Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Sự kỳ diệu trong mỗi người chúng ta

 

Các nhà tâm lý phân biệt tình cảm tự ti với mặc cảm tự ti. Khi ta đối diện một người tài giỏi hơn ta, ta sẽ thấy mình thua kém so với kẻ ấy, nhưng ta không phải khổ tâm chút nào, sẵn sàng thán phục một cách tự nhiên. Như thế, nơi ta chỉ có tình cảm tự ti, một cảm giác đành phận một cách yên ổn. Nhưng nếu ta phải khổ sở vì sự sút kém, ta sống âm thầm với một trạng thái thua thiệt và tìm mọi cách để gỡ gạc lại, là ta đã bị chi phối bởi mặc cảm tự ti.

Tình cảm tự ti là trạng thái có ý thức, mặc cảm là trạng thái vô ý thức. Tình cảm tự ti là một tâm lý gần như thông thường ở trong đời sống chúng ta, nó vốn đơn giản và có thể là động lực khiến ta cố gắng tiến thủ. Trái lại, mặc cảm tự ti là một hiện tượng u tối, phức tạp hơn nhiều, có thể do nhiều nguyên nhân xa gần gây nên, có những nguyên nhân bắt nguồn từ thuở ấu thơ, từ một điều kiện di truyền xa xôi, trong một kỷ niệm chua xót đầu đời. Mặc cảm tự ti có thể tàn phá cuộc đời, giam giữ chúng ta trong sự thụ động, tuyệt vọng, nhất là trong những ý tình cô độc, khiến ta dần dần xa lánh giao tiếp với người và tạo cho mình một thế giới riêng của sự tự mãn thảm thương bằng những ảo vọng tiêu cực. Những người mặc cảm vì những cớ rất nhỏ nhoi. Cái tên cúng cơm do cha mẹ đặt không được văn hóa có thể làm cho con cái phiền bực suốt đời, đôi khi một mảnh gương soi cũng tạo cho ta mặc cảm, nếu ta có cái mũi gãy hay cặp mắt lồi. Vì cứ mỗi lần soi gương ta lại khó chịu về ta, và khi giao tiếp ta lại ngỡ rằng ai cũng soi mói nhìn vào cái mũi hoặc đôi mắt ấy.

Có khá nhiều loại mặc cảm ở trong đời sống nội tâm của người nhưng phổ biến là mặc cảm tự ti, phổ biến đến mức chỉ nói đến tiếng mặc cảm là đã ngầm hiểu ý tự ti rồi. Đối lập với mặc cảm tự ti – có nghĩa như một âm thầm dằn vặt về nỗi thấp kém của mình – là mặc cảm tự tôn, chỉ về tâm thức những kẻ luôn thấy mình là vượt trội, hơn hẳn kẻ khác. Nhưng trên thực tế, hai cái đối nghịch vẫn thường gặp nhau, và nhiều trường hợp mặc cảm tự tôn là dạng trá hình của mặc cảm tự ti, như tục ngữ bảo “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Nhiều cô nhiều bà trang điểm quá sức không phải vì tự thấy mình đẹp mà chính âm thầm bên trong tự biết là mình đang hồi tàn tạ.

Tóm lại, mặc cảm tự ti – tức là cảm thức âm thầm về sự sút kém – có thể là một hiện tượng cá nhân hoặc hiện tượng xã hội. Nó là sự kiện hết sức phổ biến thường gặp nơi những người sợ hãi dồn nén, giữa những con người cảm thấy ngờ vực lẫn nhau, luôn sống trong sự che đậy hơn là cởi mở, đối phó hơn là cảm thông, chèn ép hơn là nâng đỡ.

Nhưng may mắn thay, các nhà tâm lý đã kịp khám phá ra một hiện tượng rất đáng quan tâm là những người bị dày vò bởi mặc cảm ấy thường có ý hướng tự nhiên tìm cách bù trừ cho khỏi thua thiệt. Người ta cho rằng có thể vì mặc cảm là mình điếc đặc mà Beethoven trở nên nhạc sư đại tài. Có lẽ mặc cảm về sự nói năng cà lăm của mình mà Démosthène sau này trở thành một nhà hùng biện trứ danh. Người ta còn bảo, nếu Nã-Phá-Luân không mặc cảm về sự lùn thấp thì giọng nói của ông sẽ không uy quyền đến thế. Theo cái điệu ấy thì các nhà tâm lý học Tây phương đồng thanh xác nhận câu nói cũ kỹ của ông bà ta: “Có tật có tài”. Vì kẻ có tật bị cái mặc cảm thua sút nên cố gỡ gạc lại bằng những nỗ lực kiên trì, có khi gỡ gạc quá trớn, thành những thiên tài xuất chúng.

