Truyện ngắn

Sự tích của một con vật

 

Chuyện cổ tích này, hẳn nhiều người biết và nếu nhắc lại vào thời điểm này vẫn còn có vẻ hợp thời.

Có một vị quan, mà là quan lớn, dĩ nhiên phải ở thời xưa, song không được rõ là triều đại nào, vốn là một người rất mực đạo mạo, áo mão hia đai chững chạc, trấn nhậm suốt nhiều năm dài ở một vùng đất trù phú mà đa số dân sống bằng nghề nông. Hoài bão của quan xoay tròn theo ba tiêu chuẩn gọi là “ba nhất”, gồm có nhất ghế, nhất tiền và nhất bản thân.

Vì vậy, suốt cái hoạn lộ thênh thang mà ngài leo lên từng nấc một với sự kiên trì đặc biệt, ngài chỉ ngày đêm lo nghĩ trăm phương ngàn kế móc ruột dân đen để có những quà trọng hậu dâng lễ quan trên và có phương tiện cung phụng cho sự xa xỉ của mình cùng với gia đình. Ngài biết khai thác mọi thứ kẽ hở ở trong guồng máy chính quyền, như trong luật pháp, để mà giở trò ảo thuật đặng hái ra tiền. Những năm sống dưới quyền ngài, dân quê đói rách, xác xơ, ai cũng nuôi lòng oán hận nhưng sợ uy quyền của quan nên chỉ bụm miệng chửi thầm để cho hả tức. Lòng tham vốn là một loại mắt kiếng đen dày khiến quan không còn nhìn thấy nỗi khổ ở chung quanh mình. Cứ thế, nhờ những ô lớn – mua được bằng tiền dân chúng – quan được bao bọc, chở che, nên cứ bình chân như vại để mà hưởng… lộc.

Nhưng quan không thể sống được dài lâu. Ăn uống vô độ, hưởng lạc thái quá, quan sớm lìa đời vào lúc kinh nghiệm vơ vét của dân đã được tích lũy rất là dồi dào.

Dĩ nhiên, một tên tham nhũng như thế phải bị quỷ sứ lôi xuống địa ngục, ngay khi nhắm mắt. Đến lúc hội đồng âm-phủ ngồi lại cùng vị chủ tọa Diêm Vương thẩm tra tội trạng của gã ở trên dương thế, các vị đã quá kinh ngạc về sự hà lạm, nhũng nhiễu của gã đối với dân lành.

Một vị phát biểu:

- Không thể xách đầu nó quăng vào vạc dầu sôi, hay thiêu nó trên bếp lửa theo kiểu các món đặc sản mà nó quen dùng trong các nhà hàng. Phải trừng trị nó thích đáng hơn nhiều.

Vị khác tiếp lời:

- Theo tôi, hãy treo cổ nó lên giàn mướp, mỗi ngày cho quỷ Dạ-Xoa lẻo một miếng thịt, nhậu với rượu đế Gò-Đen, cứ vậy cho đến khi còn trơ lại bộ xương mới hả cơn giận của người lương thiện bị nó lắt túi.

Mỗi vị đưa ra một loại hình phạt, và vị nào cũng thành thật nghĩ rằng ý kiến của mình là đặc sắc nhất. Cuối cùng Diêm Chúa coi bộ sốt ruột, liếc nhìn đồng hồ, phán rằng:

- Tội ác của tên quan này không thể trị bằng bất cứ là hình phạt nào mà cõi Âm-phủ đã có ghi trong danh mục, hoặc trong trí tưởng vốn đã đóng khung từ lâu của các khanh đây. Do những nguyên nhân như sau: quyền lực là một vốn liếng xã hội cực kỳ lợi hại, nay đem khai thác làm lợi ích riêng là một thể loại chiếm hữu vô cùng ngang ngược, gian manh. Cái quyền lực ấy làm bằng máu xương, tâm lực nhiều người, nhiều đời, không thể chế biến thành một loại dao Thái Lan để trấn lột người. Nói rõ hơn nữa, những bọn tham nhũng, lợi dụng chức quyền đã ra công sức đào khoét nền móng chế độ, góp phần làm cho rã rời, suy sụp, đồng nghĩa – hoặc là đồng lõa – với bọn thù địch đang nuôi ý đồ phá hoại từ ngoài (ghi chú: hồi ấy, Diêm Vương chưa nghe nói về Diễn biến hòa bình).

Dừng lại uống ngụm xô-đa có chanh pha đường, Diêm Vương nói tiếp:

- Đó là điều một. Còn điều thứ hai, bọn tham nhũng là loại hạng người hết sức tàn bạo vì không xét đến nỗi khổ của dân, không biết đến các bi kịch trong nhiều gia đình, không kể đến cái tiền đồ của một xã hội, của một dân tộc. Chính sự đục khoét của chúng tạo một dây chuyền cướp giật lẫn nhau, bằng nhiều hình thức ở trong xã hội, và là cha đẻ của các tệ nạn. Trong sự xếp loại, tham nhũng là thứ tệ nạn số một. Nó khuyến khích sự đồi trụy, gieo rắc lãng phí, thúc đẩy buông thả, tạo ra rối loạn, gián tiếp kích động bất mãn, bất bình. Ba là…

Diêm Vương dừng lại, nhăn mặt:

- Khỏi nói đến điều thứ ba cho thêm dài dòng và lại lãng phí thì giờ là sự lãng phí lớn nhất và tệ hại nhất hiện nay. Ta có ý kiến như sau: hãy đem hóa kiếp nó thành con vật – vì nó không thể xem như con người – và bắt nó trả món nợ lại cho nông dân, đời đời kiếp kiếp, mênh mông bất tận. Nó không còn được sống trong nhàn hạ, rung đùi nhậu nhẹt mà phải cật lực làm việc dãi nắng dầm mưa, chịu sự đòn roi và nếu cần đến, thì cả dao thớt để mà xử lý. Nó sẽ không được ở trong biệt thự, ngủ trên nệm ấm chăn êm với phòng máy lạnh mà sống trong chuồng hôi hám, bạn với muỗi mòng, hoặc phải dầm mình trong vũng sình lầy dơ dáy. Và nó không còn được ăn đặc sản cùng các mỹ vị cao lương mà phải nhai loài cỏ dại, rơm khô, và nhai ngày đêm như thế – nuốt vào lại phải ựa ra để nhai lại nữa – đặng mà có dịp ngẫm nghĩ sự đời và cũng đúng với thể cách hay ăn của nó.

Dĩ nhiên, ý kiến Diêm Vương được sự hoan nghênh nhiệt liệt của cả Hội đồng Âm-phủ. Trong hội đồng này, có bà Diêm Chúa vốn là nhạc sĩ tài ba giữ chức trưởng câu lạc bộ ca nhạc ở dưới địa ngục. Khi tiếng vỗ tay vừa dứt, bà hỏi Diêm Vương:

- Tôi góp một ý, được không?

Diêm Vương sốt sắng:

- Bà cứ tha hồ, góp bao nhiêu ý cũng tốt. Và tôi tin chắc ý bà hết sức tuyệt vời.

Không chỉ là người rất biết nịnh đầm, Diêm Vương còn được liệt kê vào loại sợ vợ đặc biệt. Điều này không lạ vì trần gian là cõi dương thì địa ngục là cõi âm, do đó ở đây nhất định là âm phải thịnh. Mà âm đã thịnh, thì dương phải suy.

Bà Diêm Vương liếc quanh một vòng đặng gây áp lực, rồi nói:

- Về các con vật mà ông nhà tôi phác họa mô hình để hóa kiếp tên tham nhũng thì cũng kể như là hoàn chỉnh rồi. Song với tư cách là một nhạc sĩ, tôi luôn quan tâm về mặt âm thanh nên xin bổ túc vào lĩnh vực này. Thế tên tham nhũng thích nghe loại âm thanh nào? Đó là những tiếng tiền rung, rượu nổ, những lời thì thầm ở trong phòng lạnh hay tiếng tục tĩu nơi quán bia ôm, đó là những câu nịnh bợ ngọt ngào, những kiểu úp mở để mong vòi vĩnh, đó còn là những loại nhạc dậm dựt, kích động con người… Nói chung, thì bọn tham nhũng góp phần không nhỏ vào việc làm cho ô nhiễm môi trường âm thanh, và điều này cũng cần được trừng trị.

Diêm Vương bèn phán:

- Thế thì cho nó điếc đặc!

Bà Diêm Chúa cười mỉm, đáp lời:

- Tôi lại không nghĩ như vậy. Điếc đặc có thể là một ân huệ. Nhất là sống môi trường hỗn loạn âm thanh, đầy sự quảng cáo phô trương dối trá, giữa những xuyên tạc và những dèm pha thì chẳng gì hơn là được chối từ một sự tiếp thu qua đường lỗ nhĩ. Cần bắt con vật này nghe tiếng roi, tiếng mắng của người chủ nó, nghe những tiếng dao, tiếng thớt của người thịt nó, nghe sự chê bai và lời nguyền rủa, chớ không cho nó được quyền điếc đặc. Chỉ có một điều là tước đoạt hẳn nơi nó một sự tiếp nhận những thứ âm thanh huyền diệu trên cõi đời này, như nó đã từng chối bỏ khi chưa hóa kiếp.

Và bà Diêm Chúa có vẻ hùng hồn, tiếp lời:

- Quí vị cũng thấy rõ ràng một trong hạnh phúc của cuộc sống này là sự thưởng thức âm thanh, âm thanh tuyệt vời của trời và đất, đó là chim hót, gió reo, và những âm thanh tuyệt diệu từ những nhạc sĩ tài hoa ý thức sự sống nghệ thuật của mình có thể nâng cao tâm hồn con người, làm cho con người trở nên người hơn qua sự tác động của những âm sắc, âm thanh chọn lọc. Như thế, chỉ những con người chân chính mới được cái quyền thụ hưởng âm nhạc chân chính. Còn loài vật ấy, không được cái quyền thụ hưởng âm nhạc chân chính của nhân loại này!

Diêm Vương gật đầu:

- Đúng lắm! Nếu để cho nó cũng nghe được những bản nhạc tuyệt vời thì các nỗi khổ mà nó chịu đựng sẽ thành nhẹ nhàng chừng nào.

Rồi ông truyền cho những kẻ thuộc hạ:

- Hãy nhớ sửa đổi hai cái lỗ nhĩ con vật cho teo tóp lại một kiểu nào đó để chỉ nghe được mỗi thứ âm thanh của sự đọa đày.

Như thế, tên tham nhũng được biến thành con vật nặng nề cho hợp với vẻ bệ vệ của y, có đủ hai sừng cong lại như hai cái tai của mũ cánh chuồn, mũi luôn nghếch lên để ngửi như muốn đánh hơi kiếm tìm… đối tác. Đặc biệt nó luôn tỏa mùi hôi hám chứ không còn xịt nước hoa ngoại nhập hàng ngày và không được mặc áo quần đúng cách thời trang mà chỉ khoác một màu da xám xịt. (Thỉnh thoảng, do sai sót trong kỹ thuật chế biến, cũng có đôi con khoác bộ lông trắng, nhưng chỉ là để báo hiệu mất mùa và chịu thêm sự nguyền rủa của người thiên hạ).

Và theo ý kiến của bà Diêm Chúa, nếu có một nhạc sĩ nào lẩm cẩm đem đàn lại gảy bên tai con vật, thì nó vẫn cứ tỏ ra ù ù, coi như không nghe, không biết, không hiểu gì hết.

Riêng về cái tên đặt cho con vật thì được bàn tán khá nhiều. Cuối cùng, các vị ở trong hội đồng vốn thích thi ca, nên ưa vần điệu, do đó muốn chọn cái tên cùng vần với những tiếng có ý nghĩa xấu xa của trò tham nhũng, quơ quào, như thâu, xâu… Và bọn này được tồn tại là nhờ ở sự móc ngoặc, tức câu, và sự nịnh bợ, là tâu. Tóm lại, nó cũng hèn hạ như một loài sâu, do đó nên có cái tên… con trâu. Và trâu chỉ nghe được những lời chửi rủa hoặc tiếng dao thớt chứ không tiếp nhận được những âm thanh dịu dàng, nên dân gian có lời miệt thị: “Đàn gảy tai trâu”.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 564

Ý Kiến bạn đọc