Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Sự mù mờ của GS. Phong Lê

 

Hơn hẳn nhiều người khác, GS. Phong Lê thành thật nhận mình còn rất mù mờ trong nhận thức về cái riêng của dân tộc ở lĩnh vực văn hóa, tinh thần. Ông viết:

“Càng dấn sâu vào toàn cầu hóa thì cái riêng của dân tộc (C.G nhấn mạnh) càng phải được khẳng định, bồi đắp, trước hết trong đời sống văn hóa, tinh thần. Nhưng cái riêng đó là thế nào thì vẫn còn rất mù mờ và còn lắm mắc mớ trong nhận thức và thực tiễn” (Văn Nghệ số 16, ngày 20-4-2019).

Ta hiểu đây không chỉ là tự nhận về mình mà còn rộng hơn. Và thực tế cũng có như thế. Nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển do chưa sáng ra kinh nghiệm của Bình dân học vụ hồi kháng chiến chống Pháp nên đã nhập về cái công nghệ VNEN tốn kém cả triệu đô mà đến nay nơi theo nơi không, bỏ thì thương vương thì tội.

Ông Võ Kim Cự, tuy về lĩnh vực kinh tế nhưng là bài học nhận thức chung. Cứ tưởng Formosa nó đầu tư lớn như thế thì phải nghiêm túc.

Ai ngờ… Vâng! Xưa nay có ai học được chữ ngờ.

Về điện ảnh, các nhà quản lý có ở vào tình trạng của GS. Phong Lê không mà 80% thị phần phát hành phim trong cả nước lại nằm trong tay công ty nước ngoài CGV. Trong một năm, với hơn 300 phim nước ngoài, chủ yếu là của Hàn Quốc được trình chiếu mà Việt Nam chỉ có 35 phim (Khi tiêu chí dân tộc… Ngô Ngọc Ngũ Long. Hồn Việt, số 136, tháng 5-2019. Trang 52). Vừa rồi, diễn viên – người mẫu Ngọc Trinh trình diễn trên thảm đỏ của Liên hoan Phim Quốc tế Cannes (Pháp) với trang phục như ở bãi tắm biển đến nỗi Bộ Văn hóa – Thể thao phải lên tiếng phê phán. Và phim Vợ ba thực chất là vô đạo, kinh doanh trên thân xác bé gái 13 tuổi! (Các trang mạng ngày 22-5-2019).

Như thế, vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng còn rất mù mờ trong nhận thức về cái riêng của văn hóa, tinh thần. Vì hội nhập toàn cầu đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên đất nước Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài họ không chờ đợi. Mình càng mù mờ thì họ càng OK. Như các dự án Đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh, Sài Gòn – Suối Tiên. Đội vốn đến hàng chục lần. Cái mất về kinh tế thì số hóa được. Cái mất về văn hóa tinh thần thì vô hình và sẽ là vô cùng. Như cái mốt đám cưới cực kỳ xa hoa tốn kém…

Nhưng làm sao để không còn bị mù mờ về cái riêng của dân tộc – chúng tôi hiểu là bản sắc dân tộc. Đây là vấn đề rất khó khăn, như bắt voi bỏ rọ, thậm chí còn khó hơn. Có thể cắt đôi ngà hay cái vòi con voi rồi cho vào rọ, ta vẫn hiểu, theo nghĩa qui ước ngầm, là đã bắt, đã nhốt được con voi. Vì giá trị của con voi chính là và chỉ ở đôi ngà. Cũng như con gấu, lấy cái mật và đôi tay (chân trước). Đấy là những cái riêng tiêu biểu cho giá trị của cái chung, toàn thể, tất cả.

Con voi con gấu thì dễ hình dung. Nhưng đôi ngà hay cái mật của văn hóa dân tộc – cái riêng của dân tộc – thì trừu tượng, mông mênh lắm. Quả là rất khó để khái quát được cái riêng này. Nhưng không thể bó tay, chấp nhận. Và đó không phải là cái bất khả tri, bất khả chiếm lĩnh. Nếu cứ loay hoay để tối giản hóa cái riêng của dân tộc bằng một định nghĩa, một công thức hay một hình tượng ngôn ngữ nào đấy để cho dễ dàng nhìn nhận thì rất dễ đi vào bế tắc, sẽ mù mờ như Giáo sư (GS).

Chúng tôi đề nghị một cách tiếp cận khác. Hãy xem hành động của con người Việt Nam, từ đó mà hình dung, tưởng tượng, khái quát lại…

Xin giới thiệu một công trình, theo chúng tôi là rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận này. Đó là công trình Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại của cố tác giả Hàm Châu, một nhà báo khoa học nổi tiếng của nước ta. Sách dày 1.220 trang khổ lớn (15,5x23cm) do NXB Trẻ ấn hành năm 2014. Đây là chân dung của 56 nhà khoa học Việt Nam đương đại từ GS. Tạ Quang Bửu, GS. Hồ Đắc Di… đến các nhà khoa học lớp sau như GS. Ngô Bảo Châu, GS. Trần Thanh Vân – nhà thiên văn học tầm cỡ thế giới. Và đây là lời đánh giá của Nhà văn hóa Hữu Ngọc: “… Các vị trí thức đề cập trong sách này đều là chứng nhân và tác nhân của thời đại. Cuốn sách gây niềm tự hào và niềm tin vào dân tộc cho tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước, đồng thời nêu gương sáng cho các thế hệ trẻ và cho mai sau” (Sđd. Trg. Jacket, bìa gấp).

So-549--Anh-minh-hoa---Su-mu-mo-cua-GS-Phong-Le---Anh-1

Chắc chắn còn rất nhiều công trình về văn hóa Việt Nam đã được công bố ở thế kỷ trước và cho đến hôm nay. Nhưng thiết nghĩ, qua lời của Nhà văn hóa Hữu Ngọc, GS. Phong Lê và chúng tôi và tất cả chúng ta sẽ thoát ra khỏi trạng thái mù mờ về bản sắc văn hóa dân tộc. Nhà văn hóa Hữu Ngọc năm nay tròn 100 tuổi, ông vẫn tỉnh táo, minh mẫn. Sự nghiệp nghiên cứu văn hóa Việt Nam và thế giới rất đồ sộ của ông là bảo đảm cho lời nói của ông. Chúng tôi tin như thế.

Bên cạnh đó, từ khi có bộ môn Việt Nam học, Đông Phương học, Văn hóa học và Văn hóa Việt Nam được đưa vào chương trình của các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, được giảng dạy trong các trường Đại học KHXH&NV thì tính dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc trở thành mối quan tâm của cả giới khoa học xã hội Việt Nam. Mà nếu tổng kết lại các công trình đó, sẽ cho chúng ta một cái nhìn, một nhận thức khái quát nhưng cụ thể về tính dân tộc, cái riêng của dân tộc – bản sắc dân tộc. Chắc là GS. Phong Lê quá lo lắng và quá khiêm tốn đấy thôi. Vì chỉ cần ghi nhớ một bài giảng của GS. Đặng Thai Mai – là người Thầy, thủ trưởng trực tiếp của GS. Phong Lê ở Viện Văn học trong thời gian khá dài cũng sáng ra được ít nhiều. Chuyện rằng, trong bài giảng đầu tiên của GS. Đặng Thai Mai về thiên Đại học của Khổng Tử cho lớp Đại học Văn khoa đầu tiên hồi 1955-1956, GS nói: “Cái minh minh đức của người Việt Nam là độc lập tự chủ (trong câu Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện, thiên Đại học của Khổng Tử). GS Nguyễn Kim Đính (Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp, nay là Đại học KHXH&NV Hà Nội) nhớ lại và cho đấy là nhận định rất sâu sắc, rất sáng tạo. Khổng Tử chỉ nói rất chung: minh minh đức là làm sáng hơn cái đức đã sáng. Còn GS. Đặng Thai Mai thì vận dụng, phát triển cụ thể ra như thế. Trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Thà hi sinh tất cả. Nhất định không chịu mất nước. Không chịu làm nô lệ (1946). Hai mươi năm sau (1966), Người khẳng định lại như một chân lý. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Nhà thơ Chế Lan Viên có nói đại ý: Nếu ông cha chúng ta không để lại nền độc lập dân tộc, truyền thống độc lập tự chủ mà để lại cho chúng ta hàng trăm hàng ngàn áng thơ văn hay thì chúng ta có vui mừng không? Điều đó cho thấy rằng phải tìm cái riêng của dân tộc trong hành động của dân tộc, ở những đặc trưng bản chất nhất, mới sáng ra được. Nếu chỉ quanh quẩn ở những hình thức cụ thể màu cờ sắc áo thì khó mà sáng ra được.

Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự mù mờ của GS. Có thể thấy qua mấy luận điểm của GS:

Nhân vật mới của văn học

Giáo sư viết: Nhân vật mới, đó là các thế hệ trẻ trước những băn khoăn về tình yêu và tình dục, lẽ sống, khát vọng cá nhân, con đường lập nghiệp…

Đó mới là nhận xét chung. Còn con người cụ thể?

Giáo sư dẫn ra nhận xét của Ban tổ chức Giải Sách hay 2016: Theo đó, thế giới nhân vật ở đây “là những người trẻ cô đơn, khép kín và vô định, lọt thỏm giữa vũ trụ rộng lớn của cõi người”… Và một tác giả tuổi 17 được Giải thưởng được nhận xét là “Nguyện (cô gái được Giải thưởng) viết cho cô, nhưng cũng là cho tuổi 17 đầy hoang hoải của bất kỳ cô cậu nhóc nào”.

Giáo sư không cho biết chủ thể tổ chức Giải thưởng Văn học này, tác giả lời nhận xét trên và GS cũng không có bình luận gì, nghĩa là cũng đồng tình với Giải thưởng này. Chúng tôi nghĩ GS. Phong Lê có thể còn mù mờ nhưng những người tổ chức Giải thưởng này, họ không mù mờ đâu. Một tình hình văn học như thế là đáng lo ngại, rất đáng lo ngại, phải lo ngại và cái Giải Sách hay đó là rất phản nhân văn. Văn học chân chính dù ở bất kỳ hoàn cảnh xã hội nào cũng không thể dẫn con người đến chỗ an phận, chấp nhận cô đơn, vô định, hoang hoải, nghĩa là một thực tại và tương lai hư vô, vô nghĩa. Và trong thực tế có phải tất cả giới trẻ Việt Nam đều ở tâm trạng đó không? Xin GS đọc bức thư Gửi tới Ozône người hùng của tôi” của em Nguyễn Thị Mai được giải Nhất quốc gia trong cuộc thi Viết thư UPU. Mai là học sinh lớp 10 ở Nam Sách, Hải Dương. Cuộc thi này nhận được hơn 1 triệu bài dự thi. Tôi kinh ngạc thán phục, yêu quý và tin tưởng vào thế hệ trẻ này. Xin xem báo Cựu chiến binh Việt Nam số 331, tháng 5-2019.

Nhân vật mới của thời đại

GS. Phong Lê cho rằng những gương mặt mới của thời đại là nhân vật doanh nhân, hiện có 60 vạn, đến 2020 có khoảng 1 triệu. Đã xuất hiện những tỉ phú không dựa vào bóc lột, tước đoạt và phần lớn tài sản lại đem làm từ thiện như Bill Gates, Amazon, Facebook…

Thời đại của các doanh nhân hay giai cấp doanh nhân là đại biểu cho thời đại thì phải tính từ 1500 (Lịch sử chủ nghĩa tư bản 1500-2000. Michel Beaud – NXB Thế giới. 2007). Còn ở Việt Nam thì dích dắc lắm. Chưa có một công trình khảo cứu về doanh nhân Việt Nam nhưng chắc chắn tầng lớp này đã có từ khá lâu, có thể từ khi có làng nghề phường nghề và giao thương giữa các vùng miền hay với nước ngoài. Song, chưa bao giờ tầng lớp doanh nhân Việt Nam là gương mặt của thời đại cả. Dù hiểu thời đại như là thời kỳ, giai đoạn của lịch sử đất nước. Còn từ nay họ có là gương mặt thời đại hay không thì phải bàn luận nhiều hơn và cụ thể hơn. Bài viết này chưa đề cập đến. Ở đây hãy nói đến bản chất của tầng lớp doanh nhân, từ đó mà suy ra gương mặt thời đại. Doanh nhân bao giờ cũng là chủ thể của kinh doanh. Mà kinh doanh thì không thể phi lợi nhuận. Nghĩa là bóc lột, tước đoạt… Chỉ có trắng trợn hay ngọt ngào, mức độ này kia mà thôi. Giả dụ GS có 1.000 tỷ đồng. Biết kinh doanh thì sinh lợi là x. đồng/năm. Còn không, cứ gửi tiết kiệm ở ngân hàng, nếu lãi suất ổn định, thì GS sẽ ngồi mát ăn 70 tỷ đồng/năm. Trong khi người lao động hiện nay vẫn là vắt mũi bỏ miệng, nếu có khá hơn, như nhân viên các hãng nước ngoài thì cường độ lao động khủng khiếp, và đồng tiền lại trôi vào siêu thị chảy vào túi của các doanh nhân… 

Bill Gates, Amazon hay Facebook… cũng như một số doanh nhân ở Việt Nam quả là có tấm lòng vàng rất đáng hoan nghênh, nhưng chỉ là ngoại lệ. Giáo sư biết cho là 13 người giàu nhất thế giới sở hữu khối tài sản bằng của 3,8 tỷ người nghèo trên thế giới. Số liệu của Ngân hàng Thế giới. Với Amazon và Facebook thì GS cần phải xem lại. Họ chưa hẳn tốt đẹp như GS nghĩ đâu! Phải trở lại chính sách kinh tế mới của Lênin (NEP), phải chấp nhận, khuyến khích tầng lớp doanh nhân, song chớ vội hiểu đấy là nhân vật mới của thời đại. Đây là vấn đề lớn chúng tôi sẽ trở lại vào dịp khác.

Hạ tầng cơ sở vật chất

GS. Phong Lê cho rằng cách mạng 4.0 với trí tuệ nhân tạo sẽ làm cho sáng tạo nghệ thuật không còn đất sống, làm biến chất tình yêu và thay đổi đạo hiếu. “Vậy thì văn học, nghệ thuật – như một hình thái ý thức xã hội sao lại không thay đổi trước những thay đổi của các cơ sở hạ tầng vật chất – như Các Mác đã từng dạy” (Bđd. Trg.8, cột 4).

Xin GS chớ vội lo xa. Trí tuệ nhân tạo hoạt động theo sự lập trình. Nếu cắt nguồn điện hay pin mặt trời hỏng hóc thì tàu vũ trụ, vệ tinh, rôbốt với con gấu bông đều như nhau. Còn con người – người nghệ sĩ và hoạt động trí tuệ của nó lại khác. Đấy là mảnh đất của sáng tạo của con người, trong đó có nghệ thuật.

Các Mác không “từng dạy” như Giáo sư viết. Tư tưởng của Mác là: khi cơ sở hạ tầng xã hội gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thay đổi thì sẽ kéo theo sự thay đổi của thượng tầng kiến trúc gồm các hình thái ý thức xã hội trong đó có nghệ thuật…

Cơ sở hạ tầng vật chất như GS hiểu là cách nói giản lược chỉ cơ sở hạ tầng kinh tế, sản xuất như điện – đường – trường – trạm, bến cảng, đường bay… để mời gọi các nhà
đầu tư…

Từ các điểm nêu trên có thể nói GS. Phong Lê đã trở lại cái nhìn xã hội học chất phác về lý luận văn học, bắt nguồn từ tư duy vụ thực, không thể đi đến trừu tượng khái quát, càng khó lòng dự báo một điều gì!

Nhân tiện, xin GS xem lại mấy thuật ngữ sau:

1/ “Nổi lên vai trò cá nhân thay cho cộng đồng…” (Bđd. Trg.8, cột 1).

Theo chúng tôi, vai trò cá nhân và vai trò cộng đồng không bao giờ thay thế cho nhau được. Chỉ có thể thay đổi tính chất trong quan hệ cá nhân – cộng đồng. Tính cộng đồng là đặc trưng của văn học cách mạng và kháng chiến. Nay dường như ngược lại, theo cách hiểu của GS.

2/ “Nổi lên cá tính trong đối ứng với tính dân tộc và tính nhân loại” (Bđd. Trg.8, cột 2).

Theo chúng tôi là rất sai. Đối ứng là thuật ngữ kinh tế mới xuất hiện gần đây, chỉ quan hệ cùng đầu tư (cùng có lợi giữa hai đối tác trở lên). Còn quan hệ giữa cái riêng trong văn hóa và văn học – nghệ thuật, dù là tác giả, nhân vật hay cái riêng của dân tộc với tính dân tộc và tính nhân loại là quan hệ phù trợ, làm cho giầu có lên hay nghèo nàn đi, không thể gọi là đối ứng được. A.Q của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao cùng làm cho tính nhân loại giầu có lên, mà không cần có khoảng đối ứng nào!

3/ “… Các phương thức sinh đẻ không cần đến sự phối thuộc trực tiếp giữa tinh trùng và trứng” (Bđd. Trg.8, cột 4).

Giáo sư quá hoang phí chữ phương thức. Phương thức sản xuất hay phương thức sinh hoạt… thì được. Còn sinh đẻ là từ ghép. Sinh (Hán) với đẻ (Việt). Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau/ Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn (Tú Xương). Sao không nói phương pháp sinh đẻ cho nó dễ hiểu.

Phối thuộc là thuật ngữ quân sự không dùng vào đây được. Đơn vị A được điều động bổ sung cho đơn vị B, chịu sự chỉ huy của B, gọi là đơn vị phối thuộc. Còn cái sự vợ chồng trai gái, phòng the, nhà nghỉ… vẫn được gọi là mây mưa, giao hoan, giao hợp… Thuật ngữ khoa học (sinh sản) gọi là thụ tinh hay quá trình thụ tinh, nay có thêm thụ tinh nhân tạo vẫn là sự kết hợp đẳng hợp đẳng lập, hai bên bình đẳng kết hợp, sao gọi là phối thuộc được.

Tuy là chuyện chữ nghĩa nhưng cũng cần để bạn đọc không bị phối thuộc trong sự tiếp nhận, mong GS bỏ quá cho.

(Còn tiếp)

Hà Nội, tháng 5-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 549

Ý Kiến bạn đọc