Dựa theo nhận xét khoa học sau đây: “Khi hòa tan chất đường trong nước, tất nhiên nhiệt độ của nước hạ xuống và sự lạnh lại của nước sẽ làm giảm sự hòa tan của đường”. Các nhà tâm lý học nhận thấy ở trên bình diện tâm lý cũng có sự kiện tương đồng như thế. Ở một trạng thái bình ổn nếu có yếu tố nào làm sai lệch sự bình ổn ấy, tất nhiên sẽ có một sự phản ứng để chống lại yếu tố ấy. Sự nước lạnh lại ấy hạn chế sức hòa tan của đường, cũng như sự phản ứng lại yếu tố làm lệch hẳn thế quân bình, được gọi là “sự bù trừ” và luật bù trừ không chỉ là quy luật ở trong tạo vật mà còn là quy luật của đời sống con người nói lên tấm lòng không chịu thiệt thòi, tấm lòng khao khát công bằng.

Thật ra bù trừ là một thể cách đòi hỏi quân bình, nó được thực hiện ở trên phạm vi tiêu cực cũng như tích cực. Về mặt tích cực nó thúc đẩy người vươn lên tìm sự bình ổn, tìm những ưu thế, như một người mù trở nên hết sức thính tai, một số cô gái kém nhan sắc cố gắng trau dồi đức hạnh. Về mặt tiêu cực, nó có thể xui khiến người ta tìm cách rút lui ra khỏi cuộc đời, dùng những thủ đoạn gian trá để tự che đậy, hoặc sinh ghen ghét, vu cáo, tham lam. Thanh niên du đãng chính là sự biểu hiện của sự bù trừ tiêu cực. Thói tật say sưa rượu chè cũng nói lên tâm thức ấy. Vì không đủ sức thoát ly khỏi những cảnh trạng bi đát của tâm hồn mình, nên phải mượn rượu hay một thú vui nào khác để tự lừa mình qua sự thoát ly giả tạo.

Những tác phẩm lớn như Kiều hay Lục Vân Tiên, Cung Oán Ngâm Khúc hay Chinh Phụ Ngâm, đều đầy nỗi niềm xót xa của những tâm hồn ai oán, cất giọng bi thương đòi hỏi đền bù. Những nhà tâm lý cũng thường nêu lên trường hợp tương tự như thế ở trong phạm vi cơ thể con người. Một kẻ đau thận bị cắt loại hẳn một bên thì trái thận còn lại sẽ nở to ra và làm tròn được nhiệm vụ đối với cơ thể như thường. Một ống xương gãy được cứu chữa lại thì phần xương ấy sẽ cứng cáp hơn và to lớn hơn trước khi xảy ra tai nạn. Quả thận và ống xương kia đã cố bù trừ khỏi sự thiệt thòi và đã bù trừ vượt mức, đó là sự “siêu bù trừ”, một sự bù trừ quá mức có thể tìm thấy trong mọi biểu hiện sinh hoạt hàng ngày. Tưởng nên dùng chứng minh khác cho đẹp đẽ hơn, đó là trường hợp của viên ngọc trai vốn được phát sinh từ vết trầy trụa của giống trai sò. Mới hay loài trai cũng biết khai thác nghịch cảnh một cách hết sức đáng yêu. Nhưng tạo được ngọc ở vết trầy trụa là nhờ cơ thể loài trai tiết ra một chất đặc biệt, còn nơi tâm hồn Nguyễn Du, chất đặc biệt ấy là sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của những con người, trải qua cuộc đời trầy trụa về mặt tư tưởng cũng như tình cảm của mình. Nếu Nguyễn Đình Chiểu không bị mù lòa tất nhiên không có quyển Lục Vân Tiên. Chính trong bóng tối âm thầm của đôi mắt ấy, con người nho sĩ khí tiết cố giương một đôi mắt lớn rọi vào cuộc đời. Đôi mắt lớn ấy là Lục Vân Tiên, sáng rỡ những màu đạo lý hơn muôn vạn lần ánh sáng chiếu tỏa từ đôi mắt thật của một con người. Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã đem quyển Lục Vân Tiên bù đắp cho một cặp mắt tối mờ, như cụ Nguyễn Du đã đem Truyện Kiều bù đắp cho một tấm lòng dằn vặt. Và Tú Xương đã đem những tiếng chửi rủa sâu cay bù vào những nỗi thất bại, như Hồ Xuân Hương lấy sự đùa cợt chua ngoa để bù cho nỗi thiệt thòi của một thân phận đàn bà. Chúng ta đều biết Tư Mã Thiên bị nhà vua xử thiến, một hình phạt rất ô nhục đối với ngày xưa, nhưng nếu không bị cái hình phạt ấy hẳn ông không có được bộ Sử ký tuyệt vời lưu lại muôn thuở. Không có khả năng sinh hạ những đứa con bằng xương bằng thịt, ông đã cho ra chào đời đứa con tinh thần thật là vĩ đại, vì đứa con ấy vượt cả không gian, thời gian để mà tồn tại. Thiệt thòi, mặc cảm, dẫn đến bù trừ hoặc siêu bù trừ, đó là quy luật thường thấy ở trong muôn vật, muôn loài, và kỳ diệu nhất là trong loài người.

