Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Sự thật về cái gọi là “Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế”

(Tiếp theo số báo 489, ngày 15-3-2018)

Bài 3: Những ngày chiến trận – phản ánh của các phóng viên nước ngoài tại Huế

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-1a
Trang báo Michigan Daily ngày 20/3/1968 đăng bài của Steve D’Arazien.

Mậu Thân 1968 – Một ngày đặc biệt ở Huế của phóng viên hãng AP Catherine Leroy
(Theo QĐND)

Ngày 16/2/1968, bức ảnh các chiến sĩ Quân giải phóng Việt Nam xuất hiện trên bìa Tạp chí Life đã gây nên một sự kiện chấn động phương Tây.

Kèm theo đó là phóng sự ảnh “Một ngày đặc biệt ở Huế: Đối phương cho tôi chụp ảnh” của nhà báo phương Tây đầu tiên được chụp ảnh bộ đội chủ lực miền Bắc đóng bên kia chiến tuyến. Nữ nhiếp ảnh gia người Pháp Catherine Leroy (1944-2006), của Hãng thông tấn Mỹ AP, kể chuyện cô cùng nhà báo Pháp Francois Mazure của Hãng thông tấn Pháp AFP, đi vào thành phố Huế lúc đó do Quân giải phóng kiểm soát. Tại đây, họ đã có được cơ hội chụp những bức ảnh ấn tượng của cuộc chiến.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-2
Nữ nhiếp ảnh gia người Pháp Catherine Leroy trong vùng kiểm soát của Quân giải phóng tại Huế – Mậu Thân 1968.

Đi vào trận địa Quân giải phóng ở Huế, các nhà báo Pháp thoạt đầu bị bắt giữ do ngôn ngữ bất đồng. Catherine nhận thấy bộ đội Việt Nam có vẻ rất bình tĩnh. Khi ấy, máy bay chỉ điểm và máy bay ném bom của Mỹ nhào lộn trên đầu khiến các nhà báo Pháp phải tìm chỗ ẩn nấp, nhưng những người lính của đối phương vẫn có vẻ không hề lo lắng.

Rồi hai phóng viên phương Tây được đưa về sở chỉ huy của một đơn vị bộ đội Bắc Việt Nam đóng trong nhà của một người Pháp. Cuộc hội ngộ giữa những người đồng hương thật xúc động, Catherine kể tiếp trong phóng sự trên Tạp chí Life:

“Trong khi chúng tôi ngồi nói chuyện, một người lính mới xuất hiện. Anh ta tự giới thiệu là một sĩ quan Bắc Việt Nam. Anh ta khoảng 25 tuổi, mang một khẩu súng ngắn và anh ta trông kiên quyết, giống như một số sinh viên đại học Việt Nam mà ta có thể gặp ở Paris (những năm 1950-1960). Khi vợ của người Pháp kiều bảo anh ta chúng tôi là ai, anh ra lệnh cho những người lính của mình cởi trói cho chúng tôi. Sau đó, người sĩ quan Bắc Việt Nam yêu cầu chúng tôi kiểm lại hành trang, để tin tưởng chắc chắn rằng không có thứ gì bị thất lạc.

Nhờ vợ của người Pháp kiều dịch lại, viên sĩ quan trẻ của Bắc Việt Nam thông báo với chúng tôi rằng, họ đã chiếm được Cố đô, một điều rõ ràng là sự thật, họ đang thắng ở khắp nơi, họ đang giải phóng toàn miền Nam.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-3
Từ trái sang: Vào vùng Quân giải phóng kiểm soát tại Huế, Catherine gặp nhiều dân thường trú ẩn trong một nhà thờ. Một người lính thông tin Bắc Việt Nam dùng bộ đàm Mỹ. Bộ đội Bắc Việt được vũ trang bằng súng trường do Liên Xô sản xuất, và súng phóng lựu của Mỹ.

Khi chúng tôi hỏi, có thể chụp ảnh được không, người sĩ quan đồng ý ngay và đưa chúng tôi ra ngoài. Anh ta có vẻ vui, và trên thực tế, đã cư xử như một sĩ quan thông tấn mà chúng tôi gặp trong các đơn vị quân đội phương Tây. Còn bộ đội của anh ta cũng thấy hài lòng với ý tưởng là họ được chụp ảnh. Tại khu vườn của một ngôi nhà bên cạnh, tôi chụp một số người lính trẻ ngồi trên thành chiếc xe tăng Mỹ. Tôi nghĩ, không chắc họ đã biết cách lái chiếc xe tăng này, nhưng họ đều tươi cười với tư thế của một quân đội chiến thắng.

Chỉ có một người không muốn chúng tôi chụp ảnh anh ta. Đó là người lính được trang bị một máy điện đài của Mỹ. Khi thấy chúng tôi chụp ảnh mình, người lính thông tin này đã đòi chúng tôi đưa tấm phim vừa chụp cho mình…

Chiến sự trở nên ngày một dữ dội hơn. Tại bất cứ thời điểm nào, quân chính phủ (Việt Nam cộng hòa) hoặc quân đội Mỹ đều có thể tới, và chúng tôi có thể rơi vào giữa hai luồng đạn. Khi chúng tôi quay lại căn nhà của người Pháp kiều, Francois nhận định: “Vâng, chúng tôi cần phải quay về Paris với phóng sự của mình, cần phải đi ngay”. Người sĩ quan Bắc Việt Nam không phản đối. Người Pháp kiều rút thuốc lá mời Francois và người sĩ quan cùng hút. Sau đó, tất cả chúng tôi bắt tay nhau vui vẻ, nói lời tạm biệt và chúc may mắn với gia đình người Pháp kiều. Và cùng với một người dẫn đường người Việt còn trẻ, chúng tôi khởi hành. Quay đầu lại, chúng tôi thấy người Pháp kiều đứng bên vợ và hai con gái nhỏ, chầm chậm vẫy tay tiễn chúng tôi. Mắt người Pháp kiều đẫm lệ…”.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-4a
Bìa Tạp chí Life, số ra giữa tháng 2/1968: Bộ đội Bắc Việt Nam với
AK 47 sản xuất tại Trung Quốc trong một căn cứ kiên cố ở Huế.

Catherine Leroy viết, có khoảng 2.000 quân Việt Cộng cố thủ trong thành Huế và số dân thường kẹt trong vùng có chiến sự khoảng 4.000 người, chủ yếu là phụ nữ, người già, trẻ em. Catherine Leroy cho biết, sau khi trở về chiến tuyến của phía Mỹ, đã phải chạy tới nài nỉ một viên sĩ quan Mỹ, để xe tăng Ontos, còn gọi là Kẻ hủy diệt của lính thủy đánh bộ Mỹ không tiếp tục bắn vào ngôi nhà thờ đạo Thiên chúa và các căn nhà nơi có nhiều dân thường đang trú ẩn, chính tại địa bàn ngày hôm trước, cô và người phóng viên AFP từng gặp bộ đội Bắc Việt Nam.

Huế: Cái chết của một thành phố đẹp

(Theo báo Michigan Daily ngày 20/3/1968, ghi chép của Steve D’arazien. Nguồn: https://digital.bentley.umich.edu/mi…/mdp.39015071754001/582#VNW)

HUẾ, NAM VIỆT NAM: “Huế là cái gì đó khá đặc biệt với người Việt Nam. Nó không như Sài Gòn. Ở Huế, mọi người dạo bước một cách kiêu kỳ. Khi đó, họ mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Và họ tự hào. Huế là Việt Nam”.

Một người Việt quay phim cho CBS đã nói như thế. Huế giữ một vị trí đặc biệt trong trái tim của người Việt. Nó là cố đô của Việt Nam, là thành phố lâu đời nhất, ít chịu ảnh hưởng ngoại lai nhất. Và đó là thành phố đẹp nhất đối với cô (người quay phim). Năm 1966, khi Hòa thượng Thích Trí Quang lãnh đạo Phong trào Biến động miền Trung chống lại chế độ của Thiệu – Kỳ để đòi hỏi quyền tự do và một chính phủ dân sự, Huế đã liên kết với các Phật tử vũ trang và gần như đã thành công trong việc hất cẳng các lực lượng của chính quyền tại Vùng I chiến thuật. Kể từ đó chính quyền Sài Gòn đã có một mối hận với Huế. Cơ hội để chính quyền Sài Gòn đè bẹp Huế chỉ đến sau 2 năm.

Sáng 31/1, Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MTDTGP) đã chiếm thành phố với rất ít tổn thất sinh mạng. Cờ MTDTGP đã được kéo lên trên kỳ đài trước Hoàng cung. Phải đến ngày 24/2, nó mới bị hạ xuống, và thậm chí sau đó chiến sự vẫn diễn ra dữ dội ở một số khu vực của thành phố.

Chỉ khi viên gạch cuối cùng đã nát vụn và bụi đã lắng xuống mới là lúc tuyên bố chiến thắng nhưng đã chẳng còn gì. Cờ đã thay nhưng Huế thì bị tàn phá nặng nề. Người ta ước lượng có tới 3.000 thường dân đã chết, chưa có thống kê chính xác, và khoảng 60.000 cư dân Huế đã trở thành người tị nạn. Sài Gòn đã trả thù.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-5
Một khoảng lặng giữa hai trận đánh tại mặt trận Huế – Tết Mậu Thân 1968.

KHI TÔI ĐẾN HUẾ, tôi bị giới hạn chỉ được tác nghiệp ở bờ Nam của sông Hương, nơi chiến sự yên ắng hơn. Cây cầu đã bị MTDTGP đánh sập trong những ngày đầu tiên của trận chiến mà sau đó đã kéo dài gần một tháng. Tôi đã tới bệnh viện. Nó từng một thời là khu phức hợp gồm 30 tòa nhà khá đẹp, rộng rãi, rợp bóng mát, nhưng nay đã bị tàn phá một nửa. Chỉ một khoa còn hoạt động, trong khi cả bệnh viện sẽ rất đông đúc nếu còn nguyên. Bom đã xẻ đôi mái nhà. Đạn rocket và súng không giật đã đục những cái lỗ lớn, đôi khi tới 10 feet (khoảng 3m), ở hai bên tòa nhà. Tất cả cửa kính bị vỡ vụn bởi những chấn động. Hầu hết mọi bức tường đều lỗ chỗ bởi những vết đạn to bằng đồng xu từ súng máy cỡ nòng 50. Ở khắp mọi nơi đều là đống đổ nát.

Tại sao bệnh viện lại bị đánh mạnh như vậy? Một bác sĩ người Canada đi cùng tôi bắt đầu hỏi những người trong khu vực, một thời từng là bệnh nhân, nhân viên hay người tị nạn đang sống trong đống đổ nát – “Có bất kỳ bệnh nhân VC nào trong bệnh viện không?”. Một người đàn ông nói không. Người khác nói một vài. Ước tính lớn nhất là 6. Tuy nhiên, người phát ngôn quân đội Mỹ tuyên bố rằng bệnh viện là một sở chỉ huy của VC.

Chúng tôi gặp một người đàn ông trẻ tuổi đang sống tại một trong số ít những tòa nhà không bị phá hủy. Anh là một sinh viên y khoa đã từng học ở đó. Anh ta sợ rời khỏi đó, vì nếu không phải quân nhân Việt Nam Cộng hòa (VNCH), anh có thể bị nhầm là VC. “Tôi nghĩ người Mỹ đã phá hủy quá nhiều chỉ vì vài VC”, anh phiền muộn.

NGÀY HÔM SAU, chúng tôi đã bị đánh thức để dự lễ giương cờ bởi một thủy quân lục chiến trẻ tuổi đang háo hức. Tỉnh trưởng, Đại tá Phan Văn Khoa, đã trở về từ nơi ẩn náu và đang lo ngại khi phải hạ lá cờ của MTDTGP. Ông muốn có một số phóng viên tại đó trong giây phút lịch sử. Thực tế là chúng tôi đã được đưa đi trên chiếc xe jeep của ông ấy.

Ông đã tập hợp được một nhóm người tị nạn để xem buổi lễ của mình, hát quốc ca khi kéo lá cờ lên. Trông họ đứng không vui, hoang mang, trong cơn mưa. Đại tá đã thực hiện một bài phát biểu rất dài trong khi cẩn thận yên vị phía sau một bức tường di tích phòng trường hợp có tay súng bắn tỉa qua sông, trong khi chiến sự vẫn tiếp diễn. Lá cờ được kéo lên lưng chừng và biến mất. Có người đã bắn rơi nó xuống.

SAU ĐÓ tôi đi về phía bắc của thành phố. Tôi đã dành cả ngày trong những đống đổ nát bao phủ một nửa diện tích 6 km2 của ngôi thành. Chỉ ở góc Đông Bắc thì vẫn còn những tòa nhà nguyên vẹn. Đây là khu dân cư nghèo nhất. Dọc theo con sông trên đường phố chính, Trần Hưng Đạo, những cửa hàng đẹp trông hoang tàn. Bên trong bức tường thành, những ngôi nhà xinh xắn và những ngôi chùa nhỏ đầy màu sắc đã bị san bằng tới ngang tầm mắt. Khoảng 90% khu vực của thành phố bị tàn phá và có thể sẽ bị ủi đi.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-6
Một người lính Bắc Việt Nam tại mặt trận Huế – Mậu Thân 1968.

Dọc theo bờ sông lính VNCH và lính thủy đánh bộ đang cướp phá các cửa hàng thời trang. Các cửa hàng rượu và máy ảnh là những nơi bị nặng nhất. Tại một nơi, những người lính mang theo cả một chiếc xe tải để giúp họ chở đi đồ cướp được. Quay lại bệnh viện tôi nhận thấy xe cứu thương đã bị lấy đi.

Trong khi xác người đang rữa ra trên mặt đất – tôi đếm được 14 trong khi mắt tôi không thể nhìn họ – lính thủy đánh bộ Mỹ đang liều lĩnh ngược xuôi trên phố trên những chiếc xe máy vớ được mà họ không chắc chắn về cách điều khiển chúng. Trong khu vực khác của thành phố, những xe 4 bánh không thân gắn máy, nhỏ hơn xe jeep, còn gọi là xe “la” (mule), chở những người tị nạn còn lại chạy trốn. Những người lính hớp bia La Rue hàng thùng mừng “giải phóng”. Tại một điểm, tôi dò xét một cái xác và hỏi một thủy quân lục chiến rằng đó có phải một VC không. “Tất nhiên”, anh ta trả lời, “Mọi xác chết đều là VC”.

“NHÀ CỦA TÔI ĐÃ BIẾN MẤT”, một người lính Sài Gòn nói. Rất nhiều người lính VNCH đã chiến đấu trở về Huế chỉ để nhìn thấy nhà của mình đã bị phá hủy bởi súng và bom của Mỹ. Từ góc độ quân sự và chính trị, người Mỹ không còn lựa chọn nào khác. Cách thay thế cho việc phá hủy Huế, là để cho MTDTGP giữ nó. Họ (MTDTGP) không bị đói – họ đã mang đủ đồ ăn trong nhiều tháng. Họ đã đào sâu công sự. “Chúng tôi buộc phải phá hủy thành phố để cứu lấy nó”, một viên sĩ quan đã nói trong một tuyên bố mà giờ đây đã thành nổi tiếng.

Khi việc tái chiếm kéo dài đến hàng tuần, các chỉ huy Mỹ đã tăng cường áp lực để giành lại thành phố. Họ đã quyết định làm bất cứ điều gì và điều đó dẫn đến hỏa lực khủng khiếp đã được sử dụng. Pháo hải quân cỡ lớn 8 inch (khoảng 200mm) và lựu pháo 155mm đã giáng xuống thành phố từ cách đó nhiều dặm. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng vỏ đạn văng khỏi nòng; nghe tiếng rít trên đầu, rồi im lặng; và sau đó đếm một, hai… mười giây trước khi vụ nổ chói tai vang xa cả dặm ở phía bên kia. Họ sử dụng súng cối và rocket, bom 750 pound (khoảng 340kg) và napalm. Lần đầu tiên trong thành phố, thủy quân lục chiến phải sử dụng Ontos, một chiếc xe bánh xích nhỏ với 6 nòng súng không giật 106mm. Bắn theo thứ tự, 6 nòng súng này có thể đánh sập tòa nhà 2 tầng.

