Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Sự tráo trở của thi pháp

I. Thi pháp học quả là tiện ích mà người vận dụng tiêu biểu nhất là PGS-TS Lã Nguyên (Đại học Sư phạm Hà Nội). Qua việc ông dùng thi pháp học để định giá trị cho Thơ Tố Hữu và tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh (trên tạp chí Văn học số 4/2015 và Văn nghệ số 30/26-7-2015).

Về thơ Tố Hữu, Lã Nguyên đã dùng thao tác lựa chọn và suy diễn: Thơ Việt Nam (cách mạng và kháng chiến) mà Tố Hữu là ngọn cờ đầu. Tìm ra giá trị của thơ Tố Hữu, định giá nó, cũng tức là định giá được toàn bộ thơ ca xã hội chủ nghĩa. Thơ Tố Hữu có vai trò Đại sứ đặc mệnh toàn quyền đại diện.

Khi giới thiệu khái lược một nền thơ, một thời kỳ, giai đoạn, cho đến một thể loại, người ta chỉ có thể giới thiệu một số cá thể tiêu biểu, một số tác giả tiêu biểu. Đó là phương pháp tư duy thông thường từ thượng cổ tới nay, ông bà thường nói: bó đũa chọn cột cờ. Nhưng khi nghiên cứu đánh giá cả một nền thơ lại không thể căn cứ chỉ vào một người. Một người dù thiên tài cũng chỉ là tiêu biểu mà không phải là toàn thể. Tố Hữu thường được xem là lá cờ đầu của thơ ca hay văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Điều đó là đúng. Nhưng bên cạnh xung quanh lá cờ đầu thì còn nhiều lá cờ khác. Ai cũng biết trong nghệ thuật phong cách riêng là rất quí và một nền nghệ thuật phong phú là nhờ có nhiều phong cách riêng. Chỉ lấy hình thức thơ Tố Hữu để đánh giá thơ ca chủ nghĩa xã hội là một thao tác phản khoa học.

Lã Nguyên chỉ phân tích hình thức thơ Tố Hữu theo thi pháp của Trần Đình Sử là “hình thức quan niệm”. Mà sự phân tích “hình thức quan niệm” của Lã Nguyên ở đây là tìm hiểu thơ Tố Hữu qua các lớp từ ngữ rồi khái quát thành ba lớp ngôn ngữ thơ Tố Hữu: Ngôn ngữ nhà binh, Ngôn ngữ dòng tộc và Ngôn ngữ hội hè. Cái hình thức ngôn ngữ, hình thức quan niệm, hình thức mang tính nội dung ấy… sẽ chẳng mang có gì gọi là thơ cả.

Đến đây cần đặt ra hai vấn đề:

1. Mục đích nghiên cứu của Lã Nguyên.

2. Thơ Tố Hữu có giá trị gì, có đóng góp gì vào cuộc sống, vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để có được đất nước độc lập tự do như hôm nay.

1/ Về mục đích nghiên cứu: Lã Nguyên dùng cách tiếp cận hình thức để giễu cợt bỉ báng hạ thấp Thơ Tố Hữu.

Trong ý niệm chung của người Việt xưa nay “ngôn ngữ nhà binh” mang một ý nghĩa thô thiển vũ phu, cục xúc, là lời lẽ của mấy thầy quyền, thầy cai, thầy đội, ngôn ngữ lính tẩy. A lê hấp! Là cái sự ùng oàng… Đây không phải là thâm ý vì nó lộ liễu quá, nên gọi đúng tên là độc ý (ý tưởng độc địa) chỗ này không cần phân tích dài. Chỉ hỏi Lã Nguyên rằng Trần Mai Ninh – bậc tiền bối và là đồng hương của Lã Nguyên, là người đổi mới thơ ngay từ đầu kháng chiến không phải bắt đầu từ câu chữ, từ “hình thức quan niệm”, “hình thức mang nội dung” mà nó bật ra từ cuộc sống, từ hành động, từ trái tim sục sôi nhiệt huyết của Trần Mai Ninh. Lại một người đồng hương khác của Lã Nguyên, nhà thơ Cầm Giang, Cầm Vĩnh Ui và Bạc Văn Ùi là bút danh của Lê Gia Hợp, người Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ngôn ngữ trong Núi Mường Hung, Dòng sông Mã, Con gái Châu Yên, Nhớ vợ, Em tắm… có gì là thơ không? Và Dưới bóng cây Kơnia của Ngọc Anh, nó là ngôn ngữ gì? Các bài Nguyên Tiêu, Cảnh rừng Việt Bắc, Đăng Sơn của Hồ Chí Minh… là thuộc lớp ngôn ngữ nào?

