Ngoài nước

Sức lan tỏa của văn học xô Viết dưới ánh sáng tháng Mười

Thấm thoắt một thế kỷ đã trôi qua từ khi chiếc tuần dương hạm Rạng Đông nổ phát súng lệnh ra hiệu cho cuộc tổng tiến công của những người nổi dậy vào Cung điện Mùa Đông – nơi cố thủ của chính phủ tư sản Nga lâm thời Kerenski vào đêm rạng ngày 7/11/1917 (tức ngày 25/10 – theo lịch Nga).

Cuộc Cách mạng tháng Mười Nga mà nhà báo Mỹ John Reed gọi là “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển nhân loại.

Nhà triết học và nhà xã hội học Nga Aleksandr Zinov’ev, một người bất đồng chính kiến với chính quyền Xô Viết đương thời, từng bị ngồi bóc lịch trong nhà tù của Ủy ban An ninh quốc gia KGB và sau đó bị trục xuất khỏi Liên Xô, với tư cách là một nhà khoa học cũng phải thẳng thắn khẳng định: “Nếu không có Lênin, không có Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, và sau đó là Liên bang Xô Viết thì trong lịch sử nhân loại không thể xuất hiện cả một tuyến tiến hóa có qui mô ngang tầm với tuyến mà đại diện là thế giới tư bản phương Tây. Tuyến tiến bộ này có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển tiếp theo của nhân loại”. Và ông có đầy đủ cơ sở để gọi thế kỷ XX là “thế kỷ của Lênin và Stalin”.

Giáo sư sử học Nga Dmitri Chirakov trong một bài viết đầu năm nay về những bài học và ý nghĩa của Cách mạng tháng Mười đã nhấn mạnh: “Chính trên nền móng vững chắc của Cách mạng tháng Mười năm 1917, nhân dân ta mới giành được hai thắng lợi cực kỳ quan trọng khác trong thế kỷ XX – đó là chiến thắng phát xít Đức năm 1945 và chuyến bay đột phá vào vũ trụ năm 1961”.

Song cũng trong thế kỷ vừa qua, nhân loại đã chứng kiến một cơn chấn động khác không kém phần dữ dội mà dư âm và hậu quả vẫn còn dai dẳng đến ngày nay. Đó là sự giải thể của Liên bang Xô Viết sau hơn 70 năm tồn tại.

Vào hồi 19 giờ 38, ngày 25/12/1991, một trong những ngày ngắn nhất và ẩm ướt nhất của năm, hai công nhân thuộc Cục Kỹ thuật Điện Kremli là Vasili Kuzmin và Vladimir Arkhipkin đã lặng lẽ hạ lá cờ đỏ búa liềm của Liên bang Xô Viết khỏi cột cờ trên nóc dinh Tổng thống trong Điện Kremli và kéo lên lá cờ ba màu trắng – xanh – đỏ của đế quốc Nga cũ. Liên bang các nước Cộng hòa Xô Viết xã hội chủ nghĩa với tư cách là một quốc gia đã ngừng tồn tại. Sự kiện này được xem như là thảm họa lớn nhất của thế kỷ XX.

Nhà viết kịch Nga lão thành Viktor Rozov, tác giả kịch bản của bộ phim Xô Viết nổi tiếng Đàn sếu bay qua, đã bàng hoàng thốt lên: “Vận mệnh của Tổ quốc khiến tôi rất lo lắng. Những gì mà cách đây mấy thế kỷ Thành Cát Tư Hãn không làm nổi, những gì mà Napoléon hoặc Hitler không làm nổi, thì chúng ta bằng bàn tay của chính mình đã phá sập một cường quốc vĩ đại”.

Mặc dầu trong xã hội hậu Xô Viết hiện đại, trên nền tảng của sự thay đổi mô hình chính trị, đang diễn ra quá trình “phi tư tưởng hóa” cùng với khuynh hướng phủ nhận những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trước đây, trong đó có nền văn học Xô Viết nổi tiếng, nhưng dấu ấn của nền văn minh Xô Viết và sức lan tỏa rộng rãi của văn học Xô Viết trên phạm vi thế giới là một điều không thể bác bỏ.

Ngay từ những năm 30 thế kỷ trước, trong một bức thư gửi Nikolai Ostrovski, tác giả cuốn Thép đã tôi thế đấy, đại văn hào Pháp Romain Rolland đã viết: “Đối với tôi, tên tuổi của Anh là đồng nghĩa với lòng dũng cảm vô song… Tôi cảm phục Anh với tấm lòng quí mến và với niềm phấn khởi. Xin Anh hãy tin rằng nếu trong cuộc sống của mình Anh đã từng trải qua chuỗi ngày ảm đạm, thì cuộc đời của Anh đang và sẽ là ngọn đuốc soi đường cho muôn lớp người. Trước con mắt của toàn thế giới, Anh mãi mãi sẽ là một tấm gương cao cả về sự chiến thắng của tinh thần trước sự phản trắc của số phận. Anh đã nhập làm một với nhân dân vĩ đại được giải phóng của đất nước. Anh sống trong nhân dân và nhân dân sống trong lòng Anh”.

Tại Nhà bảo tàng Nikolai Ostrovski tại Moskva, ở một vị trí trang trọng có trưng bày một hiện vật quý hiếm: bản chép tay cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy trên những thếp giấy bình dân đã hoen ố, màu mực đã phai nhạt, bằng những nét chữ khác nhau. Hiện vật độc đáo này do một chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam gửi tặng nhà bảo tàng sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Trong bức thư gửi kèm theo, người chiến sĩ nọ kể lại rằng anh cùng với các bạn đồng đội đã thay nhau chép lại cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này vì cả đơn vị anh chỉ có mỗi một cuốn. Và tập sách chép tay ấy đã theo các anh qua nhiều chiến dịch, cùng các anh vào sinh ra tử. Có những lúc gay go, các anh đã phải quẳng bớt đi quần áo và đồ dùng cá nhân cho ba lô được gọn nhẹ trên đường hành quân, song tập truyện quý này các anh đã ra sức giữ gìn cẩn thận như một báu vật cho đến ngày cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi hoàn toàn.

Cho đến nay, Thép đã tôi thế đấy đã đạt tới số bản in kỷ lục – 100 triệu bản và cũng đã được dịch ra 75 thứ tiếng. Điều đó cho thấy sức hấp dẫn của tác phẩm độc nhất vô nhị này cũng như sức sống của hình tượng Pavel Korchagin, bất chấp mọi mưu toan dèm pha và xuyên tạc nhằm hạ thấp giá trị của cuốn sách. Đúng như lời nhận xét của Giáo sư V.P. Smirnov, Trưởng ban Văn học Nga thế kỷ XX của Viện Văn học thế giới Gorki trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga tại cuộc Hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của N. Ostrovski (1904-2004): “Cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy không phải là sự tuyên truyền cổ động như những kẻ sàm báng N. Ostrovski thường rêu rao, mà nó thuộc về những mẫu mực của văn học cổ điển”.

Nói đến văn học Xô Viết trước hết phải nói đến một đội ngũ đông đảo các nhà văn có uy tín gồm nhiều thế hệ và sự đóng góp to lớn của họ vào công cuộc xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa và trong cuộc chiến tranh vệ quốc chống phát xít Đức (1941-1945).

Như mọi người đều biết, khi chiến tranh nổ ra (22/6/1941), hơn 1.000 hội viên Hội Nhà văn đã gia nhập quân đội từ ngày đầu khói lửa, trong số đó 300 nhà văn đã hy sinh, gần 500 nhà văn được tặng huân, huy chương và 10 nhà văn được phong danh hiệu cao quý “Anh hùng Liên Xô”. Những tác phẩm văn thơ viết về chiến tranh đã làm thành những cái mốc quan trọng trong sự phát triển văn học Xô Viết. Và những nhà văn tham gia chiến tranh đã tạo nên “dòng văn học trung úy” nổi tiếng với những tên tuổi như V. Rasputin, V. Vasiliev, V. Bykov, Ju. Bondarev, V. Astaf’ev, V. Bogomolov…

Trong việc khai thác đề tài chiến tranh, các nhà văn Liên Xô trên kinh nghiệm của bản thân mình đã đúc kết ra được một vấn đề lý luận rất quan trọng: vấn đề miêu tả sự thật về chiến tranh. Bởi lẽ nó không chỉ gắn liền với tính trung thực và trách nhiệm của người cầm bút trước lịch sử mà còn gắn liền với một vấn đề có tính nhân đạo sâu sắc – đó là thái độ đối với những người đã hy sinh trong cuộc chiến, là sự nhận thức được cái giá của chiến thắng và của cuộc sống thanh bình hôm nay.

Nhà văn K. Simonov, tác giả của bài thơ “Đợi anh về” và của những cuốn tiểu thuyết xuất sắc viết về chiến tranh như “Ngày và đêm”, bộ ba tác phẩm “Những người sống và những người chết”, “Người ta sinh ra không phải là lính” và “Mùa hè cuối cùng”, trong chuyến thăm Việt Nam vào đầu năm 1971, đã tâm sự điều này với bạn đọc chúng ta qua cuộc nói chuyện tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam: “… Muốn cho những người đã từng kinh qua thực tiễn chiến tranh đọc những cuốn sách của anh, tin những điều anh viết thì anh phải viết đúng sự thật, cần phải viết đúng như các sự việc đã xảy ra. Khi trong chúng ta nảy ra một sự thích thú quên lãng những cái nặng nề, khó khăn thì cần phải từ bỏ ngay sự thích thú ấy bởi vì đằng nào nhân dân cũng không quên những ngày gian khổ ấy, bởi vì để chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức, nhân dân Liên Xô đã phải đánh đổi bằng 20 triệu sinh mạng con người, và bởi vì quên điều đó có nghĩa là không kính trọng những ai đã hy sinh tính mạng mình để đổi lấy sự sống còn của Tổ quốc”.

Nhà văn V. Bykov, tác giả của những thiên truyện đầy chất bi tráng về chiến tranh vệ quốc như “Sotnikov”, “Sống cho đến rạng đông”, “Ra đi không trở lại”, đã chia sẻ: “Biết bao câu chuyện hoang đường đẹp đẽ, biết bao sự dối trá trắng trợn về chiến tranh đã được viết ra bằng các thứ tiếng trên hoàn cầu. Nói không đúng sự thật về chiến tranh không chỉ là vô đạo đức mà còn là một tội ác đối với hàng triệu nạn nhân của chiến tranh cũng như đối với các thế hệ tương lai”.

Muốn bảo vệ sự thật, muốn miêu tả đúng sự thật, nhà văn cần phải có bản lĩnh và nhân cách, không uốn cong ngòi bút trước uy quyền, trước mọi cám dỗ vật chất. Ở đây văn học Xô Viết đã cung cấp cho ta những tấm gương sáng chói.

Chuyện kể rằng lãnh tụ Stalin đã đọc trọn bộ “Sông Đông êm đềm” gồm 4 tập của M. Solokhov và không hài lòng với phần kết thúc tác phẩm. Stalin khuyên nhà văn nên để cho nhân vật Grigori Melekhov trở thành một người bônsêvích đứng trong hàng ngũ cách mạng. Sholokhov đã thử làm như vậy, nhưng rút cuộc ông thấy không thể bắt ép ngòi bút đi ngược lại với sự thật lịch sử của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Với sự tỉnh táo và với trách nhiệm cao cả của người cầm bút, nhà văn đã nhận thức rằng những kiểu người như nhân vật Grigori Melekhov của ông bao giờ cũng sẽ bị chiến tranh làm cho què quặt tâm hồn để biến thành một kẻ thân tàn ma dại. Solokhov viết “Sông Đông êm đềm” tại Moskva, ở nhà một người bạn thân của mình là Vasili Kudrashev. Một lần vào giữa đêm hôm khuya khoắt, nhà văn đánh thức bạn dậy và nói: “Không, Vasja ạ, mình không thể. Đoạn kết sẽ như thế này…”. Và đọc cho bạn nghe những dòng cuối cùng đầy chất bi kịch của pho tiểu thuyết sau hơn 10 năm viết đi viết lại mà chúng ta đã biết: Grigori chới với, ngả nghiêng giữa hai thế lực Hồng quân và Bạch quân để rồi cuối cùng chàng mất hết, trơ trọi một thân một mình mà vẫn chưa chọn lựa được hướng đi cần thiết cho bản thân. Stalin cuối cùng đã hiểu rõ giá trị của “Sông Đông êm đềm” và cách xử trí đúng đắn của Sholokhov nên tán thành tặng Giải thưởng Stalin hạng nhất về Văn học – nghệ thuật cho tác phẩm này vào năm 1941.

Còn một sự việc đáng nhớ nữa. Câu chuyện này xảy ra sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau bản cáo mật “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó” do Khrushev đọc tại một phiên họp kín của đại hội này, một chiến dịch chống Stalin được phát động ầm ĩ trên toàn lãnh thổ Liên Xô. Xác ướp của Stalin bị đưa ra khỏi lăng. Các thành phố, nhà máy, nông trang, xí nghiệp mang tên ông phải đổi tên khác. Những ấn phẩm đã được chuẩn bị để đưa in giờ bị rà soát lại rất nghiêm ngặt để xem trong đó có những mô-típ sùng bái Stalin không. Trong khi đó, Nhà xuất bản Văn học của Liên Xô đã cho tái bản nhiều lần cuốn truyện vừa “Trong chiến hào Stalingrad” của nhà văn thuộc thế hệ trung úy Viktor Nekrasov, một thiên anh hùng ca về trận đánh lịch sử trên bờ sông Volga. Bị thôi thúc bởi những chỉ thị từ trên đưa xuống, Ban giám đốc Nhà xuất bản phát hiện thấy rằng trong tác phẩm này có những chỗ nhắc tới tên Stalin và đề nghị tác giả bỏ những chỗ ấy đi và thay tên tác phẩm, bởi lẽ tên thành phố Stalingrad không còn nữa mà chỉ có thành phố Volgograd. Nhưng thật bất ngờ đối với họ vì Nekrasov đã từ chối thẳng thừng yêu cầu sửa chữa đó. Trong bức thư gửi Ban biên tập Nhà xuất bản, ông viết: “Hôm nay Ban biên tập báo cho tôi biết rằng cần phải tước bỏ khỏi cuốn truyện vừa “Trong chiến hào Stalingrad” tất cả những chỗ có nhắc tới tên Stalin. Những chỗ này không nhiều, thực ra chỉ có một chỗ ở trang 190-191. Nhân đây tôi không thể không nhắc lại rằng 10 năm về trước, NXB Nhà văn Xô Viết đã yêu cầu tôi đưa thêm một chương riêng viết về Stalin vào cuốn truyện này. Hồi ấy tôi đã từ chối làm điều đó. Bây giờ người ta yêu cầu tôi làm ngược lại, nhưng lần này tôi cũng không thể đáp ứng được. Tôi không muốn phạm tội chống lại sự thật lịch sử. Cái gì đã có thì vẫn còn đó”.

Và tất nhiên do thái độ “ngang bướng” này nên nhà văn Nekrasov đã bị trù dập bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Song điều đó chỉ làm nổi bật hơn bản lĩnh và nhân cách của nhà cầm bút mà thôi.

Sự lan tỏa của văn học Xô Viết đến với chúng ta không chỉ từ những tác phẩm của các nhà văn Nga nổi tiếng mà còn từ sáng tác của các nhà văn dân tộc khác nhau trong đại gia đình Liên bang Xô Viết, nếu chúng ta biết rằng văn học Xô Viết, tiếng nói của trên 100 dân tộc, được viết bằng 75 ngôn ngữ khác nhau, và bên cạnh tên tuổi các nhà văn Nga quen thuộc đã nổi lên những cây bút đặc sắc của các dân tộc anh em khác mà danh tiếng đã vượt ra khỏi giới hạn địa dư của một quốc gia như Auezov (Kazakstan), Aitmatov (Kirgizia), Gamzatov (Dagestan), Avizhus (Litva), Dumbadze (Gruzia), Stelmak (Ukraina)…

Trong số các nhà văn kể trên tôi muốn đặc biệt lưu ý tới Gamzatov bởi những tình cảm thắm thiết của ông dành cho đất nước chúng ta và bởi vẻ độc đáo trong bút pháp của ông.

Vào một ngày đầu năm 1973, khi được tin cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cuộc chiến tranh tàn bạo nhất và lâu dài nhất thế kỷ XX, đã chấm dứt, từ nước Cộng hòa tự trị Dagestan tận vùng Trung Á xa xôi, nhà thơ Rasul Gamzatov đã vui mừng lên tiếng: “Tôi muốn ôm hôn từng người Việt Nam một. Đó là những con người kỳ diệu. Họ không chỉ tiến hành cuộc chiến tranh vì Tổ quốc mình, vì tự do của dân tộc mình mà họ còn bảo vệ lẽ phải và vẻ đẹp của hành tinh này, bảo vệ cả làng xóm của tôi và ngôi nhà của tôi nữa”. Năm ấy ông mới tròn 50 tuổi.

Rồi hơn 20 năm sau, trong một cuộc gặp gỡ thân mật với đoàn nhà văn Việt Nam tại Moskva vào năm 1994, Rasul lại nói: “Không ở đâu có sự kết hợp tuyệt vời giữa tinh thần dũng cảm và sự dịu dàng như ở Việt Nam. Nếu như có một bản Hiến pháp thế giới thì dòng đầu tiên phải kể đến tấm gương anh dũng của Việt Nam”. Lúc này ông đã 71 tuổi.

Những lời phát biểu của Rasul Gamzatov không phải là những lời nói xã giao để làm vui lòng bè bạn. Không, đây chính là những lời chân tình, nhất quán thốt ra từ đáy lòng của một người dân miền núi vốn không quen với sự thố lộ, giả dối. Tình cảm sâu nặng của Rasul Gamzatov đối với nhân dân ta bắt nguồn từ tinh thần quốc tế cao đẹp vốn thường xuyên được nuôi dưỡng trong tâm hồn ông cùng với lòng yêu nước nồng cháy và lòng yêu quê hương da diết. Điều này thể hiện rõ nét trong nhiều tập thơ nổi tiếng của ông suốt hơn nửa thế kỷ như “Tình yêu cháy bỏng và lòng căm thù thiêu đốt” (1943), “Mảnh đất của tôi” (1948), “Những vì sao trên cao” (1962), “Tổ quốc của người sơn cước” (1980) và đặc biệt trong tập văn xuôi trữ tình “Dagestan của tôi” (1967-1971).

Nói đặc biệt là vì sau gần 40 tập thơ, trong đó có những tập được tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Lênin, nhà thơ lần đầu tiên viết văn xuôi, và chính tác phẩm văn xuôi đầu tay này được Gamzatov chọn làm “Cuốn sách chính của đời mình” như ông tự gọi vậy.

Nhân đây cũng cần phải nói thêm rằng một sự cách tân lớn lao đồng thời cũng là một đóng góp nổi trội của các nền văn học dân tộc Xô Viết trước đây vào sự phát triển văn xuôi hiện đại là ở chỗ nhiều nhà văn dân tộc như Aitmatov, Kurilov, Gamzatov, Rytkheu… đã biết vận dụng một cách sáng tạo và nhuần nhuyễn những truyền thống văn học dân gian phong phú của dân tộc mình vào việc khai thác những đề tài hiện đại và lý giải những vấn đề triết lý, đạo đức và xã hội.

Có thể khẳng định rằng chưa bao giờ một khối lượng lớn gồm những truyền thuyết ngụ ngôn, cách ngôn, tục ngữ, giai thoại… lại được huy động rầm rộ và được điều khiển dưới ngòi bút tài tình của người nghệ sĩ để trình bày, diễn giải và minh họa cho những quan điểm, những suy nghĩ của tác giả như trong cuốn “Dagestan của tôi” của Rasul Gamzatov. Thơ và văn xuôi ở đây đã hòa quyện lấy nhau, bổ sung cho nhau trong một cơ cấu hài hòa.

Ở đây sự xáo trộn các thể loại, các thời gian lịch sử đã tạo cho “Dagestan của tôi” một vẻ độc đáo, huyền ảo và hấp dẫn lạ thường. Đọc tác phẩm này, nhà văn Aitmatov, tác giả “Zhamilia”, “Con tầu trắng”, “Và một ngày dài hơn thế kỷ”… đã thốt lên: “Sáng tác của Gamzatov không hề giống một cái gì mà tôi đã từng đọc. Đứng về mặt thể loại mà xét thì trong văn học thế giới không có một tác phẩm nào tương tự như nó cả”.

Những tác phẩm xuất sắc của văn học Xô Viết như “Sông Đông êm đềm”, “Đội cận vệ thanh niên”, “Số phận một con người”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Con tầu trắng”, “Những người sống và những người chết”, “Bình minh êm ả”, “Con Bim trắng tai đen”, “Tuổi thơ Ivan”, “Tuyết bỏng”, “Tháng 8 năm 44”… đã được đưa lên màn ảnh, đã chinh phục trái tim của khán giả khắp năm châu và đã chiếm một chỗ đứng vững chắc trong nền nghệ thuật thứ bảy của thế giới.

Đạo diễn Karen Shaknazarov, Tổng Giám đốc Tập đoàn điện ảnh Mosfilm đã thẳng thắn cho chúng ta biết rõ: “Xin các vị chớ đánh giá quá cao những thành tựu của điện ảnh Nga hiện đại, bởi lẽ ngày nay trên bối cảnh thế giới, điện ảnh Nga không tồn tại. Điện ảnh của chúng ta đã đánh mất đi một cái gì đó rất quan trọng… Quan trọng đến mức nó không hấp dẫn đối với bất cứ ai, ngoài bản thân mình. Tuy nhiên, tôi cần phải nói rằng cho đến nay người ta vẫn biết và vẫn nhớ điện ảnh Xô Viết. Điện ảnh Xô Viết đã nổi bật bằng việc phân tích tâm lý, bằng sự chú ý tới con người bình dị, bằng chủ nghĩa hiện thực. Những người ở các nước khác nhau đã nhớ điện ảnh Xô Viết chính là như vậy. Điện ảnh Nga hiện nay đã đánh mất bản sắc dân tộc, mất hết vẻ đặc thù độc đáo của nó. Nó rất hay được làm theo các khuôn mẫu của Hollywood. Ở ta đã xuất hiện cả một thế hệ các nhà điện ảnh bị ngấm đòn của Hollywood, đến nỗi tôi e rằng họ sẽ không khỏi bệnh…”.

*
Năm tháng qua đi, đã xảy ra biết bao chuyện vật đổi sao dời, nhưng ký ức về nền văn học Xô Viết, một nền văn học cách mạng giàu tính chiến đấu và chất nhân văn vốn được chiếu rọi bởi ánh sáng tháng Mười, sẽ còn đọng lại mãi mãi trong tâm trí chúng ta.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 9/2017

Lê Sơn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc