Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga

Kỷ Niệm 77 Năm Ngày Cách Mạng Tháng Tám Thành Công (19/8/1945 – 19/8/2022)

 

Với tuyên bố “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945), Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khiến các nước đế quốc run sợ trước hiện thực hệ thống thuộc địa trên thế giới sẽ bị lung lay và dần tan rã.

Thắng Lợi Đầu Tiên Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Ở Một Nước Thuộc Địa

Vào tháng 6/1924, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là đại biểu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, đã khẳng định sức mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đang tập trung ở các thuộc địa: “Tất cả các đồng chí đều biết rằng hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng”(1) .

Trong Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) tập hợp các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1921 đến 1924, chủ nghĩa tư bản là “một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”(2) .

tapchi37--Su-kien-quan-trong-nhat-trong-lich-su-the-gioi-tu-sau-Cach-mang-Thang-Muoi-Nga---Anh-3
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập,
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Nguồn: TTXVN)

Thực hiện đúng lời kêu gọi của “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” của V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) đã cho rằng “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”(3) và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(4).

Trong cương vị là thành viên Ban Phương Đông, Ban của những dân tộc thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biến khẩu hiệu của V.I. Lênin “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” thành hiện thực với “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” (1921), “Hội những người bị áp bức” (1925). Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người đã viết: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm cách mệnh giai cấp cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”(5). Chính tư tưởng sáng tạo và linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm nên một cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc Việt Nam.

Để cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi, tiếp thu sáng tạo kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927): “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(6). Người cũng nói rõ thêm, Đảng cách mạng sẽ có nhiệm vụ “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức, vô sản giai cấp ở mọi nơi”(7). Chính từ những tiếp thu này, Người đã hợp nhất các tổ chức Cộng sản lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Kể từ đó, đúng như đánh giá của Người, “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”(8).

Với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật nhào sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân đế quốc và phong kiến. Như vậy, đến lúc này, con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra để giải phóng dân tộc đã được chứng minh là đúng đắn. Đúng như Người đã chỉ rõ: “Cách mạng Tháng Tám đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang”(9) và “Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước”(10).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đó là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước thuộc địa. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến thối nát trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đề cập đến ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tại Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng vào ngày 11/2/1951 rằng: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(11). Người cũng nhận định: “Cách mạng Tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập”(12). Trong tác phẩm Ba mươi năm hoạt động của Đảng (6/1/1960), Người nhấn mạnh: “Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, mà cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước thuộc địa”(13).

Tiến sĩ Sanomish Dashtsevel (Mông Cổ) nhấn mạnh trong bài tham luận Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX” tổ chức tại Hà Nội (tháng 9/2000): “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”(14).

tapchi37--Su-kien-quan-trong-nhat-trong-lich-su-the-gioi-tu-sau-Cach-mang-Thang-Muoi-Nga---Anh-2
Sáng 2/9/1995, tại Quảng trường Ba Đình diễn ra lễ mít tinh, diễu binh,
diễu hành kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. (Nguồn: TTXVN)

Thomas Hodgkin, trong cuốn Thế giới bàn về Việt Nam, đánh giá Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện “quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga”(15). Tác giả đã viết rằng: “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”(16).

Ngọn Cờ Cổ Vũ Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc Trên Thế Giới

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn các nước Đồng minh công nhận nền độc lập ở nước ta. Bởi nước ta đã giành được chính quyền từ tay Nhật trước khi quân Đồng minh đổ bộ vào nước ta với cái cớ làm “nhiệm vụ” giải giáp đội quân phát xít này. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Người khẳng định: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(17).

Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), Mỹ muốn lãnh đạo thế giới tư bản để chống lại Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Để lôi kéo các nước tư bản lớn trên thế giới như Anh, Pháp về phe mình, Mỹ bắt đầu ủng hộ các nước này trong việc chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Cuối tháng 8/1945, Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố với Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp Charles de Gaulle đang ở thăm thủ đô Washington rằng nước này không cản trở sự trở lại Đông Dương của Pháp. Ngày 30/8/1945, Đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh (Trung Hoa Dân Quốc) nhận được thông báo từ Bộ Ngoại giao Mỹ là Washington hoàn toàn đồng ý nếu Pháp và Tưởng Giới Thạch có thể thỏa thuận được với nhau về việc Pháp theo chân quân Tưởng vào miền Bắc Việt Nam. Nếu không dàn xếp được với Tưởng Giới Thạch, Mỹ gợi ý Pháp có thể dàn xếp với Anh. Về phía Anh, đô đốc Anh Louis Mountbatten đã khẳng định với tướng Pháp Philippe Leclerc rằng Pháp có thể quay trở lại Đông Dương.

Năm 1947, Mỹ viện trợ cho nước Pháp 3 tỷ USD theo kế hoạch Marshall. Nhờ khoản tiền này, Pháp mới có thể tiếp tục gây chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Pháp đã đưa tới Việt Nam tổng cộng hơn 500.000 lượt binh sĩ tới từ Pháp và các nước thuộc địa của Pháp. Kết quả là quân Pháp có khoảng 75.000 lính thiệt mạng, 64.000 lính bị thương và có tới 40.000 lính bị bắt làm tù binh. Tổng cộng trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Pháp đã chi khoảng 3.370 tỷ Franc – tương đương với khoảng 80 tỷ USD theo tỷ giá năm 2015. Tuy nhiên, từ năm 1953 trở đi, số tiền chiến phí của Pháp ở Đông Dương là quá lớn và Pháp hoàn toàn không có khả năng chi trả và phải dựa vào phần lớn sự viện trợ của Mỹ. Từ 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam đã vượt quá 3,5 tỉ USD. Tướng Pháp Henri Navarre sau này viết trong hồi ký rằng: “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) của dân tộc Việt Nam, đồng chí William Foster, Chủ tịch Đảng Cộng sản Mỹ, đã viết trên tờ Công nhân nhật báo ra ngày 10/5/1954 như sau: “Thất bại này không những chỉ là thất bại thảm hại của riêng thực dân Pháp, một kẻ đã cố liều mạng để âm mưu xâm chiếm đất nước Đông Dương giàu đẹp mà trước hết là thất bại lớn lao của kế hoạch chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ… Thắng lợi ở Điện Biên Phủ là một sự cổ vũ vô cùng to lớn cho các lực lượng đang đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, đồng thời sự phát triển ở Đông Dương trong giai đoạn gần đây đã thúc đẩy và làm tăng cường phản kháng cái chính sách khống chế tàn bạo của Mỹ ở các nước tư bản khác”.

Năm 1955, chỉ một năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội nghị 29 nước Á – Phi đã họp ở Bandung (Indonesia). Lần đầu tiên trong lịch sử những dân tộc hàng trăm năm bị gạt ra ngoài rìa lịch sử đã liên kết lại để công khai lên án chủ nghĩa thực dân và hợp tác giúp đỡ nhau vì mục đích hòa bình, độc lập dân tộc. Tại hội nghị này, các đại biểu Việt Nam đã được chào đón như những người anh hùng. Kết quả, chỉ 4 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1960 đã đi vào lịch sử nhân loại với tên gọi “Năm châu Phi” với 17 nước châu Phi đã tuyên bố độc lập. Đến 1968, có tới 39 nước ở châu lục này (gồm 85% lãnh thổ và 93% dân số) đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc.

Sau khi Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ (7/5/1954), Mỹ đã quyết định hất cẳng Pháp để thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành “thuộc địa kiểu mới” và tiếp đó là tấn công vào miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tham vọng của Mỹ là muốn xóa bỏ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và vai trò cầm quyền của Đảng ta – những thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Theo thống kê, từ năm 1965 đến tháng 1/1973, Mỹ đã huy động khoảng 3 triệu lượt quân Mỹ sang miền Nam Việt Nam để khởi động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ở đỉnh cao trong thời kỳ 1968-1969, có 638.000 quân Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (chiếm hơn 18% tổng số quân Mỹ lúc đó), trong số này có 535.000 quân Mỹ đóng ở miền Nam Việt Nam. Riêng về bộ binh, Mỹ đã huy động gần 70% tổng số bộ binh trong quân đội. Tuy nhiên, sau Hiệp định Paris (27/1/1973), Mỹ buộc phải rút hết quân đội khỏi miền Nam Việt Nam vào tháng 3/1973. Kết quả, hơn 58.000 quân Mỹ thiệt mạng và 305.000 lính Mỹ bị thương tật trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam. Mỹ cũng đã tiêu tốn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 400 tỷ USD, gấp 20 lần chi phí của Mỹ trong chiến tranh ở Triều Tiên và gấp 2 lần chi phí của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai (250 tỷ USD). Báo Asahi Shimbun (Nhật Bản) ngày 1/5/1975 đã viết trong một bài xã luận “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng giải phóng, điều đó nói lên rằng, thời đại mà các nước lớn dùng sức mạnh bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt rồi”.

Do đó, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đúng như khẳng định của V.I. Lênin: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”(18).

Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc. Đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia của Liên hợp quốc thuộc tất cả các châu lục, trong đó, 17 đối tác chiến lược (3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện; có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng đang là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong ASEAN và nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc. Năm 2020, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới(19). Năm 2021, tăng trưởng GDP của nước ta đạt 2,58%(20). Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2021 vượt mốc 668,5 tỉ USD, đưa Việt Nam thành 1 trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới(21).

Việt Nam từng đảm nhiệm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, 2020-2021. Việt Nam cũng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 7/2008, 10/2009, 1/2020, 4/2021. Việt Nam hiện là một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 (nhiệm kỳ 2022-2023) đại diện cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Kết quả này phản ánh sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam sau quá trình dài đóng góp vào hòa bình, an ninh thế giới. Bên cạnh đó, Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng được thành lập vào năm 2013 và sau đó nâng cấp thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam vào năm 2018. Thời gian qua, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi.

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vào năm 2021”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Huế, ngày 12/7/2022

Nguyễn Văn Toàn
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 37

——————–
Chú thích:

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.296.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.298.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.36.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.36.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.287.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.304.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.268.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.401.
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.53.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.629.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.25.
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.160.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.453.
(14) “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Hội thảo quốc tế, Hà Nội, 2000, tr.3-4.
(15) Thomas Hodgkin, “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học – Xã hội, Hà Nội, 1976, tr.224.
(16) Thomas Hodgkin, “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học – Xã hội, Hà Nội, 1976, tr.224.
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.557.
(18) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 27, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.145.
(19) TS Nguyễn Minh Phong – TS Nguyễn Trần Minh Trí, “Vị thế và cơ đồ kinh tế Việt Nam”, Báo Nhân Dân điện tử, cập nhật ngày 10/1/2021.
(20) Xem: https://dangcongsan.vn/kinh-te/tang-truong-gdp-nam-2021-uoc-dat-2-58-600901.html
(21) Ngọc An, “Việt Nam vào top 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất”, Báo Tuổi Trẻ điện tử, cập nhật ngày 1/1/2022.

Ý Kiến bạn đọc