2/ Cứ cho là ngôn ngữ thơ Tố Hữu như thế. Nhưng thơ Tố Hữu có giá trị gì không? Theo GS Phong Lê thì Tố Hữu có ba cái nhất: nhiều người thuộc nhất – được in nhiều nhất và nhiều người nghiên cứu nhất, trong đó không thể không nhắc đến “Thi pháp thơ Tố Hữu” của “nhà thi pháp học Việt Nam Trần Đình Sử” (Tạp chí LLPBVHNT số 6/2015, bài của Lã Nguyên).

Với Tố Hữu, chỉ mấy bài: Từ ấy, Nhớ đồng, Bác ơi!, Bầm ơi và bản dịch Đợi anh về (dịch thơ Simônốp) đã khẳng định giá trị, vị trí của ông trong thơ ca dân tộc thời hiện đại. Phần cuối sẽ nói giá trị thơ Tố Hữu trong thực tiễn.

Ngôn ngữ thơ ca bao giờ cũng là ngôn ngữ của cuộc sống, từ cuộc sống, đương nhiên nhà thơ phải tinh luyện lại. Cuộc sống thay đổi ngôn ngữ phát triển theo đó. Thơ ca tiếp thu ngôn ngữ đó là một qui luật. Cái quan trọng người ta xem xét nội dung, giá trị của tác phẩm chứ không phải ở cái vỏ ngôn ngữ, dù là “hình thức quan niệm”. Núi đôi (Vũ Cao), Quê hương (Giang Nam), Nhớ Miền Đông (Xuân Miễn), Vàm Cỏ Đông (Hoài Vũ)… Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây (Phạm Tiến Duật), Sợi nhớ sợi thương (Thuý Bắc)… có chút gì là tình cảm tâm hồn, là hơi thở của cuộc sống, là lương tri của dân tộc không? Cuối cùng, khi nghiên cứu Tố Hữu nên nhớ câu thơ này của ông:

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy
luận văn chương.

Đấy mới là phương pháp nghiên cứu, là thi pháp học đúng đắn nhất cho nghiên cứu văn học thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc.

Tài như “vua truyện ngắn” mà ra nước ngoài lại tuyên bố “Đối với thế hệ chúng tôi cuộc chiến tranh ấy thật đáng nôn mửa” (Trần Đăng Khoa, VNQĐ số 496 tháng 4-2004, in lại trong Luận chiến Văn chương. Quyển 3. Phần Phụ lục Nxb Văn học. H. 2015) thì cái “hình thức quan niệm”, cái “lớp ngôn ngữ” đó mang giá trị gì? Xưa Giang Văn Minh chỉ nói một câu “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” nó là thứ ngôn ngữ gì, câu nói đó mang giá trị gì? Lời của chị Võ Thị Sáu, anh Lý Tự Trọng, anh Nguyễn Văn Trỗi trước lúc hy sinh; của người anh hùng Võ Thị Thắng trước Tòa án Ngụy… thuộc lớp ngôn ngữ nào, có giá trị gì?

Lã Nguyên và Trần Đình Sử chỉ nói theo lý thuyết nước ngoài thì chỉ thấy ra những giá trị thơ ca theo con mắt của người nước ngoài thôi. Cái nô lệ học thuật nó tốn hại bút mực như thế đấy. Đúng là:

Công dân chắt bóp nuôi cò
Đến khi cò lớn cò dò theo Tây!

