Tản văn

Sự đạo tôn

Mấy vị quan dừng lại đầu ngõ, cởi mũ cánh chuồn, thay phẩm phục bằng lớp áo dân thường rồi im lặng đi vào một gian nhà nhỏ, trong đó một thầy đồ đang ngồi vuốt râu, đọc sách. Đứng trước người thầy già nua, cả đám mọp đầu chào: “Chúng con kính lạy thầy!”… Rồi tiếng đọc bài vang lên ê a, tiếng cười giòn tan của mấy thầy trò tỏa khắp gian nhà nhỏ…

Chuyển qua một cảnh khác. Trên sân khấu, một chàng thư sinh đang hướng về gian nhà giấy ba gian, xá dài: “Lệnh thầy đã dạy, con dù có nát thân nào dám không tuân!”. Rồi sân khấu sáng lòa, sấm sét, chớp lóe rền trời, anh học trò vẫy nghiên mực lên trời cho trận mưa ào ào rơi xuống. Từ hậu trường một mảnh lụa trắng toát được kéo ra, giữa có một chữ “Tâm” màu đỏ chói…

Đó là hai hoạt cảnh tôi từng dàn dựng cho học trò biểu diễn trong những ngày 20/11 khi còn đứng trên bục giảng. Bao nhiêu năm rồi tôi vẫn nhớ như in. Ông thầy trên chính là Bạch Vân Cư Sĩ, là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người đã dạy nên những môn sinh lừng lẫy một thời như: Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh… Để thể hiện lòng tôn trọng thầy, đám học trò dù làm quan lớn tới đâu trong triều mỗi khi đến am Bạch Vân đều bỏ võng lọng, áo mũ đi vào như vậy.

tranh-dan-gian---thay-do-coc
Tranh dân gian – Thầy đồ cóc.

Ông thầy trong cảnh dưới là “Vạn thế sư biểu” Chu An (Chu Văn An). Tương truyền sau khi dâng “Thất trảm sớ” xin chém đầu 7 tên lộng thần thất bại, ông về quê dạy học và uy danh vang động đến cả quỷ thần. Gặp năm hạn hán mất mùa ông đã than thở cùng một môn sinh kì lạ và người môn sinh vốn là một thần sông kia đã liều chết làm mưa trái luật trời để giúp đỡ dân làng.

Những kẻ sĩ kia dù “lực bất tòng tâm” lúc làm quan thì khi về ở ẩn cũng chọn thái độ “Minh triết bảo thân” để nêu gương sáng cho học trò và đào tạo nên những anh tài đóng góp cho non sông.

Những câu chuyện xưa cứ hư hư thực thực như truyền thuyết mà tôi đã cố vận dụng để ươm hạt giống “Tôn sư trọng đạo” cho đám học trò. Nhưng, những hạt giống ấy có nẩy mầm không? Những cố gắng của các thế hệ thầy cô đã gặt hái được gì? Trong cuộc đời đi dạy hơn 30 năm, có lẽ tôi là một trong những người may mắn có được nhiều lứa học trò có tình có nghĩa. Những học trò không bao giờ ngoắt đầu đi khi chạm mặt thầy cô. Để rồi mỗi năm, Tết đến, cô trò có thể ngồi bên nhau nhắc lại “Chuyện đời xưa”.

Ừ, bây giờ nhiều thầy cô trẻ vẫn coi chuyện tôi kể là “Chuyện đời xưa”! Bởi học trò giờ khác lắm, những chuyện xưa tích cũ như vậy không động vào lòng chúng đâu! Có thật vậy không? Sao mỗi lần đi qua cổng trường tôi vẫn thấy những nét cười tươi rói đó, sự hồn nhiên của tuổi nhỏ đó… Lẽ nào những tâm hồn trong sáng ấy đã lớm chớm vết đen?

Một phụ huynh quen biết có lần phát biểu “Thầy nào trò nấy”. Câu nói nghe mà chạnh lòng. Có lẽ vị ấy quên tôi từng là cô giáo? Lại nghĩ về cái nghề người xưa vẫn hay gọi là “Gõ đầu trẻ”. Cái tên gọi đã tỏ rõ uy thế của người thầy một thuở nào xa lắc. Từ đó nghĩ lan man về những đồng nghiệp của mình hôm nay. Ngày đêm vùi đầu trong từng trang giáo án, vùi đầu trong bao nhiêu văn bản, sổ sách chất chồng, ngày càng cao như núi. Vậy mà khi có “những con sâu làm rầu nồi canh” thì bao nhiêu công lao vất vả bị mất trắng, đến nỗi cái từ “Tị nạn giáo dục” trên miệng một số phụ huynh ngày càng trở nên phổ biến nhằm minh họa một cách tàn nhẫn cho sự “xuống cấp” của nền giáo dục hiện tại.

Những ngày lễ hiến chương nhà giáo hằng năm tôi đều trở về trường cũ. Đó là mái trường tôi đã trải qua một thời áo trắng tươi đẹp và được may mắn trở về đứng trên bục giảng hơn 30 năm. Thế nên dù có ra sân trường dự lễ hay không tôi cũng lần bước theo dãy hành lang quen thuộc như còn ấm dấu chân mình rồi leo lên chiếc cầu thang gỗ tìm đến phòng truyền thống. Giữa phòng bàn thờ “Sư đạo tôn” vẫn nghi ngút khói hương, trên miếng kính lớn hình vuông, mấy tấm bảng nhỏ khắc tên các thầy cô quá vãng càng ngày càng nhiều hơn, dài hơn khiến đứa học trò cũ là tôi cứ tiếc nhớ, ngậm ngùi. Hai chữ “Ân Sư” được lồng trong khung kính bên cạnh cũng an ủi tôi phần nào. Ừ, trên tấm kính trước bàn thờ kia có biết bao thầy cô từng đứng trên bục giảng, từng dạy dỗ bao thế hệ học trò cho ngôi trường này. “Lương sư hưng quốc”, chữ nghĩa một thời lấp lánh, sáng ngời. Và “Sư đạo tôn”, truyền thống muôn đời đẹp đẽ vẫn còn đây.

Thắp 3 cây nhang trước bàn thờ, hoài niệm hình ảnh các thầy cô cũ với cảm xúc rưng rưng, lòng tôi chỉ muốn nói với các vị ân sư một câu nói chân tình:

- Cảm ơn thầy cô, thầy cô đã cho con hiểu được sự cao cả của người thầy, hiểu được vẻ đẹp của tình thầy trò.

Nguyễn Ngọc Tuyết
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380

Ý Kiến bạn đọc