Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Sự trừu tượng hóa, khái quát hóa khi đọc văn

Có dịp đọc lại tạp chí “Dạy và Học ngày nay” số 1 năm 2002, gặp bài của GS Nguyễn Đình Chú “Bàn thêm về phương pháp dạy Văn”, tôi thấy ông yêu cầu người giáo viên phải rèn luyện phương pháp tư duy trừu tượng và tư duy triết học (sau đó mới là phương pháp khoa học cơ bản và phương pháp sư phạm). Dù đó là chuyện của thầy trò trường Đại học Sư phạm, nhưng lại là chuyện liên quan đến việc sư phạm hóa kết quả của hai cái tư duy này trong việc đọc văn chương và dạy văn cho học sinh THPT, tôi muốn được trao đổi lại.

Trước hết, ông cho rằng việc nâng cao trình độ tư duy với hai thứ tư duy trên là cần với mọi ngành khoa học. Với môn Văn, nó càng cần hơn vì không có sự hỗ trợ của hai thứ tư duy đó, khả năng cảm thụ sẽ bị hạn chế như ta thấy phổ biến hiện nay. Theo ông, nói như thế được vì với tư duy trừu tượng khoa học, ta mới biết nhìn sự vật không ở cấp độ hiện tượng mà ở cấp độ quan hệ vốn dĩ trừu tượng và rất phức tạp cùng các hiện tượng khác… Còn vai trò của tư duy triết học thì ông cho rằng “Văn là người” (1), tư duy này sẽ giúp ta khi nhận thức văn học sẽ nhận thức được những “vấn đề phức tạp nhất, sâu sắc nhất, kể cả sự bí hiểm trong sự sống con người”. Tất nhiên, như tác giả trả lời phỏng vấn của tòa soạn trong số báo sau, trong phạm vi bài viết ngắn, tác giả chưa thể tiếp cận theo hướng “xét vấn đề trong mối liên quan đến qui luật tâm lý, đến tính xã hội, đến qui luật cân bằng giữa cảm xúc và lý trí trong cuộc sống con người…”. Nhưng dù sao cũng vẫn có thể trao đổi về quan điểm cơ bản của tác giả.

Cũng như nhiều người, tác giả bài viết cũng mắc cái bệnh nói nôm là “méo mó nghề nghiệp”. Như ta đã biết, mỗi người làm một nghề nào đó sẽ có thói quen tư duy của người trong nghề. Ta có thể nói đến tư duy kinh tế của những người hoạt động ở các ngành về kinh tế, tư duy “duy ý chí” của giới lãnh đạo nắm quyền lực xã hội… là vì thế. Tác giả là người say mê triết học, quen tư duy theo cách trừu tượng hóa khoa học của ngành mình dễ phát hiện những màu sắc triết học trong các thông điệp văn chương nên đòi hỏi các thầy khác cũng phải như thế và rồi cũng phải rèn học sinh theo hướng đó. Thật ra tư duy đặc thù của người làm văn chương và sự tiếp nhận ý nghĩa khái quát trong đọc văn chương đi theo một thứ tư duy khác. Đó là tư duy hình tượng, chứ không phải tư duy trừu tượng hóa lý tính, triết luận.

