Ngoài nước

Sự thật chống lại điều bịa đặt

Vào thời gian gần đây, sự quan tâm đến nhân vật Stalin đã được gia tăng mạnh mẽ. Giới báo chí tự do đã ra sức buộc tội ông trong việc tổ chức những cuộc đàn áp khủng bố, nhưng họ lại ỉm đi những nguyên nhân và hậu quả của tệ tố giác bậy lan tràn trong những năm 30 thế kỷ trước. Và họ cũng hạ thấp vai trò của Stalin trong những năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, lờ đi những quyết định quan trọng của lãnh tụ vào cuối những năm 40.

Trên khắp đất nước Liên Xô vào cuối những năm 20 – đầu những năm 30 đã diễn ra công cuộc xây dựng chưa từng thấy, với quy mô đồ sộ, đối với những hạng mục công trình điện lực và công nghiệp. Việc chuẩn bị cho cuộc xâm lược quân sự có thể xảy ra cũng được thực hiện công khai. Kỹ thuật hàng không, những loại xe tăng mới, những thứ vũ khí tối tân được gấp rút sản xuất. Những nhà máy luyện kim được khởi công ở Ural và ở miền Nam Ukraina, những tuyến đường xe lửa mới được khánh thành, những nhà máy thủy điện được khởi công. Những trung tâm nghiên cứu khoa học cực lớn được hình thành, đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học và trí thức được đào tạo.

Chính vào thời gian đó Stalin đã nói một câu vẫn thường được trích dẫn: “Cán bộ quyết định tất cả!”. Tất nhiên, trước hết ông muốn nói đến đội ngũ khoa học – kỹ thuật. Còn với sự hỗ trợ của các cán bộ văn học – nghệ thuật thì đã thực hiện được việc đảm bảo cho những cải cách trên phương diện ý thức hệ. Những người có tài, tin vào đường lối đúng đắn của việc cải tạo công nghiệp, thậm chí những người thuộc loại xu thời nhưng có đôi chút khả năng cũng vẫn được sử dụng. Xã hội bao giờ cũng đa dạng và muôn mầu.

Sau việc S.M. Kirov (người thừa kế đầy tiềm năng của Stalin trên cương vị lãnh đạo nhà nước) bị sát hại, trên thực tế, từ ngày 1/12/1934 đã bắt đầu xuất hiện “những kẻ thù của nhân dân” đích thực và tưởng tượng. Hiện tượng này đi kèm theo với những vụ thanh toán cá nhân, tố cáo lẫn nhau vốn đặc biệt nẩy nở trong hàng ngũ những người lãnh đạo của đảng thuộc tầm cỡ trung gian. Tuy nhiên, các nhà báo của báo chí địa phương và trung ương đã bợ đỡ, xu nịnh và kích động giới lãnh đạo thuộc các cấp bậc khác nhau. “Những kẻ thù của nhân dân” bị phát hiện (thường là những người chỉ nói năng lỡ miệng), bị bỏ tù và đưa đến các công trường ở nơi khỉ ho cò gáy để lao động cải tạo.

Tu-trai-qua-Mikoyan-Khrushchev-Stalin-Malenkov-Beria-Molotov
Từ trái sang Mikoyan, Khrushchev, Stalin, Malenkov, Beria, Molotov – Ảnh: quora.com

Chẳng hạn, tôi sinh ra ở Kazakhstan là nơi bố mẹ tôi, những người tốt nghiệp trường Đại học Công nghệ Leningrad nổi tiếng, bị đưa đi phát vãng. Trong hoàn cảnh như vậy, sau những vụ tố cáo và bắt bớ, đã xuất hiện những đứa trẻ mồ côi, bệnh tật phát triển, tiếp đó là những năm đói khổ đối với những gia đình kiệt quệ, còn nhiều tổ chức kinh tế và các xí nghiệp thì thiếu vắng những người lãnh đạo giỏi.

