Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Sương Nguyệt Anh – Nữ chủ bút đầu tiên ở Việt Nam

 

Năm 1854, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cưới bà Lê Thị Điền (1835-1886), bà là người ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, trước thuộc Gia Định, nay thuộc tỉnh Long An. Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, vì cảm phục và mến thương thầy nên đã xin gia đình tác hợp, gả em của mình.

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và bà Lê Thị Điền có 7 người con. Theo tập tục miền Nam, con đầu lòng nhưng tính thứ hai, do đó con gái đầu lòng của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Thị Hương (còn gọi là Nguyễn Thị Đình Liên), sinh năm 1885, mất năm 1914, mộ chôn tại Mỹ Thạnh. Có chồng họ Cao.

Trai thứ ba: Nguyễn Đình Chúc (thường gọi là Thầy Ba Sáng), sinh năm 1858, mất năm 1903, mộ chôn tại Trung Lương, Mỹ Tho. Vợ là Bùi Thị Sâm, sinh được 2 con trai.

Gái thứ tư: Nguyễn Thị Xuyến, sinh năm 1861, mất năm 1922, mộ chôn tại làng Phước Thới – Mỹ Tho. Có chồng họ Hồ.

Gái thứ năm: Nguyễn Thị Khuê, sinh năm 1863, mất năm 1922, tự Nguyệt Anh (còn gọi là cô Năm Hạnh). Chồng là Nguyễn Công Trình. Khi chồng mất, bà thêm chữ Sương trước tên nên gọi là Sương Nguyệt Anh. Mất ngày 12/12/ năm Canh Thân, mộ chôn tại làng Mỹ Nhơn. Đến năm 1959, được bốc cốt về khu mộ gần phần mộ với cha mẹ.

tapchi32-33--Suong-Nguyet-Anh-Nu-chu-but-dau-tien-o-Viet-Nam---Anh-3
Chân dung nữ sĩ Sương Nguyệt Anh,.

Trai thứ sáu: Mất hồi nhỏ.

Trai thứ bảy: Nguyễn Đình Chiêm (1869 – 1935), tự Trọng Vĩnh, hiệu Sơn Đẩu. Mất ngày mồng 4 tháng 7, mộ chôn tại làng Mỹ Nhơn. Vợ là Tào Thị Quyền, ở làng An Bình Đông.

Trai thứ tám: Nguyễn Đình Ngưỡng (thường gọi là Hưởng), tự Di Cao. Sinh năm 1882, mất năm 1913, mộ chôn tại làng Mỹ Nhơn. Trong 7 người con của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có Nguyễn Đình Chiêm mất bằng tuổi cha (66 tuổi). Gái là Nguyễn Thị Xuyến mất lúc 61 tuổi. còn lại đều mất dưới 60 tuổi. Trong đó, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Đình Chúc, Nguyễn Thị Xuyến đều biết làm thuốc và dạy học nhưng không nổi tiếng. Chỉ có Sương Nguyệt Anh (là con gái, thứ tư) và Nguyễn Đình Chiêm (là con trai, thứ năm) vừa dạy học vừa làm thuốc, làm thơ, làm báo, viết tuồng… Các vở tuồng: Phong Ba Đình, Phấn Trang Lầu, Nê Mã… do Nguyễn Đình Chiêm sáng tác.

Nhưng thuở nhỏ, bà Sương Nguyệt Anh cùng người chị tên là Nguyễn Thị Xuyến, được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu truyền dạy nên giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Khi cả hai khôn lớn, nổi tiếng tài sắc, được người quanh vùng ca tụng gọi là Nhị Kiều.

Bà Sương Nguyệt Anh (1864 – 1922) được sinh tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tên thật là Nguyễn Thị Khuê (theo “Nguyễn chi thế phổ”). Những nhà nho dẫn giải, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã lấy sao Khuê đặt tên cho gái, cái tên Khuê của bà là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ phương Tây, có 16 ngôi, sắp xếp khúc khuỷu giống hình chữ Văn. Trong sách Hiếu kinh có ghi: Khuê chủ văn chương. Trong sách sử ghi chép, người ngày xưa biết thiên văn địa lý, coi sao Khuê biến hóa là người đứng đầu của quan văn. Trong văn hóa Đông Á và Việt Nam, sao Khuê là biểu tượng của văn chương, học thuật. Ví dụ như Khuê Văn Các được xây dựng tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, nơi được xem như là trường đại học đầu tiên của người Việt. Những bậc bác học lỗi lạc trong lịch sử được ví là sáng như sao Khuê; một trong số đó là Nguyễn Trãi, đã được vua Lê Thánh Tông cho tạc bia: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (tấm lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê).

tapchi32-33--Suong-Nguyet-Anh-Nu-chu-but-dau-tien-o-Viet-Nam---Anh-4
Tờ báo “Nữ giới chung”.

Khi bà Sương Nguyệt Anh ra đời thì truyện thơ Lục Văn Tiên, Ngư Tiều vấn đáp y thuật, những bài thơ chống Pháp đã được cả nước biết đến.

Có lẽ đây là nguồn gốc dẫn dắt bà Sương Nguyệt Anh đi vào con đường văn chương và nghề báo sau này. Bởi ngoài việc học giỏi, bà còn biết làm thơ cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Đề tài của các bài thơ luôn là quê hương đất nước, nội dung nói về cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than đau khổ.

Nếu ở vào thời đại Hồ Chí Minh hiện nay, bà Sương Nguyệt Anh sẽ được xác lập kỷ lục thế giới vì bà là nữ chủ bút đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ giới chung (Tiếng chuông nữ giới) tại Sài Gòn do bà phụ trách cũng là tờ báo đầu tiên của phụ nữ, được xuất bản tại Sài Gòn.

Tài liệu tham khảo ghi rằng, năm 1888, Sương Nguyệt Anh được 24 tuổi thì nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu mất. Tri phủ Ba Tường đến hỏi bà làm vợ không được, nên mang lòng oán hận, đang tìm cách hãm hại. Để tránh tai họa, bà cùng gia đình người anh (Nguyễn Đình Chúc) chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho) rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, bà kết duyên với một phó tổng sở tại góa vợ tên Nguyễn Công Tính sinh được một gái tên là Nguyễn Thị Vinh. Năm con gái được 2 tuổi thì chồng mất. Từ đó bà thủ tiết nuôi con, thờ chồng và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Và cũng từ đó, bà thêm trước bút hiệu Nguyệt Anh một chữ “sương”, thành “Sương Nguyệt Anh”, có nghĩa là “Nguyệt Anh góa chồng”. Ngoài bút hiệu Sương Nguyệt Anh, bà còn ký nhiều bút hiệu khác như: Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh.

Những năm 1906-1908, hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu bà bán một phần điền sản và vận động quyên góp để giúp học sinh xuất dương sang Nhật du học.

Năm 1917, Sương Nguyệt Anh được một nhóm chí sĩ ái quốc mời làm chủ bút tờ Nữ giới chung nghĩa là “Tiếng chuông của nữ giới”. Tờ báo ra số đầu tiên ngày 1/2/1918, với chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội. Nhưng dù ngòi bút của Sương Nguyệt Anh có khéo léo đến đâu, tầm ảnh hưởng của tờ báo này khiến mật thám Pháp e ngại. Tháng 7/1918, tờ Nữ giới chung bị đình bản. Cũng ngay lúc này, người con gái độc nhất của bà (Nguyễn Thị Vinh) ngã bệnh qua đời sau khi sinh.

Sau đó mắt bà bị bệnh thường xuyên đau nhức và sức khỏe cũng dần suy kiệt. Nghe lời thầy thuốc, Sương Nguyệt Anh dẫn cháu ngoại trở về Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri), nương náu nơi nhà người em út tên là Nguyễn Đình Chiêm để chạy chữa, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, đôi mắt bà bị mù lòa hẳn. Từ đấy, bà tập bốc thuốc, dạy học và sáng tác thơ văn. Lặp lại thảm cảnh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu khi xưa.

Sau thời gian sống trong bóng tối, sáng sớm ngày 12 tháng Chạp năm Tân Dậu (tức 9 tháng 1 năm 1922), Sương Nguyệt Anh trút hơi thở cuối cùng, lúc 58 tuổi.

Lúc đầu, mộ bà Sương Nguyệt Anh ở Mỹ Nhơn, về sau (năm 1959) được đồng bào cải táng dời về nằm cạnh mộ phần của song thân bà, tức nằm trong khu đền thờ và mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

Sương Nguyệt Anh sáng tác nhiều, nhưng không gom thành tập. Nay chỉ còn tản mác một số bài thơ, như: Đoan Ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Tức sự, Chinh Phụ thi, Thưởng bạch Mai, Vịnh ni cô, vua Thành Thái vào Nam, cảm tác khi lính Việt đi Âu chiến… Và vài bài vè, như: Vè tiểu yêu, Vè Thầy Hỷ, Vè đánh đề…

Ngoài bản dịch bộ Yên Sơn ngoại sử của Trung Quốc ra thơ lục bát, một số ít bài thơ chữ Hán, thể vè lục bát, thơ của Sương Nguyệt Anh phần lớn là thơ Nôm, theo thể Đường luật.

Để bộc lộ cuộc nợ duyên dang dở của mình, bà viết:

Năm canh thức nhấp… năm canh những
Nửa gối so le, nửa gối chờ
Vườn én rủ ren trên lối cũ,
Canh gà xao xác giục tình xưa…

Nhưng phần nhiều, thơ của bà là để đối đáp lại những người đã trêu ghẹo, đã tỏ tình với mình, nhằm nêu lên đức kiên trinh của người phụ nữ Nam bộ, như Tiễn ông Kinh Hối nhậm chức kinh lịch ở Sa Đéc, Họa thơ Bảy Nguyện, Họa thơ Phủ Ngọc, Họa thơ Bái Liêu, Thưởng Bạch Mai, Vịnh ni cô…

Trong số bài thơ khác, Sương Nguyệt Anh đã kín đáo gửi gắm tấm lòng yêu nước, thương dân, quan tâm đến thời cuộc, trích:
Vui lòng thánh đế nơi xe ngựa,

Xót dạ thần dân chốn lửa than
Nước mắt có cùng trời đất biết,
Biển dâu một cuộc thấy mà thương.
(Vua Thành Thái vào Nam)

Cuộc đời bà đã trải qua biết bao đau khổ, nhưng biết bao nỗi khổ đó hình như để thử thách người thiếu phụ kiên trinh.

Nhắc đến Sương Nguyệt Anh, người ta còn thấy lại nơi bà một tấm gương hoạt động cho phái nữ lưu; người ta không quên một cây bút rắn rỏi đã từng nêu trên tờ Nữ giới chung nhiều vấn đề lý thú về phận sự đàn bà đối với gia đình và xã hội. Trong buổi giao thời, phụ nữ nước nhà vừa ra khỏi khuê môn để tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, bà Sương Nguyệt Anh rất xứng đáng là nữ sĩ tiền phong trên đất Việt.

Bút hiệu của bà được đặt cho một số đường phố tại Việt Nam, nhưng thường bị viết sai chính tả thành “Sương Nguyệt Ánh”, ví dụ ở Đà Lạt và Vũng Tàu. Đường Sương Nguyệt Anh ở Q.1, thành phố Hồ Chí Minh cũng từng bị viết sai nhưng đã được khắc phục, song nhiều bảng hiệu trên đường vẫn dùng tên sai.

VƯƠNG LƯƠNG – TRIỆU TƯƠNG TỬ
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

Ý Kiến bạn đọc