Hẳn là phải chú ý đến sự khác biệt ở mức nào đó giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học. Ở người làm khoa học tư duy lôgích mạnh, họ thiên về nhận thức ở giai đoạn lý tính (tư duy với các khái niệm, phán đoán, suy lý). Người làm văn chương, nhất là sáng tạo thơ ca, mặt nhận thức cảm tính (với cảm giác tri giác, biểu tượng) ở họ mạnh hơn, họ gắn với các biểu tượng, các ấn tượng cụ thể được lưu giữ trong trí nhớ để chúng đi sâu vào tiềm thức, và biến chúng thành những hình tượng, phản ánh được bản chất các hiện tượng đời sống. Không thể nói nhận thức lý tính với khả năng trừu tượng hóa mới đi được vào bản chất sự vật với các mối quan hệ trừu tượng của nó. Chẳng qua là tư duy khoa học hướng về nhận thức còn tư duy hình tượng hướng về cảm xúc (2). Và năng lực tưởng tượng cùng trí tuệ cảm xúc như hiện nay người ta đã nghiên cứu, khẳng định tính hiệu quả trong việc đi vào bản chất sự vật của nó. Để làm rõ, có lẽ nên so sánh một chút về hai sự khác biệt trong một hoạt động trí não cụ thể ở hai loại hình tư duy. Trong hoạt động liên tưởng, người ta thấy người có tư duy khoa học trừu tượng thiên về phát hiện sự tương đồng (so sánh, ẩn dụ) và các cái “so sánh” ở họ hướng về giá trị nhận thức; nhưng người có tư duy hình tượng (nghệ thuật) thiên về liên tưởng tương cận (những thứ gần nhau) và kết quả là họ tạo ra các hoán dụ mà các nhà nghiên cứu Kinh Thi gọi là làm theo Thể Hứng lại có “vị lan tỏa dài lâu” (3). Điều đó liên quan đến việc đọc văn chương, tiếp nhận “ý nghĩa” ở tác phẩm văn chương xin nói kỹ sau.

Việc viết tác phẩm là sự thực hiện một qui trình ngược với qui trình tư duy sáng tạo nội dung và hình thức tác phẩm, tức là đi từ việc dùng hình thức ngôn từ bao gói cái bức tranh cuộc sống để gửi cái “thông điệp nghệ thuật” tới người đọc. Ở người đọc, qui trình tiếp nhận tác phẩm cũng là qui trình đi từ “hình thức” bên ngoài vào dần lớp “nội dung” để đến với cái “thông điệp” mang ý nghĩa trừu tượng (những triết luận nhân sinh, xã hội và cả chính trị, tư tưởng). Tuy nhiên, đọc văn chương cũng là một hoạt động “nghệ thuật”, phải thực hiện việc tiếp nhận những hoạt động tâm lý tương đồng như ở người viết. Nghĩa là người đọc cũng phải tiếp nhận chủ yếu bằng con đường tư duy hình tượng, chủ yếu dựa vào hoạt động tưởng tượng chứ không thể bằng tư duy trừu tượng khoa học hay tư duy triết lý như GS Nguyễn Đình Chú yêu cầu. Để cảm nhận được cái “nội dung tư tưởng” tác phẩm, người đọc cũng phải bằng tưởng tượng, tái hiện bức tranh cuộc sống trình bày ở tác phẩm, sống cùng với “bức tranh cuộc sống” tác giả vẽ ra, để cho nó lay động, tác động vào mình một cách tự nhiên, phải sẵn sàng “mở lòng” đón nhận những tác động ấy… Vì tư tưởng ở tác phẩm nghệ thuật chân chính hòa hợp hữu cơ với các hình tượng và cái cấu thành tư tưởng cơ bản của tác phẩm không phải là các tiền đề lôgích mà chính là các xúc cảm sâu sắc của nhà văn (4). Từ đó người đọc cảm nhận được những điều “toát ra” từ hình tượng, từ “bức tranh cuộc sống” ở đó. Tiếp đó là quá trình liên tưởng mở rộng sang các “bức tranh cuộc sống” khác tương đồng hay tương cận và có được những cảm nhận ở tầm khái quát cao hơn. Không thể đọc tác phẩm văn chương theo cách đọc các văn bản khoa học như các tác phẩm diễn giải thuyết trình các vấn đề khoa học, đặc biệt là các văn bản về khoa học xã hội, về triết học. Trong việc đọc các văn bản loại đó, cái tư duy lôgích được huy động nhằm tiếp nhận hệ thống luận điểm, luận cứ, lập luận của tác giả về cái luận đề đó kể cả các điều tác giả đặt ra để đối thoại cùng người đọc hay những hướng mở ra cho sự khái quát hóa trừu tượng hóa lôgích tiếp theo.

