là người Bắc kỳ, là một yếu nhân đã sáng lập chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Hà Nam, bị đầy ra Côn Đảo, vượt biển về đất liền hoạt động tại các tỉnh đồng bằng Cửu Long với tên gọi là anh Hai Bắc kỳ. Vì thông thạo tiếng Tây, tiếng Tầu, biết sửa chữa máy móc, nên còn được gọi là Hai kỹ sư. Tại nhiều nơi ông hoạt động, ông thường mở lớp dạy chữ cho mọi người, vẽ truyền thần cho các cụ già nên còn được gọi là thầy giáo Hoài, là anh Hai họa sỹ…

Chan-dung-Nguyen-Huu-Tien-tac-gia-ve-co-do-sao-vang-do-Van-Cao-ve---Anh-1
Chân dung Nguyễn Hữu Tiến, tác giả vẽ cờ đỏ sao vàng do Văn Cao vẽ.

Lá cờ đã được in thành nhiều gói để chuyển xuống các cơ sở. Công việc gần xong thì bị mật thám Pháp ập vào bắt. Cả cơ sở in đều bị bắt không ai thoát. Anh Hai Bắc kỳ bị xử bắn cùng với các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần vào ngày 28/8/1940 tại Hóc Môn.

Năm 1976, tôi quay vào Nam tiếp tục tìm kiếm tư liệu về Bác và tác giả quốc kỳ. Lần tìm trong các kho tư liệu lưu trữ, tôi tìm được một tấm ảnh của Nguyễn Hữu Tiến do mật thám Pháp chụp, đối chiếu với công văn số 4685-s ngày 2/8/1940 của chánh mật thám Đông Dương P. Aknou có nội dung: “Kính gửi các ông Thống đốc Nam kỳ, Tổng thanh tra liêm phóng Đông Dương, Tổng biện lý bên cạnh tòa thượng thẩm, Trung tướng chỉ huy trung đoàn Nam kỳ, Cao Miên, Đô đốc chỉ huy hải quân ở Đông Dương, đồng kính gửi các ông chánh mật thám Hà Nội, Huế, Pnom Pênh, Viên Chăn. Tin đặc biệt của sở mật thám Sài Gòn cho biết: Hoạt động của cộng sản Nguyễn Thị Minh Khai (tức cô Dung), Nguyễn Hữu Tiến (tức giáo Hoài – Trương Xuân Chính), một ổ cộng sản bí mật đã tổ chức ngay cạnh làng Chà Và trong bãi tha ma giáp nội thị Sài Gòn – Chợ Lớn tối 30/7/1940, đã bắt được Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến, người bị tòa án thượng thẩm Hà Nội xử ngày 6/6/1932. Kết án 20 năm khổ sai, 20 năm quản thúc về mưu đồ xúi giục dân chúng đứng dậy chống phá nhà chức trách, tham gia cải tổ Đảng Cộng sản Đông Dương, vượt Côn Đảo tháng giêng năm 1935, sau lại bị bắt lần nữa…”. Từ những tài liệu này, ghép nối các bí danh hoạt động của Nguyễn Hữu Tiến qua các thời kỳ, tôi trở ra Hà Nội. Năm 1977, tôi tìm về quê Nguyễn Hữu Tiến gặp được người em ruột là Nguyễn Hữu Uẩn, nguyên Phó bí thư tỉnh Thái Nguyên hiện đang giữ chức Vụ trưởng Vụ Tư liệu lịch sử Đảng, nhờ giúp tìm hiểu về thân thế sự nghiệp Nguyễn Hữu Tiến. 16 lần đi về làng Lũng Xuyên – Yên Bắc – Duy Tiên – Hà Nam tìm gặp những người thân thích, bạn bè, học trò và những người bạn chiến đấu từng vào tù ra tội cùng với ông… Ghép nối các tư liệu, cùng một số bài thơ của Nguyễn Hữu Tiến mà tôi thu thập được, có một bài ông viết giải thích ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng.

Trong đó có một đoạn tiêu biểu:

… Hỡi ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm mầu đào vì nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng mau lên! Hồn nước gọi ta rồi
Hỡi Sỹ, Nông, Công, Thương, Binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh
Đoàn kết lại sức mình sẽ mạnh
Quyết đánh tan phát xít Nhật,Tây…
Như vậy có thể khẳng định
Nguyễn Hữu Tiến là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng.

Nghe nhà văn Sơn Tùng kể xong, cha tôi vui lắm, ông nói: “Anh đã làm được một việc lớn mà nhiều người khỏe mạnh không làm được. Họ không có được cái tâm như anh. Thật đáng khâm phục”. Nhà văn Sơn Tùng vui vẻ nắm tay cha tôi nói: “Cám ơn anh. Tôi muốn mời anh và anh Tân Trà về Duy Tiên một chuyến dự Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của nhà Cách mạng Nguyễn Hữu Tiến. Huyện ủy và gia đình rất mong được đón tiếp anh”. Cha tôi vui vẻ nhận lời.

Sau khi từ Duy Tiên trở về, cha tôi rất vui. Ông được huyện ủy và gia đình tác giả vẽ lá cờ đỏ sao vàng đón tiếp trọng thể, nồng hậu, ấm tình làng xóm quê hương. Ông bảo Sơn Tùng: “Qua câu chuyện anh kể hôm nay tại hội thảo, mình cảm động rơi nước mắt. Mình đã hình dung ra… Mình sẽ phác thảo để vẽ chân dung người vẽ cờ Tổ quốc. Ba ngày sau anh hãy đến xem tranh”. Sơn Tùng mừng lắm, ánh mắt sáng lên lấp lánh.

Ngay chiều hôm đó tôi thấy cha tôi căng toan đặt lên giá, chuẩn bị đầy đủ sơn dầu và bút vẽ. Tối hôm đó ông thức hý hoáy vẽ phác thảo bố cục đen trắng lên một mảnh giấy bằng bàn tay trông như một bức minh họa. Sáng hôm sau, ông kẹp mảnh giấy phác thảo lên góc của tấm toan rồi lấy than phóng hình lên toan bằng những nét vẽ linh hoạt, chủ động và chính xác. Thường xem ông vẽ nhưng ít khi tôi thấy ông phác thảo mầu. Ông bảo tôi: “Quan trọng là bố cục hình và mảng miếng trong một bức tranh, còn tông mầu thì bố đã hình dung trong đầu rồi nên khi thực hiện ta chủ động được trong việc sử dụng mầu sắc, sắc độ. Như vậy mầu mới trong, tranh để lâu không bị xuống mầu”. Bức chân dung Nguyễn Hữu Tiến, cha tôi vẽ trong hai ngày thì xong. Sáng ngày thứ ba nhà văn Sơn Tùng đến, vừa đẩy cửa vào, nhìn thấy bức tranh, ông giật mình nhận ra đúng là Nguyễn Hữu Tiến. Sơn Tùng đưa ra một cái ảnh của Nguyễn Hữu Tiến trong hồ sơ mật thám Pháp. Văn Cao và Sơn Tùng cùng ồ lên: “Hoàn toàn giống!”. Hai người vừa uống rượu vừa ngắm tranh. Bất chợt Sơn Tùng hỏi: “Trong bài Tiến quân ca của anh có câu: Đoàn quân Việt Minh đi, sao vàng phấp phới, dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than… Khi sáng tác anh đã nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng chưa?”. Văn Cao cười: “Mình đâu có thấy, tưởng tượng ra trong đầu thì viết ra thôi”. Sơn Tùng: “Đúng là tâm linh”.

Sơn Tùng viết thư về báo cho Huyện Duy Tiên lên đón tranh về. Ông Uẩn đến xem cảm động nhận ra đúng anh mình. Hôm đó có cả nhạc sỹ Đặng Đình Hưng ở đấy, ông trầm trồ: “Đây là một tác phẩm nghệ thuật chứ không còn là một bức chân dung thông thường”. Huyện ủy Duy Tiên đón tranh về và mang biếu cha tôi 25kg gạo tẻ, 25kg gạo nếp, 5kg cá và 2kg thịt.

Mấy hôm sau, môt buổi lễ truy điệu trọng thể đã được tổ chức long trọng tại gia đình Liệt sỹ Nguyễn Hữu Tiến. Bức chân dung do Văn Cao vẽ được treo trang trọng trên ban thờ. Bí thư Tỉnh ủy Phan Điền nhìn tranh xúc động khi nhận ra người bạn học với mình từ thời trẻ.

Sau 39 năm vợ và con của Liệt sỹ Nguyễn Hữu Tiến, người vẽ cờ Tổ quốc mới được nhận Bằng Tổ quốc ghi công và tiền tử tuất do đại diện Phòng Thương binh và Xã hội trao.

Nhìn bức tranh Văn Cao vẽ, bà vợ của người vẽ cờ Tổ quốc nước mắt giàn giụa ôm lấy Văn Cao nói: “Cảm ơn ông. Nhờ có ông mà tôi được gặp lại ông nhà tôi sau hơn 40 năm trời”.

Kỳ Sơn, tháng 12/2017

Văn Thao
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc