Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Sự phủ định của lịch sử

(Đáp lời ông Vũ Văn Quân)

PGS.TS Vũ Văn Quân (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: “Thành tựu của sử học Việt Nam hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự khắc phục các hạn chế trên (sự cực đoan trong đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử). Với nhà Nguyễn từ Gia Long cho đến Tự Đức, không thể lấy việc Nguyễn Ánh cầu viện hay Tự Đức để đất nước rơi vào tay thực dân Pháp mà phủ nhận những thành tựu mà đất nước nhân dân đạt được dưới sự trị vì của Vương triều này, phủ nhận trang sử hào hùng của cha ông ta trong thực thi chủ quyền với tư cách quốc gia trên các đảo Hoàng Sa – Trường Sa, phủ nhận di sản văn hóa đồ sộ mà ngày nay thực sự là một nguồn tài nguyên trong sự nghiệp phát triển… Nhưng cũng không vì thế mà không lên án mạnh mẽ hành động cầu viện kéo quân Xiêm sang xâm lược, xem nhẹ những yếu kém trong phát triển đất nước và đặc biệt là trách nhiệm để mất nước rơi vào tay thực dân phương Tây của Vương triều này” (Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Xưa & Nay số 488, tháng 10-2017).

Xin được trao đổi với PGS.TS Vũ Văn Quân mấy điểm sau:

Dẫu là văn trong sử học cũng phải và càng phải rõ ràng, chặt chẽ. Nếu Nguyễn Ánh cầu viện kéo quân Xiêm sang xâm lược… thì Nguyễn Ánh thành ra tên bán nước phản bội Tổ quốc dẫn đường cho quân xâm lược, tội nặng lắm, còn hơn án tử hình cho Vĩnh Thụy (Bảo Đại) sau này. Nguyễn Ánh có hành động bán nước, dù là bán một phần (đảo Côn Lôn và các cảng Đà Nẵng, Hội An) nhưng việc chưa thành, do phía Pháp hoàng không thực hiện. Đó là Hiệp định mà Nguyễn Ánh ủy quyền cho Bá Đa Lộc ký với nhà vua Pháp. Nguyễn Ánh giao Hoàng tử Cảnh và quốc ấn cho Bá Đa Lộc làm con tin. Việc cầu viện quân Xiêm là để chống lại nhà Tây Sơn. Nếu cầu viện kéo quân Xiêm sang xâm lược là dẫn đường cho quân xâm lược. Hai việc đó khác nhau, tuy tội trạng cũng không hơn kém nhau. Câu viết của PGS.TS Vũ Văn Quân không phản ánh đúng việc làm của Nguyễn Ánh. Chúng tôi hiểu đây là do hành văn, không phải do chủ ý, nhưng dù sao cũng phải nói cho rõ ràng.

Không nên lạm dụng danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan lãnh đạo cao cấp của Đảng như Ban Tuyên giáo Trung ương. Đảng Cộng sản Việt Nam không lãnh đạo cụ thể vào chuyên môn của ngành Khoa học Lịch sử. Đảng đưa ra đường lối chung và mỗi ngành mỗi địa phương dựa vào đó mà vận dụng vào công việc chuyên môn cụ thể của ngành. Việc khắc phục những hạn chế, thái độ cực đoan trong sử học… cụ thể như thế nào, giới sử học và các nhà sử học phải giải quyết theo tinh thần Đổi Mới mà cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã nêu rất ngắn gọn nhưng bao quát và đúng đắn: Nhìn thẳng vào sự thật. Nói đúng sự thật. Nói rõ sự thật. Nếu vận dụng đúng theo tinh thần đó là thực hiện rất tốt đường lối Đổi Mới của Đảng rồi. Nếu Hội nghị hay Hội thảo khoa học chuyên ngành, mời được Trưởng ban Tuyên giáo đến dự rồi hôm sau ầm ĩ lên rằng luận điểm, quan điểm đó đã được Đảng khẳng định… thì thật là không phải. Hội nghị thông báo “thành tựu” nghiên cứu sử học tháng 2-2017 do GS. Phan Huy Lê thuyết trình là một ví dụ cần phải chấn chỉnh mà không nên lặp lại như PGS.TS Vũ Văn Quân qua đoạn trích trên.

Thành tựu của 30 năm Đổi Mới mà chỉ là khắc phục những hạn chế, cực đoan trong đánh giá nhà Nguyễn và một phần ở nhà Mạc… thì lãng phí đồng thuế của nhân dân quá thể. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Nói đúng sự thật. Nói rõ sự thật thì cần phải xem lại toàn diện lịch sử từ khởi thủy đến nay. Trong hoàn cảnh phải chống giặc ngoại xâm, điều kiện và yêu cầu nghiên cứu, biên soạn lịch sử khác với yêu cầu và điều kiện của ngày hôm nay, dưới quan điểm Đổi Mới như nói trên. Những hạn chế do ảnh hưởng và do tiếp thu lý luận Mác-xít từ triết học Stalin và Mao Trạch Đông trong thực tiễn Việt Nam như thế nào, cần phải phân tích rõ ràng. Từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu chịu ảnh hưởng lâu đời của Nho giáo ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào? Vì sao chủ nghĩa xã hội Liên Xô và Đông Âu sụp đổ? Học thuyết Mác – Lênin cần hiểu và tiếp thu như thế nào trong hoàn cảnh mới? Đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến Nam triều bằng bạo lực cách mạng là đúng hay không? Mở cửa hội nhập, chấp nhận cơ chế thị trường thì mặt lợi mặt bất lợi như thế nào? Cần phải khắc phục mặt nào? V.v… và v.v… Hàng núi công việc cho khoa học xã hội và nhân văn, cho sử học, đâu chỉ khắc phục hạn chế trong việc đánh giá hai triều đại kia mới là nội dung chính của công cuộc Đổi Mới. 

So-497--Anh-minh-hoa---Su-phu-dinh-cua-lich-su
Bức tranh Chánh sứ Phan Thanh Giản ký Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862.

Lịch sử là cái đã qua. Nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu về cái đã qua. Nhưng người nghiên cứu lịch sử lại thuộc về hiện tại, đang là… Nó không tách rời với các quan hệ xã hội đồng đại trong phạm vi hẹp cũng như rộng, thời đại toàn cầu. Đó là vấn đề mà nhà sử học không thể lẩn tránh. Điều đó đòi hỏi nhà sử học phải xác định quan điểm chính trị – xã hội của mình, xác định chỗ đứng, góc nhìn của mình khi soi rọi ngòi bút vào quá khứ. Trong cái mênh mông bể sở của sự việc, sự kiện, con người… thời quá khứ, cái gì là lịch sử, là thuộc về lịch sử…

Khi nói về khắc phục những hạn chế của quá khứ, thực chất là sửa lại những sai lầm thiếu sót trong quá khứ, dù gần hay xa. Vậy thì cái gì là hạn chế cần khắc phục, tác giả của nó, ảnh hưởng của nó trong chuyên ngành sử học cũng như trong xã hội.

Thực tế sử học, từ diễn đàn đại học và đương nhiên gắn với cả ngành sử học, từ nửa cuối thập kỷ 60 thế kỷ trước đến nay vẫn là thời của Lâm – Lê – Tấn – Vượng ngự trị. Vào năm 1970, cố GS. Đinh Xuân Lâm phê phán nhà Nguyễn và Phạm Quỳnh rất nặng nề, theo ngôn ngữ sử học thời đó. Cũng thời gian đó, cố GS. Trần Quốc Vượng khẳng định cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đầu Công nguyên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là đặt cuộc đấu tranh chống ngoại xâm lên đường ray lịch sử của dân tộc. Điều đó rất đúng để đánh giá Cụ Phan Châu Trinh sau này. Ông cũng cho rằng nguyên nhân trực tiếp của khởi nghĩa Mai Thúc Loan là nạn cống vải, giữa cố GS. Trần Quốc Vượng và GS. Phan Huy Lê đang tại thế, ai là tác giả của luận điểm này?

Nói như thế để thấy rằng, nếu phải khắc phục những hạn chế, những cực đoan trong sử học trước Đổi Mới thì GS. Phan Huy Lê phải tự khắc phục cho mình và cho các đồng sự đồng nghiệp trong Liên danh bộ tứ đã được bao thế hệ học trò tôn vinh phong tặng. Sửa lại những sai lầm, thiếu sót, hạn chế của chính mình lại là thành tựu Đổi Mới ư? Chẳng lẽ những hạn chế, cực đoan trong sử học trước Đổi Mới là từ trên trời rơi xuống sao! Cũng không nên đánh đồng cả bộ tứ đó, mà GS. Hà Văn Tấn là nhà sử học có tầm mức và phẩm chất khác, bài của ông Chu Giang vừa rồi (VN TP.HCM, số 496) đã trích dẫn. 

Cũng xin lưu ý PGS.TS Vũ Văn Quân về đoạn trích lời của cố GS. Trần Quốc Vượng:

“Nhưng tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ “có lập trường” (Vũ Văn Quân. Bđd trên Xưa & Nay. Trg.6).

Nếu cố GS. Trần Quốc Vượng có nói và viết như thế thì cũng không nên dẫn lại. Vì đó là một câu văn nói nơi vỉa hè quán xá. Một câu văn nói, ta cũng nên thông cảm thể tình. Tôi từng là học trò của cố GS. Trần Quốc Vượng từ đầu năm 1970, khi ông đến giảng về Lịch sử Việt Nam cho lớp Báo chí – Xuất bản Trường Tuyên giáo Trung ương ở Hội trường Thái Hà Ấp. Ông giảng giải rất nhiệt tình, sôi nổi, nghiêm túc và rất lập trường. Tôi có nhiều dịp được tiếp xúc với ông trong những khoảnh khắc đời thường, hôm ở vỉa hè 51 Trần Hưng Đạo, hôm dưới Huyền Trân Công Chúa giáp số 5 – Hòa Mã, là những quán bia Việt Hà rất đông khách vào buổi trưa hay buổi chiều. Ở đây, ngôn ngữ của ông khác hẳn: bỗ bã ào ạt… Ông là người rất dân chủ trong giao tiếp. Có lẽ trong giới Giáo sư Đại học, ông là người duy nhất cho học trò cùng ngồi bên cốc bia ly rượu bình dân. Có hôm thấy D.T.H đang đi tới (51 – Trần Hưng Đạo), ông gọi:

- Hương ơi, Hương ơi!

- Gì đấy?

- Hôm nào chúng mình đi đăng ký kết hôn đi…

- Có câm đi không? Vã vào miệng bây giờ!

Thế nhưng, ông vẫn cười như không có chuyện gì.

Tôi được nghe giai thoại khi ông tục huyền với cô Bảy. Cô Bảy đến xin quẻ. Ông bảo: Cô mà không lấy tôi thì không lấy được th… nào cả! Rồi đám cưới linh đình. Nhiều báo đưa tin chi tiết, sôi nổi. Ít lâu sau ông qua đời, hẳn là “âm thịnh, dương suy”, biết thế mà không thể không thế được chăng!

Đấy, ngôn ngữ đời thường của cố GS. Trần Quốc Vượng là như thế đấy. Nay ông đã là người thiên cổ, là danh nhân văn hóa, Hà Nội có đường phố mang tên ông. Cầu mong cho Thầy an giấc ngàn thu. Cầu mong người đời sau có trích dẫn Thầy, hãy biết phân biệt câu văn và ngữ cảnh. Dẫn như ông Vũ Văn Quân, thì GS. Trần Quốc Vượng thành ra mâu thuẫn: Đã nhận ra chỗ đứng của thời đại mình thì không bao giờ là chủ quan. Bởi đó là điểm xác quyết ổn định của quá trình nhận thức, phải qua biết bao nhiêu “Con đường đau khổ của sự nhận thức” (Alecxây Tônxtôi). Còn nếu tỏ ra có lập trường mà chửi tràn chửi lấp cho sướng miệng thì đấy không phải khoa học, không phải sử học, không phải nhà làm sử, chấp làm gì cho rác tai!

Trên đây là những vấn đề thuộc quan điểm, thái độ, phương pháp nghiên cứu. Nó chi phối thực tiễn nghiên cứu mà chúng tôi trình bày dưới đây:

Ông Vũ Văn Quân cũng như GS. Phan Huy Lê mà ông V.V.Q trích dẫn trong bài viết, đã lẩn tránh những điểm trọng yếu, cơ bản nhất khi xem xét, đánh giá lại Vương triều Nguyễn và Gia Long – Nguyễn Ánh.

Chúng tôi không phủ nhận những sự việc cụ thể mà Vương triều Nguyễn đã đạt được, nhưng rõ ràng, khi để mất nước thì mọi “thành tựu, công lao” đó đã thuộc về thực dân Pháp. Nhà Nguyễn còn lại gì, nhân dân, đất nước còn lại gì dưới ách đô hộ của thực dân Pháp? Một nước Việt Nam thống nhất có còn không kể từ sau Hiệp ước 1862? Có phải Việt Nam đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới thời thuộc Pháp không? Có đúng là có một xứ Đông Pháp hay Đông Dương thuộc Pháp gồm 5 nước (Phạm Quỳnh) là Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Miên và Lào không? Tại sao lại có Hiệp ước Êlise với việc trả lại Nam kỳ cho quốc gia Việt Nam? Tại sao Pháp phải “trả lại”? Công thống nhất quốc gia của Gia Long là có nhưng chỉ có giá trị lịch sử đến Hiệp ước 1862. Sự thống nhất quốc gia, nền độc lập quốc gia có được như hôm nay là nhờ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, cơ bản nhất, là nền tảng để nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận hiện đại.

Lẩn tránh vấn đề này thì còn gì là lịch sử!

Cho rằng “… những thành tựu nhà Nguyễn đạt được trong thời Gia Long, Minh Mệnh mãi mãi tồn tại trong lịch sử, dù sau đó nhà Nguyễn đã để mất nước thì cũng không thể nói là “Công lao nhà Nguyễn “đã bị” trôi sông trôi biển” (Xưa & Nay. Bđd. Trg.7).

Đúng là logic của ông V.V.Q dích dắc quá. Nước đã mất mà công dựng nước vẫn còn ư? Vâng, nếu có còn là còn với quân xâm lược, đâu phải còn với nhân dân, với đất nước. Tại sao cái công đã để mất thì nhớ mà cái công giành lại được thì không nhớ. Đây là chìa khóa để giải mã “thành tựu” của GS. Phan Huy Lê và các đồng thanh khí. Ông V.V.Q sẽ hỏi lại rằng, vậy thì công của tiền nhân và các triều đại trước đến nay vẫn được nhắc đến thì sao? Vâng! Nếu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc không thành công thì công lao của tiền nhân có được nhìn nhận như ngày hôm nay không? Trương Vĩnh Ký muốn đồng hóa dân An Nam theo văn hóa Pháp. Phạm Quỳnh thì sẽ quên cả cái Tổ quốc vừa xin lại được. Ngày nay có thể nhìn nhận lại các chúa Nguyễn và triều Nguyễn chính là nhờ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Các ông xem thời thuộc Pháp, lịch sử Việt Nam được nhìn nhận như thế nào!

Không những lẩn tránh cái chính, cái chung nhất, mà đến cá nhân Nguyễn Ánh – Gia Long cũng được cố gắng “giảm khinh”, rất rõ, trong phát biểu và bài viết của GS. Phan Huy Lê mà PGS.TS Vũ Văn Quân đã dẫn lại: “… Về thành tựu: hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước trên cơ sở tiếp tục thành tựu của phong trào Tây Sơn; xây dựng và củng cố quốc gia thống nhất trên lãnh thổ tương đương với lãnh thổ của Việt Nam hiện đại… là một vương triều quân chủ tập quyền có những mặt hạn chế về chế độ chuyên chế, về một số chính sách đối nội và đối ngoại, nhưng cũng đạt nhiều tiến bộ về mặt quản lý quốc gia thống nhất. Về cải cách hành chính, xây dựng thiết chế và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước tổ chức rất qui củ; để lại một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể. Về hạn chế: hành động của Nguyễn Ánh đưa 5 vạn quân Xiêm vào Gia Định là một “điểm mờ”, một “tỳ vết” trong cuộc đời Nguyễn Ánh; để mất nước là một trách nhiệm nặng nề không thể thoái thác và biện hộ cho triều Nguyễn với cương vị triều đình nắm chủ quyền quốc gia” (Phan Huy Lê “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” – Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 11-2008. Phan Huy Lê: Về Hội thảo Khoa học “Chúa Nguyễn và…” – Tạp chí Cộng sản số 799 tháng 5-2009. Theo Vũ Văn Quân – Xưa & Nay số 488 tháng 10-2017. Trg.6).

Nói như vậy thì đơn giản quá. Khi nói đến Gia Long, cần phải thấy các sự việc, sự kiện sau:

- Hiệp ước ủy nhiệm cho Bá Đa Lộc ký. Tuy không thành hiện thực nhưng tư tưởng bán nước cầu vinh của Nguyễn Ánh đã thể hiện rõ ràng. Và Hiệp ước này còn để di hại lại cho con cháu Gia Long, khi Pháp vẫn viện vào Hiệp ước này để can thiệp vào Việt Nam.

- Cầu viện quân Xiêm: Đây là một khoản nợ quốc gia phải trả bằng máu. Lịch sử không để lại thỏa thuận giữa vua Xiêm và Nguyễn Ánh. Có thể là sự giúp đỡ “vô tư”. Có thể là sự giao ước ngầm về giá của sự viện trợ đó. Nhưng chí ít là thiệt hại về phía Việt Nam khi 5 vạn quân Xiêm kéo sang. Chỗ này, sử sách vẫn chưa làm rõ.

- Cắt mối liên hệ với Pháp – cũng là phương Tây lúc đó – quay sang thần phục nhà Thanh xin cầu phong: “… Sau khi lên ngôi, Gia Long đã tự mình tìm cách giũ bỏ sự có mặt của các sĩ quan và giáo sĩ nước ngoài tại triều đình và trong đất nước” (Vũ Văn Quân. Bđd. Trg.6).

Đây không phải là tội trạng cụ thể mà là sự thấp kém trí tuệ do lòng tham che mờ, gọi là ngu xuẩn cũng không ngoa – về tư tưởng và trí tuệ của người đứng đầu quốc gia. Chính đây là điểm bắt đầu của nhà Nguyễn đưa đất nước vào đêm trường tăm tối của đường lối bế quan tỏa cảng, làm cho đất nước ngày một bế tắc và suy yếu dẫn đến mất nước.

Dễ hiểu là nhà Nguyễn trở lại với Nho giáo. Cho đến thời Tự Đức và tiếp sau nữa, tầng lớp trí thức vẫn loanh quanh trong Tứ thư, Ngũ kinh… Văn hóa Nho giáo là chỗ dựa tốt nhất cho các triều đại phong kiến. Lịch sử Việt Nam và Á Đông chứng tỏ như thế. Cái “Di sản văn hóa đồ sộ” thực ra cũng chỉ nằm trong khuôn phép biên niên sử thời phong kiến. Đời sau ghi công cho các nhà biên soạn để ngày nay ta có tư liệu về quá khứ của dân tộc. Nhưng thực tế chứng tỏ khối lượng đồ sộ về văn hóa này không soi sáng mở đường cho đất nước phát triển. Phải đến “một thứ văn hóa mới, văn hóa của tương lai” như Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (Manđenxtam nói về Nguyễn Ái Quốc – 1926), mới đưa đất nước và xã hội Việt Nam thoát ra khỏi bế tắc. Nhiệt huyết như các Cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đều bế tắc và thất bại là một minh chứng rõ ràng, thấm thía, chua xót.

Tại sao Nguyễn Ánh – Gia Long đã có cơ hội tiếp nhận văn hóa Pháp qua Hiệp ước đã ký với Pháp, nhưng khi đạt được mục đích rồi, lại xong việc bỏ người, qua cầu rút ván. Lẽ ra đây là cơ hội vàng cho Nguyễn Ánh, thông qua các sĩ quan và giáo sĩ Pháp đã giúp mình trong sự nghiệp giành lại ngôi vị, quyền lực để đẩy mối quan hệ với Pháp lên cao hơn, giao thương với họ, học tập họ. Cơ hội này nhà Nguyễn có trước người Nhật nửa thế kỷ. Phải đến năm 1853-1854, hạm đội của Hoa Kỳ do Đô đốc Perry đến Nhật yêu cầu giao thương thì người Nhật đã ký ngay Hiệp ước hòa – thân với Hoa Kỳ. Tiếp đó các nước Anh, Nga, Hà Lan… yêu cầu ký Hiệp ước tương tự và họ đều được đáp ứng, “Cánh cửa Nhật Bản tiếp xúc với bên ngoài được rộng mở và chính sách bế quan tỏa cảng đã đến giờ cáo chung” (Vĩnh Sính – Nhật Bản cận đại. NXB Lao động. H.2014).

Đây là chỗ GS. Phan Huy Lê và các đồng thanh khí thật sự quên hay không thật sự quên. Dù sao cũng phải nhắc lại. Vì sự kiện này chứng tỏ một cách đanh thép rằng Nguyễn Ánh – Gia Long trước sau chỉ vì mục đích giành lại ngôi vị vương quyền, quyền lợi dòng tộc, đạt được mục đích rồi thì đóng cửa bế quan tỏa cảng, chuyên chế và hưởng thụ. Các chính sách nội trị sau này mà ông V.V.Q ca ngợi là ý chí chính trị… chỉ là để bảo vệ ngôi vị và kìm kẹp, nô dịch bóc lột nhân dân mà thôi.

Đây là căn bệnh chung của chế độ phong kiến trên phạm vi toàn nhân loại. Đó là một chế độ phản động kìm hãm lịch sử cần phải được phủ định. Vương triều Nguyễn là tiêu biểu cho sự suy thoái tột cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Mở đầu là Gia Long, giữa là Tự Đức và cuối cùng là Bảo Đại, một “con điếm đích thực”! Người Pháp đi đầu trong công cuộc phủ định chế độ phong kiến với Đại cách mạng 1789. Dân chúng reo hò khi vua Louis bị đưa lên đoạn đầu đài. Thế nhưng, thực dân Pháp lại cố duy trì chế độ phong kiến Nam triều. Vì nó là thứ tay sai bù nhìn; tuy nhiên, người Pháp cũng cáo già về thuật nuôi chim mồi nên vẫn để cho Nam triều tự trị và kinh thành Huế được để yên trong khi thành Hà Nội thì họ phá. Người Pháp giữ lại kiến trúc Huế cũng như họ khai thác Sapa, Tam Đảo, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Bà Nà, Đà Lạt… Và người Pháp cũng rất khôn ngoan về học thuật, trong chiến lược nghiên cứu để khai thác. Muốn nghiên cứu, phải có tư liệu, giữ gìn, thu thập tư liệu. Truyền thống đó có từ thời Napoléon. Sau này Trường Viễn Đông Bác Cổ là một tiêu biểu.

Gia Long, Tự Đức, Bảo Đại và nhà Nguyễn đã lùi vào dĩ vãng, “lên án mạnh mẽ” đối với họ cũng không cần thiết. Nhưng một khi đã nhìn nhận lại, phải cho đúng.

Khi nói đến nhà Nguyễn hay các nhân vật như Phạm Quỳnh, Hoàng Cao Khải… cần nhớ mối quan hệ giằng dịt trong đời sống gia đình và xã hội Việt Nam. Chúng ta ghi nhớ tôn vinh những vị vua yêu nước như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… Các hoàng thân quốc thích và cháu chắt nội ngoại xa gần của họ đã đi với cách mạng, dấn thân vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như nhà cách mạng Nguyễn Minh Vỹ, Liệt sĩ Bửu Đình, hay gia đình nhà văn Hải Triều – Nguyễn Khoa Văn, Liệt sĩ Nguyễn Khoa Châu, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – cháu ngoại đời thứ năm của vua Minh Mạng… Hậu duệ của Cụ Phan Thanh Giản là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Cụ Phạm Thượng Chi có các con là GS. Phạm Khuê, nhạc sĩ Phạm Tuyên, con rể – GS. Đặng Võ Hỉ, cháu ngoại Đặng Vũ Minh. Nguyễn Văn Vĩnh có những người con như Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Dực, Nguyễn Phổ… Phải nên ngoài thì là lý song trong là tình… Vì tình ruột thịt máu mủ ai cũng như ai, hổ không ăn thịt con, và lịch sử, một khi đã là lịch sử, lại phải trung thực công bằng. Đó là cái khó cho nhà làm sử ở Việt Nam, thậm chí khó nhất chứ không phải khó ở tầm sử liệu, hạch sử liệu…

Nếu đứng vững trên quan điểm dân tộc – khoa học và truyền thống nhân ái Việt Nam thì dẫu phức tạp đến đâu cũng gỡ ra được. Chúng tôi buộc lòng phải nói lại mãi vấn đề này. Vì cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, không nỡ ngồi nhìn lá rụng hoa rơi…

Xin trân trọng.

Hà Nội, 24-4-2018

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 497

Ý Kiến bạn đọc