MỘT SINH VIÊN NÓI TIẾNG ANH từ Đại học Sài Gòn về Huế trong dịp Tết, kể rằng nhiều sinh viên của Đại học Huế đã hỗ trợ MTDTGP. Nhưng “người Việt Nam không muốn Hồ cũng chẳng muốn Thiệu”, Le Nu Buu nhấn mạnh. Anh cẩn thận nói thêm: “Tôi biết nhiều sinh viên Mỹ cũng chống lại chiến tranh”. Trinh Tien Khanh là sinh viên Đại học Huế. Nhà của anh đã bị phá hủy và anh chỉ còn bộ quần áo khi quay lại. Anh nói: “Một số khoa ở đây, về văn khoa và luật, có ý nghĩ tốt về VC. Họ và các sinh viên đã hỗ trợ MTDTGP”. Anh nghĩ rằng việc phá hủy Huế sẽ làm cho nhiều người hơn nữa quay sang phía MTDTGP. Vo Lien, cũng là một sinh viên Huế, cho biết nhiều người đã chết trong cuộc tấn công. Anh tin rằng sinh viên và giảng viên Khoa Y cũng đã tham gia với MTDTGP.

So-490--Su-that-ve-cai-goi-la-Tham-sat-Tet-Mau-Than-tai-Hue---Anh-7
Thường dân bị kẹt trong vùng chiến sự Huế – Mậu Thân 1968.

Một người dân Huế cho biết: “Người Bắc Việt không đốt nhà và giết người, người Mỹ và quân lực VNCH đã làm như vậy”. Rõ ràng rằng hỏa lực của Hoa Kỳ đã phá hủy thành phố. MTDTGP đã có thành phố và cẩn thận không để làm hư hại nó. Họ đã tiến hành di tản các cư dân từ các khu vực mà người Mỹ có thể tấn công. Điều này giải thích cho số lượng thương vong tương đối thấp, khi so sánh với thiệt hại vật chất khủng khiếp.

————————–

Qua phóng sự ảnh và mô tả của Catherine Leroy cùng Steve D’Arazien, những người trực tiếp có mặt tại Huế những ngày Tết Mậu Thân 1968, chúng ta đã có thể thấy rõ không hề có chuyện việc Quân giải phóng “thảm sát, tắm máu” dân thường, các tu sĩ Công giáo hay người phương Tây. Để kết lại loạt bài Sự thật về cái gọi là “Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế” này, xin dẫn ý kiến của một số nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau dưới đây:

1. Việt kiều Mỹ, Mike Wilson, đặt vấn đề:

“Cuộc chiến tại Huế 1968 kéo dài khoảng 2 tháng, theo thống kê của VNCH: Số Quân giải phóng chết khoảng 4.000 người, quân VNCH khoảng 4.400, có 2.800 dân thường chết, 3.000 người khác mất tích.

Vì những phương tiện giết người hàng loạt bên phía Mỹ (pháo 107mm bắn đạn tổ ong, bom napalm, súng phun lửa) nên số thường dân bị ngộ sát do bom đạn tăng cao. Dân chết hàng loạt thì phải chôn hàng loạt vì nhu cầu thời gian và vệ sinh công cộng.

Bên VNCH chiếm lại Huế sau cùng có lợi thế tuyên truyền: Hễ thấy hố chôn tập thể nào thì đổ tội cho VC giết!

Ai chứng minh? Ai làm giảo nghiệm? Ai truy tìm lý lịch của từng cái xác đã thối rữa?

Việc bên này giết bên kia vì trả thù cá nhân là có – ở cả hai bên, do hoàn cảnh chiến tranh nhưng Quân giải phóng không có chính sách đi đến đâu giết dân đến đó!!!