Tình hình này đã được Ban lãnh đạo Liên Xô và chính Stalin lưu ý tới. Tháng 3/1939, tại Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Nga, Bí thư TƯ Đảng A.A. Zhdanov đã đọc bản báo cáo trong đó có mục “Về việc hủy bỏ các cuộc thanh trừng hàng loạt” và đã vạch mặt những kẻ chuyên tố như “những kẻ thù của nhân dân đích thực”. Sau đây là một vài đoạn trích trong bài diễn văn đó:

“Trong tổ chức Đảng ở Arkhangel, chẳng hạn, một gã vu khống bỉ ổi tên là Priluchnyi đã bị vạch mặt. Hắn đã viết 142 lá đơn tố cáo những người cộng sản, song không một lá đơn nào được xác nhận”.

“Ở Leningrad trong vòng nhiều năm đã hoạt động một nhóm chống Đảng của Naponskaja, nhóm này đã bôi nhọ những người cộng sản trung thực, đã viết đơn tố cáo họ gửi đến Bộ Dân ủy Nội vụ và đã hành hạ, tra khảo những người lương thiện. Hàng mấy chục người trung thực đã bị nhóm này đặt điều vu khống”.

“Gladkikh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Arjhangelllsk của Đảng Cộng sản toàn Nga, đã trao nhiệm vụ cho mỗi một đảng viên là phải tìm ra kẻ thù của nhân dân, và đã cảnh báo rằng “việc này sẽ không gây ra những sự quá trớn nào”.

“Tại huyện Kluchevsk thuộc tỉnh Aktjubin, kẻ thù của nhân dân là Peskovskaja, mụ ta khai trừ khỏi Đảng 156 đảng viên, tức 64% số người của cả tổ chức”.

“Một gã vu khống ở một trong những huyện của tỉnh Kiev tên là Khanevski đã bị vạch mặt. Không một lá đơn tố giác nào về những người cộng sản do y gửi đi được xác nhận. Tuy nhiên, tên tố điêu ấy không nhụt chí và trong một lá đơn gửi Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Ukraina đã đề nghị: “Tôi đã hoàn toàn kiệt sức trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, bởi vậy đề nghị cấp cho tôi một phiếu đi nghỉ dưỡng” (tiếng cười vang trong phòng họp).

Và bản báo cáo cũng có những đoạn như sau:

“Hoạt động của một số tên vu khống có quy mô lớn đến nỗi chúng bắt đầu đưa vào hoạt động ấy “một sự hợp lý hóa” nhất định”.

“Chẳng hạn, Alekseev, đảng viên từ năm 1925, Chánh văn phòng Huyện ủy huyện Irbei (vùng Krasnojark). Ông ta làm việc không tồi, dành tất cả thời gian vào việc viết đơn tố cáo các đảng viên trung thực và những giáo viên ngoài Đảng. Ở đây ông ta đã lập nhiều bộ “hồ sơ”, và ghi một danh sách thành những cột riêng: “kẻ thù lớn”, “kẻ thù nhỏ”, “kẻ thù tí hon”… Chả cần phải nói rằng ông ta đã tạo ra trong huyện một bầu không khí căng thẳng không thể chịu nổi. Cuối cùng ông ta bị khai trừ khỏi Đảng như một tên vu khống”.

Việc khai trừ Đảng với lý do “có liên hệ với kẻ thù” đã từng có một quy mô rất lớn. Trên cơ sở đó, một số lượng đáng kể những cán bộ trung thực bị khai trừ Đảng… Cái công thức thịnh hành “có liên hệ với kẻ thù của nhân dân” đã được các phần tử chống Đảng sử dụng rộng rãi để sát hại những người cộng sản chân chính…

Với cách xét xử con người một cách vô căn cứ, chỉ dựa vào những lý do mang tính chất hình thức như vậy thì những kẻ thù thâm căn cố đế thực thụ của nhân dân, những tên lưu manh đầu sỏ đã lẩn tránh khỏi sự trừng trị của pháp luật”…

Tại Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Nga đã được thông qua Nghị quyết về việc chấm dứt các cuộc thanh trừng trong Đảng và những vụ trừng phạt đối với người vô tội, đã hãm lại làn sóng tố giác của bọn hám danh lợi và những kẻ bợ đỡ, xu nịnh. Cần phải nhấn mạnh rằng không chỉ những nạn nhân của sự vu khống mà chính bản thân những kẻ tố điêu cũng bị coi là “kẻ thù của nhân dân” và chúng cũng phải vào trại lao động cải tạo Gulag.