“Hãy ngăn chặn những mặc cảm vô lối và hãy biến các mặc cảm thành những động lực vươn lên”. Mặc cảm thay vì là sức hủy diệt chúng ta, có thể là cái bàn đạp để ta chiến thắng. Mới lên 7 tuổi, Louis Braille đã bị mù nhưng con người đó không chịu chôn vùi đời mình trong sự bất hạnh để sống với cái mặc cảm tủi buồn của sự tật nguyền mà đã nỗ lực tìm kiếm ra những chữ viết cho người khiếm thị. Nhờ vậy bao nhiêu người bị mất ánh sáng của mắt có thể nhờ chữ của Braille mà tiếp xúc với ánh sáng văn hóa của cuộc đời này. Tất cả pho tượng xưa nay được các nghệ sĩ tạo dựng cho các danh nhân đều không điểm mắt – trừ tượng của Louis Braille. Bởi con người mù lòa ấy thật sự có đôi mắt sáng – tỏa ra từ nơi tâm hồn.

Không có những thua thiệt nào đáng làm cho ta buồn phiền. Thua thiệt, thất bại, càng giúp ta thấy rõ cuộc đời để mà tiến tới cho thêm vững chắc. Câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công” cũng nằm trong ý nghĩa đó, và nó không phải là lời động viên suông mà còn là sự khẳng định có tính khoa học. Cụ Phan Bội Châu khẳng định:

Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả,
Anh hùng hào kiệt có hơn ai?

Vì qua bản thân và qua lịch sử, Cụ đã chiêm nghiệm thấy rằng – tất cả bất trắc ở trong cuộc sống có thể là một động lực cần thiết – cho người vươn lên. Văn hào Balzac cũng đã nhận thấy cảnh khổ trên đời không có chung một ni tấc cho mọi con người. Và khi ông viết: “Cảnh khổ là nấc thang của những bậc anh tài, là kho tàng của những người khôn khéo, là vực thẳm của những kẻ yếu hèn”, ông muốn nhấn mạnh ở nơi chúng ta một sự quyết tâm vượt mọi gian khổ để có được sự thành công. Đó cũng là một cái nhìn thực tế, khoa học về cuộc đời. Có cái nhìn ấy, con người có thể đương đầu nghịch cảnh, thách thức gian nguy, coi thường khốn khổ để tự khẳng định bản lãnh của mình.

Điều đáng tiếc là hằng ngày ta vẫn thường gặp quanh ta những người sau một lỗi lầm nào đó, thua thiệt nào đó đã để đời mình đi sâu vào sự tự hoại. Hãy nghĩ như Tú Xương:

Những kẻ nên khôn đều có dại,
Làm người có dại mới nên khôn!

và tìm mọi cách vươn lên. Một người lỡ ghiền ma túy tự thấy như mình đã hư hèn rồi, đã bị mọi người coi rẻ, ngờ vực, và cứ thế mà buông xuôi trong một cái chết dần mòn. Nhưng nếu họ biết phấn đấu mãnh liệt với mình để chiến thắng mọi sai lầm thì sự vươn lên của họ sẽ tạo cho họ một bản sắc mới, và gia đình cũng như xã hội sẽ biết khâm phục sự đổi đời ấy. Xin đừng để cho mặc cảm tự ti xô đẩy ta vào ngõ lối tiêu cực. Một trong những triết gia lớn hiện đại đã nói như sau: “Là người, chúng ta luôn bị dày vò bởi những mặc cảm tự ti và nhờ chống lại những tình cảm ấy mà ta có thể vươn lên những tình cảm cao cả hơn”.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 561

Ý Kiến bạn đọc