Đọc văn chương theo kiểu trừu tượng hóa khoa học hay triết lý với những “công cụ” lý tính như những khái niệm, phán đoán, suy luận nhận định… dễ dẫn đến những đề xuất về “ý nghĩa” áp đặt, thậm chí sai lầm. Bởi vì sự tiếp nhận ý nghĩa ở hình tượng văn học phải theo hướng “mở” đa dạng, phong phú tùy vào nhiều yếu tố kể cả những yếu tố thuộc cá nhân người đọc. Chúng ta đã chứng kiến nhiều hiện tượng triết luận hóa ý nghĩa tác phẩm văn chương khó chấp nhận. Cái việc gán ghép ý nghĩa cái triết lý ở Truyện Kiều là một triết lý Phật giáo mà người thì cho là từ bi bác ái, người thì cho là khiếp nhược, hàng phục như Hoài Thanh đã kêu là một thí dụ… Việc khái quát ý nghĩa bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một thí dụ khác. Người ta cho rằng cái cuốc, cái mai ở đó thể hiện thái độ “tự cày ruộng lấy thóc ăn, tự đào giếng lấy nước uống” bất hợp tác với các thế lực chính trị Lê Mạc và cái cần câu là thái độ chờ thời của Lã Vọng! Lại có ông cho rằng bài đồng dao “Con mèo trèo cây cau” là nói về sự tuần hoàn trong vũ trụ, con mèo là Mặt trời – dương, con chuột là Mặt trăng – âm thay nhau lên cái cây cau – cây vũ trụ… Và say sưa với những phát hiện kiểu “trừu tượng hóa khoa học” và phát huy năng lực “tư duy triết lý” của mình, người ta đòi dạy cho học sinh phổ thông ý nghĩa “triết luận” cao xa kiểu đó! (5). Đặc biệt có lẽ được biết đến nhiều hơn là sự khẳng định khi bàn về bài thơ thiếu nhi “Mây và Sóng” đưa vào học ở đầu cấp 2 cách nay hơn 30 năm. Ông khẳng định ý nghĩa ở các tác phẩm văn chương “Tất cả chỉ là ẩn dụ”. Ở bài thơ đang nói thì đó là một ẩn dụ tôn giáo, cuộc đời có thật ở trên mặt đất này mới đẹp và đáng sống (đại ý như vậy)…

Đọc văn chương cũng như đọc văn bản nói chung, phải coi trọng các đặc trưng thể loại của nó. Có thể nói là phải tôn trọng thi pháp sáng tạo tác phẩm theo thể loại. Dạy Văn là dạy đọc sách báo trong đó có tác phẩm văn chương, cũng phải tôn trọng nguyên tắc đó. Bởi vì tính độc lập của tư duy cũng có mặt trái của nó, nó làm cho tư duy của người ta có thể xa rời hiện thực khách quan (6). Đôi điều mạo muội nêu ra để bàn lại cùng GS tác giả và bạn đọc, nhất là bạn đọc dạy Văn.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 395

_________________

(1) Theo tôi, giá tác giả dùng câu “văn học là nhân học” thì thích hợp hơn.
Câu “văn là người” mang ý khác: “qua văn có thể hiểu về người viết”.
(2) Xin ghi lại ở đây vài câu rút từ “Lao động nhà văn” của Xâytlin (bản dịch của Hoài Lam, NXB Văn học 1967, tập I, tr.298): “Nghệ thuật chỉ dung nạp những tư tưởng thơ ca, mà tư tưởng thơ ca lại không phải là một tam đoạn luận (…) đây là niềm say mê sinh động, đây là một trạng thái xúc động. Trong trạng thái xúc động đó, nhà thơ phải lòng tư tưởng” (Belinxki). “Tư tưởng nghệ thuật phải tìm cho được hình tượng của mình” (Kôrolenko).
(3) Xem thêm hai bài viết về thể tỷ và thể hứng trong tập “Văn học dân gian – cái hay vẻ đẹp”, NXB Lao Động 2012.
(4) Xâytlin – Lao động nhà văn (tập I, tr.299-300).
(5) Xem “Văn chương – cảm nhận và triết luận”, T/c Kiến Thức Ngày Nay ngày 20/7/2012 và “Cái vốn văn hóa khi đọc văn chương”
T/c Kiến Thức Ngày Nay ngày 10/10/2015.
(6) Có thể xem Từ điển Bách khoa Việt Nam tập IV, tr.701.

Ý Kiến bạn đọc