Nhiều tác giả của những câu chuyện “tố giác” ngày nay thường không am hiểu sự thật nên đã quy kết cá nhân Stalin là người gây ra những vụ trấn áp mà quên mất những nguyên nhân của hiện tượng và do đó, đã làm cho nhiều người lạc hướng.

Cách đây không lâu, vào tháng 12/2010, trong chương trình truyền hình trực tiếp NTV về Stalin, các nhà báo đưa tin rằng có gần 4 triệu kẻ tố cáo. Hãy hình dung nếu mỗi tên trong bọn chúng chỉ vu khống chí ít 5 người thì số người bị buộc tội đã là 20 triệu sinh mạng. Đó là một vấn đề rất lớn trong nội bộ một quốc gia. Điều đáng buồn là người ta đã công khai tuyên bố về vấn đề này vào cuối năm 1939, khi đợt sóng chủ yếu của những vụ bắt bớ, thường là bất công, phi pháp đã lắng dịu. Nhưng Ban lãnh đạo của nhà nước, sau khi công bố những sự thật đau lòng, đã thừa nhận trách nhiệm của mình về chuyện này.

Ở trong nước, những “bộ ba” được ủy quyền đã chuyên xử lý các vụ án “kẻ thù của nhân dân”. Trong cuốn tiểu thuyết “Những đứa con của phố Arbat” của A. Rybakov, một nhân vật đã bắt gặp bác mình (một ủy viên của “bộ ba”) đang ký vào các bản danh sách những người bị kết tội mà thậm chí không thèm đọc. Điều này là hoàn toàn phù hợp với sự thật.

Nhưng không phải Stalin đã viết những đơn tố cáo mà là người ta đã chuyển cho ông những tài liệu về hành động hoặc về cách ứng xử của những người quen biết. Cần phải nhấn mạnh một lần nữa rằng vấn đề này đã được xem xét tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, còn bài phát biểu của N.S. Khrushchev trong những năm 50 phần lớn chỉ là dư âm của những điều được thừa nhận trong bản báo cáo của A.A. Zhdanov. Mọi người cũng đều biết rằng chính bản thân Khrushchev từ Ukraina đã gửi Ủy ban Trung ương Đảng những bản danh sách gồm hàng ngàn “kẻ thù của nhân dân”, chính ông ta mới đích thị là kẻ đầu sỏ trong các vụ bắt bớ khủng bố.

Không thể không đau lòng về việc những người vô tội bị hành hạ và bỏ mạng trong các trại cải tạo, về những trẻ em mồ côi và gia đình khốn khổ, về những hành động quá đáng, tàn nhẫn khác, song phải nhìn thấy bức tranh một cách toàn cục mà không quy tất cả vào một cá nhân phạm tội.

Đôi khi cách đánh giá về hành động của Stalin trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và thời kỳ hậu chiến cũng được nhìn nhận theo tinh thần như vậy. Nhưng chúng ta hãy xem xét chí ít một vài trường hợp.

Trong cuộc diễu binh ngày 7/11/1941 tại Hồng trường ở Moskva, vị Tổng tư lệnh tối cao đã nói với những người lính từ quảng trường đi ra thẳng mặt trận:

“Cuộc chiến tranh mà các đồng chí đang tiến hành là cuộc chiến tranh giải phóng, cuộc chiến tranh chính nghĩa. Mong sao hình tượng dũng cảm của các bậc tổ tiên vĩ đại của chúng ta – Aleksandr Nevski và Dmitri Pozharski, Aleksandr Suvorov và Mikhail Kutuzov sẽ cổ vũ chúng ta trong cuộc chiến tranh này”.

Nhưng mặc dù những lời kêu gọi của “người cha các dân tộc” có ý nghĩa đến mấy đi nữa thì các hành động quân sự đã quyết định tất cả, và không chỉ ở ngoài mặt trận. Để giải cứu mọi người khỏi nạn đói, Ban lãnh đạo Liên Xô từ ngày đầu chiến tranh đã áp dụng hệ thống phân phối tem phiếu đối với tất cả các loại thực phẩm. Chế độ này có hiệu lực tới tháng 12/1946. Tháng 1/1947, đã diễn ra cuộc cải cách tiền tệ nhằm mục đích thu hồi những đồng tiền phi pháp của bọn đầu cơ đã phất lên ở hậu phương trong thời gian chiến tranh nhờ số lúa mì và thực phẩm ăn cắp được. Việc đổi tiền được thực hiện căn cứ vào tổng số tiền gửi trong quỹ tiết kiệm theo tỷ lệ 1:1, còn đối với số tiền mặt có trên tay (thường là những đồng tiền phi pháp) thì theo tỷ lệ 1:10.

Bọn đầu cơ không thể xuất trình khối lượng tiền chủ yếu của họ trong quỹ tiết kiệm nên buộc phải giải thích nguồn gốc của số tiền đó. Có lẽ vì thế, đám con cháu của họ căm ghét Stalin. Nhưng chính sách ấy đã tạo điều kiện cho việc trong vòng 4 năm sau chiến tranh, các xí nghiệp điện lực và công nghiệp đã hoàn toàn khôi phục ở Ukraina, Belorussija, Moldavija, vùng ven biển Baltich và địa phận châu Âu của nước Nga. Từ năm 1949 đến 1953 (năm Stalin qua đời), việc hạ giá hàng năm đối với thực phẩm và hàng công nghiệp được tiến hành đều đặn đồng thời tiền lương được bảo tồn và gia tăng.

Tôi xin nêu thêm một đôi lời phát biểu và những sự kiện cho thấy trình độ nhận thức rất cao của vị lãnh tụ về bản thân tiến trình vận động và những xu hướng chủ yếu của quá trình lịch sử.

Đôi khi những người lý giải quá khứ của chúng ta theo khuynh hướng tự do thường không chú ý tới điều đó. Bài diễn văn của Stalin trong ngày chiến thắng nước Đức 9/5/1945 hay được trích dẫn. Trong bài này có nhiều cái đáng chú ý. Chẳng hạn, ông nhận xét: “Cuộc đấu tranh hàng thế kỷ của các dân tộc Slavơ cho sự tồn tại và độc lập của mình đã kết thúc bằng thắng lợi đối với bọn xâm lược Đức và ách thống trị của nước Đức…”.

Sự đánh giá rõ ràng: các dân tộc Slavơ đã chiến thắng bọn xâm lược Đức! Chẳng nhẽ không đúng thế sao? Nhưng sau này, vào thời Khrushchev, cụm từ “bọn xâm lược Đức” đã bị cấm. Chỉ có thể nói: bọn chiếm đóng Đức. Những câu chúc mừng khác của Stalin cũng toát lên sự sáng suốt như vậy trong cách đánh giá: “Tôi xin nâng cốc trước hết vì sức khỏe của dân tộc Nga, bởi đó là dân tộc ưu tú nhất trong số tất cả các dân tộc thuộc thành phần Liên bang Xô viết. Tôi xin nâng cốc chúc sức khỏe của dân tộc Nga bởi dân tộc ấy trong cuộc chiến tranh này đã xứng đáng được công nhận là lực lượng chủ đạo của Liên bang Xô viết trong số tất cả các dân tộc trên đất nước ta”.

Đúng vậy, trong cuộc chiến tranh này tất cả các dân tộc của Liên bang Xô viết đã gánh chịu những tổn thất lớn lao, nhưng đặc biệt là dân tộc Nga cũng như những người Belarus từng tổ chức phong trào du kích mạnh mẽ. Và Stalin không thể không đánh giá trực tiếp về điều đó khi nhận thức được tầm quan trọng trong bài diễn văn lịch sử của mình.

Thông thường, trong khi tiếp xúc với lớp thanh niên, tôi nhận thấy rằng nhiều bạn trẻ không hề biết được nguồn thông tin được dẫn ở trên. Có ai đó đã che giấu nó? Và liệu nó có được đưa vào những cuốn sách giáo khoa mới về lịch sử, vào cuộc sống hàng ngày của công việc khai sáng của chúng ta? Chúng ta vẫn đang dừng lại ở những năm 90 mà thôi!

(Theo Literaturnaja gazeta)

Juri Kirirenko
(Tiến sĩ Khoa học – kỹ thuật, hội viên Hội Nhà văn Nga)
Lê Sơn (Giới thiệu và dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452

Ý Kiến bạn đọc