II. Trở lên, Lã Nguyên dùng thi pháp, hình thức ngôn ngữ để hạ thấp, diễu cợt thơ Tố Hữu. Tiếp đến, lại dùng thi pháp, điểm nhìn, cấu trúc… để đưa một quyển sách xấu lên thành một thiên tiểu thuyết độc sáng, quyển Miền hoang của Sương Nguyệt Minh.

Lã Nguyên hoàn toàn lẩn tránh nội dung tác phẩm mà chỉ đưa ra cách tổ chức hình thức tác phẩm, chuyển đổi điểm nhìn trần thuật, dụng công chuyển hóa nhân vật truyện kể thành nhân vật người kể chuyện, tác phẩm có bốn nhân vật nhưng thực ra là có năm, vì còn “tác giả hàm ẩn”. Lã Nguyên viết: “… điểm mới lạ độc sáng trong thiên tiểu thuyết này là nghệ thuật chuyển đổi điểm nhìn trần thuật. Nghệ thuật chuyển đổi điểm nhìn được thể hiện ngay ở dụng công của Sương Nguyệt Minh trong việc kiến tạo hệ thống nhân vật người kể chuyện: Có tới 5 nhân vật người kể chuyện trong một tác phẩm chỉ có 4 nhân vật truyện kể”.

Một điều đơn giản, tối đơn giản trong văn xuôi hư cấu là dù có bao nhiêu nhân vật, bao nhiêu kiểu loại nhân vật, có thể đến hàng trăm như trong Chiến tranh và Hòa bình nhưng đằng sau các nhân vật là tác giả, mà sự thực cuối cùng, chỉ có một người, là tác giả, đã hóa thân vào các nhân vật, là ngôn ngữ tác giả tiềm ẩn hay tác giả tiềm ẩn. Trong Miền hoang có 4 nhân vật, nhưng có đến 40 hay 400 nhân vật người kể chuyện vẫn là chuyện do Sương Nguyệt Minh kể mà thôi. Cần gì phải dài dòng lý luận những là điểm nhìn trần thuật, nhân vật truyện kể, nhân vật người kể chuyện… tác giả hàm ẩn… Vấn đề quan trọng là các nhân vật đó kể chuyện gì, kể như thế nào, thực chất là tác giả kể chuyện gì, hàm ý gì, cuối cùng toàn bộ tác phẩm muốn đưa đến cho người đọc một thông điệp gì? Lã Nguyên lẩn tránh chỗ này bằng cách diễn trò câu chữ, thuật ngữ, khái niệm, lý luận tân kỳ rối rắm.

Cái độc sáng chỉ có 4 nhân vật mà thành ra 5 người kể chuyện… thì trong văn xuôi Việt Nam xưa nay có vô vàn điểm mới lạ độc sáng. Đằng sau Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở… là ai nếu không phải là Nam Cao. Đằng sau Nghị Quế, chị Dậu là ai nếu không phải là Ngô Tất Tố. Cho là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất như Mảnh trăng cuối rừng… thì vẫn là Nguyễn Minh Châu… Lã Nguyên tự bịt mắt mình chứ không phải bịt mắt bắt dê…

Ta hãy xem các nhân vật của Sương Nguyệt Minh kể chuyện như thế nào: Một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở chiến trường Campuchia… bị bắt làm tù binh, sợ chết sợ gian khổ, mất tinh thần chịu khuất phục, hoàn toàn phải sống bám vào kẻ địch. Đến nỗi có cơ hội thoát ra, nhưng sợ quá, lại quay trở lại. “Tao theo bọn mày về căn cứ. Tao muốn khêng cõng Ông Lớn” (Miền hoang, NXB Trẻ, 2014, tr.351). Như vậy là nhân vật người kể chuyện – Tùng – quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia – đã đầu hàng. Cuối cùng cả bọn thoát ra khỏi rừng già, gặp lại đời thường người thường thì không ai nhận ra nữa, vì bọn này đã thành người rừng, thành dã nhân, bị đời lãng quên…

Dù chuyển đổi điểm nhìn nghệ thuật như thế nào, nhân vật truyện kể thành nhân vật người kể chuyện… mà bỏ qua nội dung đó, thì nó là thứ thi pháp gì? Về cuộc chiến và người lính Việt Nam tình nguyện chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn Pốt… nên lắng nghe chính giới quân sự và những người đã kinh qua cuộc chiến đó bình luận. Nhưng tại sao Lã Nguyên chỉ phân tích hình thức mà lảng tránh đi cái cốt lõi nhất là nội dung tiểu thuyết, là cảm nhận cuối cùng mà toàn bộ thiên tiểu thuyết đem lại cho người đọc?
Đem cái áo chùng thâm lý luận mà trùm khoác lên cái tác phẩm cọc cỡn như thế, thì thi pháp học quả là tiện ích!
Để cụ thể hơn, xin phân tích một đoạn:

“Ngôn ngữ kể chuyện của chàng trai ấy luôn rẽ theo hai cực. Ở cực này nó là ngôn ngữ hồi ức đầy ắp chất thơ về Hà Nội, tuổi trẻ học đường và tình yêu đầu đời. Ở cực kia nó là ngôn ngữ bút ký chiến trường được diễn bằng mảng từ ngữ xù xì, thô tháp giàu chất văn xuôi. Biến Tùng – nhân vật người kể chuyện so với nhiều tác phẩm cùng viết về đề tài chiến tranh Sương Nguyệt Minh đã tìm thấy cho tiểu thuyết một điểm nhìn thế giới rất mới mẻ”.

Chỗ này thì các học trò làm luận văn luận án thi pháp tiểu thuyết phải bái phục các sư phụ. Có thể dẫn đoạn văn ấy vào tất cả các luận văn luận án nghiên cứu văn học về đề tài chiến tranh. Nhớ phải tránh cái nội dung ra.

Ta xem thế giới theo các cực ngôn ngữ của nhân vật Tùng.

- Ngôn ngữ hồi ức đầy ắp chất thơ về Hà Nội… Xin bạn đọc giở trang 193 đến 196, cả chương 23: Đám này chỉ đi rình xem người ta làm tình, trong đêm tối mà vẫn nhìn thấy “lông mu rậm rì, xanh đen mượt như nhung” (Miền hoang, NXB Trẻ, 2014).

Cái “chất thơ Hà Nội, tuổi trẻ học đường” theo cảm quan nghệ thuật của Lã Nguyên là như thế đó.

Còn ở cực kia – ngôn ngữ bút ký chiến trường “Lúc này đi về quê mẹ hay sống trần trụi giữa kẻ thù thì cơ hội tồn tại hay không tồn tại đều như nhau… càng nghĩ, anh càng hoang mang rối mù” (tr.241), anh mất hết thần khí trở nên bạc nhược (tr.224) rồi cảm thấy sợ hãi. Quá sợ hãi. Cực thân quá. Bỗng dưng anh ôm mặt khóc tu tu…” (tr.242-243).

Cái ngôn ngữ thô tháp, giầu chất văn xuôi nó như thế đấy. Lã Nguyên giảng giải rất hay về không gian nghệ thuật. Không gian truyền kì, không gian thực tại và sự chuyển đổi điểm nhìn không gian văn bản. Toàn văn của tiểu thuyết được chia thành 88 phần cũng có thể gọi là 88 “tiết” không gian văn bản nào của “tiết” cũng được phân “lo” (locus), chia thành hai “vùng”, hai “khu vực” (region), mỗi “khu vực” là không gian cư ngụ của một loại hình văn bản. Mở đầu mỗi “tiết” là một thông tin ngắn gọn. Các chỉ dẫn về nguồn thông tin, kiểu như “Đài phát thanh Băng Cốc, 8-1-1979” (tr.5), “Thông tấn xã Pathet Lào, 9-1-1979” (tr.8), “Báo Quân đội nhân dân, 9-1-1979”, chứng tỏ đây là không gian của văn bản “thông tấn”. Văn bản chính yếu của tiểu thuyết chiếm giữ khu vực không gian trung tâm, nằm bên dưới không gian của văn bản thông tấn. Mỗi loại văn bản có một câu chuyện riêng, thể hiện cái nhìn riêng đối với cuộc chiến ở Campuchia. Văn bản chính của tiểu thuyết kể câu chuyện… bằng cái nhìn của người trong cuộc. Văn bản “thông tấn kể chuyện về chiến tranh bằng cái nhìn của người ngoài cuộc… Hay lắm, cho là hai “mảnh” văn bản này giễu nhại, chọi lại nhau… thì quan hệ giữa chúng là như thế nào. Ta hãy khảo sát “tiết” 72, tr.522.

Mở đầu tiết này là:

Vấn đề không phải kích cỡ con chó trong cuộc chiến, mà là kích cỡ cuộc chiến trong con chó.
(Mark Twain)

Văn bản chính, phần dưới kể chuyện: Dã nhân (mà gã lắp bắp tiếng ngộ… ngộ… một đại từ nhân xưng rất thường xuyên của Hoa kiều ở Đông Dương) bị còng tay vào cây cho chết nắng. Kền kền bay đến. Tùng tưởng tượng cảnh rùng rợn kền kền ăn xác chết. Tùng nghĩ đến thân phận mình…

Sự giễu nhại, chọi lại nhau giữa hai “mảnh” văn bản này nói lên điều gì?

Dùng lý luận Hàn lâm ở đây thì dài dòng. Phải dùng trí tuệ dân gian mới được. Vợ Binh Mậu mắng hàng xóm láng giềng để bênh em dâu: A… thím ấy có trót lấm lưng chỗ này chỗ kia với thằng này thằng kia thì nhà này họ này phải chịu. Chúng bay nỏ mồm làm gì nào… Bênh nhau như thế quá bằng giết nhau. Giữa lời của Mark Twain và tình cảnh của Tùng với mấy tên Khơ-me đỏ chẳng có gì là giễu nhại, chọi nhau. Nhưng người đọc hiểu: kích cỡ của cuộc chiến này là kích cỡ của con chó… Còn độc hơn bãi nôn mửa của “vua truyện ngắn!”.

Thế mới biết lý luận cũng có thế mạnh của nó. Cái này phải hỏi bên Viện Lịch sử Quân sự, bên Tổng cục Chính trị xem thế nào. Nhưng mà thi pháp học, không gian nghệ thuật có khi cũng được việc, biết mượn lời Mark Twain.

Lã Nguyên cho rằng bức tranh thế giới được trần thuật trong Miền hoang hiện lên như vũ trụ trong kính vạn hoa, giúp cái “tứ” trung tâm nói về thân phận bi hài của những người lạc đường lạc loài bị bỏ rơi bỏ quên… tìm thấy một hình thức biểu hiện độc đáo:

Cái “tứ” trung tâm của tác phẩm này là: Bị lạc hiểu theo nghĩa rộng, lạc đường, lạc hướng, lạc loài, rồi bị bỏ rơi, bỏ quên là cái “tứ” lớn của thiên tiểu thuyết nói về thân phận bi hài của con người hiện đại.

Nếu khoa học và nghiêm túc Lã Nguyên hãy viết một tiểu luận, hay một chuyên luận về thân phận con người hiện đại theo quan điểm của mình. Còn suy ra từ Miền hoang từ một kẻ đầu hàng cùng với mấy tên Khơ-me đỏ đã mất nhân tính, lạc đường trong rừng rậm… thì là tự nắm tóc nâng mình lên tầm cao thi pháp…

Đem một thứ lý luận học mót đã lỗi thời ra để dìm dập một giá trị và tô vẽ nâng một quyển sách xấu về mọi phương diện lên thành giá trị độc sáng. Đấy chính là sự tráo trở của thi pháp học Trần Đình Sử mà Lã Nguyên là người tiên phong hăng hái thực hành.

Để giúp GS-TS Trần Đình Sử và PGS-TS Lã Nguyên cùng các bạn ở các thế hệ 7X, 8X, F… (Facebook), chúng tôi trích đăng bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương:

“THƠ TỐ HỮU VŨ KHÍ ĐẤU TRANH TRONG NHÀ TÙ ĐẾ QUỐC”

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp sắp bùng nổ, tôi đang công tác ở cơ quan Thanh niên cứu quốc phủ Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, được khu ủy 6 điều động cùng một số cán bộ khác vào cực Nam Trung bộ là những tỉnh bị Pháp chiếm đóng từ cuối năm 1945, đang rất thiếu cán bộ.

Trước khi lên đường, chúng tôi được dự một cuộc gặp mặt gồm có các đồng chí: Lê Văn Sỹ, Trần Quý Hai, Nguyễn Côn là những cán bộ cao cấp của Đảng, đã trải qua nhà tù đế quốc trước Cách mạng tháng Tám. Với kinh nghiệm của những người đi trước, các đồng chí dặn dò chúng tôi nhiều điều về công tác dân vận, binh, địch vận, công tác vùng sau lưng địch, đặc biệt là về tinh thần đấu tranh khi rủi ro bị địch bắt. Đồng chí Nguyễn Côn khi đó là Bí thư Khu ủy khu 6 kiêm Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên (sau này là Phó thủ tướng), hỏi thẳng chúng tôi: “Nếu bị địch bắt, có chịu đựng nổi đòn tra tấn của chúng không?”. Chúng tôi chưa kịp trả lời thì đồng chí nói luôn: “Tôi tin là các anh chịu đựng được”. Đồng chí dặn chúng tôi: trước đòn roi của địch, luôn luôn nghĩ mình là chiến sĩ cách mạng, noi gương các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai… thà chết không khuất phục. Đồng chí Lê Văn Sỹ (hiện nay có đường phố mang tên đồng chí ở TP.HCM) đọc một câu thơ của cụ Phan Chu Trinh: “Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn” (Làm trai há sợ ngục Côn Lôn) và dặn chúng tôi: nên cố gắng tìm đọc một số thơ, văn của các chiến sĩ cách mạng bị tù đày để nâng cao tinh thần. Đồng chí nhắc đến bài thơ Tố Hữu viết tặng các đồng chí hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940. Đó là bài Quyết hy sinh. Đến lúc này, tôi đã thuộc một số bài thơ của Tố Hữu như: Ly rượu thọ, Ngày về, Tranh đấu… nhưng chưa được đọc bài Quyết hy sinh. Tôi đọc ngấu nghiến, rất kính phục tinh thần các chiến sĩ cách mạng bị địch sắp hành hình:

Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!
Chỉ còn đây một giây sống nữa thôi
Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản
Giữa lúc giặc hầm hầm tay lắp đạn
Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang
Vẫn oai nghi như bao thuở đường hoàng!
Hơi chiến sĩ vẫn rền vang, dõng dạc:
“Hỡi giặc Pháp, tám mươi năm tội ác
Trên đầu bay. Sống thác ta cần chi!”

Tôi không ngờ, chỉ một thời gian ngắn sau khi lên đường vào cực Nam Trung bộ, tôi bị địch bắt giam ở nhà tù khám lớn Nha Trang. Ở đây, tôi được sống chung với nhiều tù nhân, phần lớn là thanh niên ở độ tuổi trên dưới 20. Nhiều người chưa có dịp được đọc thơ văn cách mạng và thơ Tố Hữu. Sau khi chơi thân với anh em, tôi dò ý từng người và đọc thơ Tố Hữu cho họ nghe. Đọc một cách kín đáo, thận trọng vì còn đề phòng trong nhà lao có địch cài vào để theo dõi hoạt động của tù chính trị. Tôi là ủy viên chi bộ nhà tù, phụ trách hai phòng giam số 7 và số 8. Việc tuyên truyền chính sách của Việt Minh, đọc thơ văn cách mạng cho tù nhân nghe cũng là một công việc mà chi ủy nhà tù khuyến khích cho nên tôi cố gắng làm theo khả năng của mình.

Anh Ba, một nông dân tham gia kháng chiến, bị địch bắt giam, lớn tuổi hơn tôi nhưng không được học hành, không biết chữ. Anh rất thích nghe tôi đọc bài Hồ Chí Minh của Tố Hữu. Anh học thuộc mấy câu:

Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết chí hy sinh
Cho Việt Nam độc lập
Cho thế giới hòa bình

Chúng tôi đây
Lớp con cháu trên đường
Gươm tuốt vỏ, súng cầm tay, xốc tới

Khi nào quên, anh lại bắt tôi đọc lại.

Anh Mai, người ngăm ngăm đen, một chiến sĩ Biệt động nội thành rất thích bài Trăng trối. Mới nghe mấy câu đầu:

Từ thuở ấy quăng thân vào gió bụi
Đến hôm nay phút chết đã kề bên
Đến hôm nay, kiệt sức tôi nằm rên
Trên ván lạnh
không mảnh mền, mảnh chiếu
Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa.

Anh cứ chép miệng khen hay. Anh tha thiết đề nghị tôi chép toàn bộ bài thơ cho anh học thuộc lòng. Trong nhà tù, tìm được tờ giấy để viết cả bài thơ là rất khó. Anh Mai liền lấy mấy tờ báo thỉnh thoảng địch phát không cho tù nhân đọc để rọc lấy phần lề trắng, dàn ghép lại, đủ để chép thơ. Tôi chép nửa bài Trăng trối, khi nào anh đọc thuộc tôi sẽ chép tiếp. Chỉ chép các câu thơ, không chép đầu đề, cũng không chép tên tác giả. Anh Mai đọc xong, chuyển cho các anh khác đọc, cũng theo cách “chọn mặt gửi vàng”. Đến lượt anh Quý lấy đọc. Anh Quý là một thanh niên có khuôn mặt sáng sủa, rất hoạt bát, đọc rất mau thuộc. Khi anh còn đang giữ tờ giấy chép thơ thì có tiếng kẻng mở cửa cho tù nhân ra giếng rửa chén, bát và tắm giặt. Giếng ở trong sân sau nhà lao. Anh cuộn bài thơ giắt trong cặp quần đùi rồi đi ra giếng luôn. Sơ ý, anh kéo lưng quần, tờ giấy có chép thơ rơi ra. Tên lính gác số 50 – chúng tôi thường gọi là thằng “Xanh căng”, đang theo dõi anh em tắm rửa nhìn thấy, lập tức chạy lại nhặt tờ giấy đưa về cho bọn mật thám. Anh Quý bị bắt đưa vô phòng tra tấn. Địch tra hỏi anh mãi bài thơ này ở đâu ra, ai chép, ai đưa cho mày đọc? Anh cứ một mực trả lời là nhặt được trong nhà lao, thấy mấy câu thơ đọc chơi cho vui. Điều địch rất quan tâm là người chép thơ, đường dây liên lạc bí mật và những hoạt động tuyên truyền có tổ chức trong nhà lao.

Khi anh Quý bị bắt đưa về nơi thẩm vấn, tôi rất hồi hộp, chuẩn bị sẵn sàng, nếu anh ấy khai ra thì sẽ đối phó ra sao. Tôi là tù nhân chưa bị kết án, mới bị tam giam, chờ điều tra thêm. Nếu địch phát hiện tôi là người chép thơ thì rất tai hại. Lúc này tôi cố ôn lại lời dặn dò của các đồng chí Nguyễn Côn, Lê Văn Sỹ, Trần Quý Hai và lẩm nhẩm các câu thơ Tố Hữu:

Dù mai đây có chết một thân tôi
Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu…
Đường tranh đấu
không một giờ thoái bộ
Sống đã vì cách mạng anh em ta
Chết cùng vì cách mạng
chẳng phiền hà
Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng.

Tôi cứ đọc đi đọc lại mấy bài thơ trong tù của Tố Hữu và chờ tin chẳng lành từ bọn cai ngục. Biết tôi đang suy nghĩ, lo lắng, anh Mai và một số bạn thân trong phòng giam động viên tôi: cứ yên tâm và cho biết: Quý là một thanh niên rất “gan ruột”, đã mấy lần bị địch tra khảo không hề hé răng. Đồng thời, anh em cũng nhắc nhở tôi giữ vững tinh thần, nếu xảy ra trường hợp xấu nhất. Rất may địch đã không moi được gì ở Quý. Anh bị đánh bầm tím cả mặt mũi, bị đưa về xà lim cả tuần. Đến khi trở lại phòng giam số 7, người gầy rạc đi, những vết đòn còn hằn trên lưng, trên mặt. Anh rất vững vàng, còn ngâm nga mấy câu thơ đã thuộc:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai.

Hôm sau anh lại rỉ tai tôi bảo tiếp tục chép thơ Tố Hữu cho anh đọc để “ra tù đọc cho bà con nghe”. Tôi đùa: “Chưa ngấm đòn à?”. Tôi cũng cảm ơn anh là đã không hé miệng nửa lời. Nhờ đó tôi đã được an toàn.

Thời gian tôi bị giam cầm không dài nhưng đủ để thấy tác động to lớn qua những vần thơ cách mạng của Tố Hữu. Nó quả thật là một vũ khí nâng cao chí khí cách mạng cho những chiến sĩ cách mạng đã đọc và thuộc thơ anh. Anh Mai, anh Quý và một số anh em khác, sau này còn bị địch đàn áp dã man do đấu tranh chống địch trong nhà tù. Các anh đã dũng cảm chịu đựng, không hề nao núng và tiếp tục phổ biến thơ Tố Hữu cho người khác nghe.

Câu chuyện tôi đọc thơ, chép thơ Tố Hữu cho các bạn tù khám lớn Nha Trang cũng như việc anh Quý bị tra tấn dã man vì giắt thơ Tố Hữu ở trong người được các đồng chí lãnh đạo ở Thị ủy Nha Trang biết và rất cảm động. Khi ra tù, tôi tiếp tục hoạt động bí mật trong nội thành Nha Trang. Có lần, khi lên họp ở cơ quan Thị ủy đóng ở vùng núi phía tây nam Nha Trang, anh Lê Huy Phát, Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến và anh Mai Xuân Cống, Bí thư Thị ủy Nha Trang, nói vui với tôi: “Còn nhớ thơ Tố Hữu không, chép ít bài đọc chơi”. Không đợi tôi chép thơ, các anh cũng đã đọc cho tôi nghe một số bài thơ Tố Hữu mà các anh đã thuộc. Ai cũng thấy thơ Tố Hữu rất bổ ích cho mình.

Trước đây cũng như sau này, tôi thấy thơ Tố Hữu chẳng những được rất nhiều người hâm mộ mà nó còn là hành trang của nhiều cán bộ, chiến sĩ trên con đường công tác, chiến đấu đầy gian lao, thử thách. Nó giúp mọi người nâng cao chí khí, nó như một sức mạnh vật chất khi gặp khó khăn. Mỗi lần thất bại, chúng tôi lại vịn vào thơ anh mà tiếp tục nhiệm vụ của những người chiến sĩ cách mạng.

Dậy mà đi! Dậy mà đi!
Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi
Ai chiến thắng mà không hề thất bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần
Huống đường đi
còn lắm bước gian truân
Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!

Lòng không nghèo tin tưởng ở tương lai
Chân có ngã thì đứng lên lại bước

Một lần ngã là bao lần bớt dại
Để thêm khôn
một chút nữa trong người…

(Người làm báo – số tháng 2- 2003)
Xin kính gửi tới các nhà thi pháp học.

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 376

Ý Kiến bạn đọc