CHỨNG MINH:

1. Quân giải phóng từ dân mà ra, nhờ dân che chở, nên mới ém quân được khắp lãnh thổ Nam VN, để đồng loạt tiến công trên mọi thành phố, đô thị. Nếu đi đến đâu, giết dân đến đó, thì sống với ai? Lấy quân từ đâu ra? Ai che chở?

2. Tất cả các thành phố, thị trấn, đô thị miền Nam đều bị tổng tiến công – tại sao bộ đội chỉ giết dân ở Huế?

3. Trận chiến Quảng Trị dài hơn, khốc liệt hơn trong 81 ngày, có vũ khí giết hàng loạt và bom thảm B-52 tại sao không có tuyên truyền VC thảm sát dân – như ở Huế?

5. Trong chiến dịch thần tốc chiếm trọn miền Nam trong 54 ngày, tại sao không có nơi nào dân bị thảm sát (như tuyên truyền ở Huế 1968)?

6. Nếu bộ đội trả thù lính và sĩ quan VNCH, tại sao vẫn có những cựu binh VNCH sau đó còn sống nhăn, ra hải ngoại, được đoàn tụ thân nhân, quay đầu lại chửi Tổ quốc rồi về Việt Nam du hí, ăn chơi?

7. Suy đi thì phải nghĩ lại, phải nhìn toàn cảnh, phải suy xét mọi chiều, không thể để người ta nhét tà kiến vào đầu mình – PHẢI BIẾT TỰ CHỦ TƯ DUY!

Vì độc lập là độc lập từ tư duy, chủ quyền là chủ quyền từ tâm thức. Mình không làm chủ được mình nói chi đến việc giữ vững chủ quyền cho dân tộc?!”.

2. Đại tướng Westmoreland, Tư lệnh quân Mỹ ở VN, viết trong hồi ký:

“Lúc trận đánh bắt đầu, quân Việt Nam Cộng hòa và thủy quân lục chiến Mỹ định chiến đấu không dùng xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ vì muốn bảo vệ thành phố giàu di sản này nhưng vì địch bám giữ một cách dai dẳng nên cứ theo cách đó thì mất quá nhiều sinh mạng binh lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Thiệu bèn cho phép dùng bất kỳ phương tiện nào cần thiết để lấy thành phố Huế. Sự tàn phá không tránh khỏi đã xảy ra!…”.

3. Tướng Towsend Hoopes, Tham mưu phó Không quân Hoa Kỳ 1967-1969, viết trong tác phẩm “Tet Offensive”:

“Nỗ lực tái chiếm thành phố Huế đã khiến 80% các tòa nhà trở thành đống đổ nát. Trong đống đổ nát đó, khoảng 2.000 thường dân đã bị giết”.

4. Scott Laderman, giáo sư lịch sử tại Đại học Minnesota, viết:

“Trong tháng 5 năm 1970, Ủy ban các học giả về châu Á đã xuất bản “Mười hai câu hỏi về Việt Nam”, một tài liệu nhằm mục đích đáp ứng một số câu hỏi cơ bản về cuộc chiến tranh mà các tổ chức tin rằng đã bị che khuất bởi các thông tin chính thức nhưng sai lạc của chính phủ Mỹ. Phần cuối cùng của tài liệu, các học giả tỏ ý nghi ngờ và không đồng ý với báo cáo của chính quyền Nixon về vụ thảm sát Huế”.

5. Nhà sử học David Hunt viết trong tác phẩm “Vietnam’s Southern Revolution” (UMass Press, 2008):

“Các tài liệu của Douglas Pike về vụ thảm sát là một trong các chính sách của chính phủ Mỹ, về tất cả các phương diện, hoàn toàn là nhằm tuyên truyền. Năm 1988, Douglas Pike thú nhận rằng chính ông ta trước đó “đã tham gia vào một nỗ lực có chủ đích nhằm làm mất uy tín của Quân giải phóng”.

Ngô Mạnh Hùng (Tổng hợp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 490

Ý Kiến bạn đọc