Truyện ngắn

Sự biến trong một giờ

KHU NHÀ CÔNG CHỨC

Trước đây, nơi này là một khu phố nghèo. Đó là một dãy nhà gần 100 căn – gồm những ngôi nhà cấp 4. Tất cả các gia đình ở trong những căn nhà ấy dường như có cùng một trạng thái kinh tế: Nghèo. Nhiều năm sau, vật đổi sao dời, chen lẫn trong dãy nhà cấp 4 ấy, nhiều nhà đã vươn lên thành nhà cao tầng, cửa kính chịu lực bóng loáng – như một sự ngăn cách giữa hai thế giới: Bên ngoài xô bồ, đầy nhúc vi trùng; bên trong nhà tĩnh lặng, vô trùng và cách biệt. Dân ngụ cư ở đây nay đã trở thành dân thành phố. Nhà ai nấy ở. Không còn không khí thân mật như ngày xưa. Ngày xưa, tất cả từ nông thôn ra, nhất cử nhất động chuyện của mỗi gia đình, cả xóm đều quan tâm đến, chộn rộn thăm hỏi, chia sẻ nhau từng khúc củi chụm, từng bó rau nhỏ… Đám cưới, đám giỗ có thể ngồi chè chén, say sưa, tán gẫu chuyện trên trời dưới đất thâu đêm suốt sáng. Có thể nói một đám nhà quê từ bưng biền, theo chân lính cách mạng về ngụ cư một vùng phố thị đồng thời mang theo cả đời sống chân quê. Rồi đời sống nông thôn của họ dần nhạt đi vì đời sống phố thị hào nhoáng ngày càng xâm lấn. Những đứa trẻ sinh ra sau này, hoàn toàn chấm dứt đời sống nông thôn, không còn một chút gien di truyền nào kể cả trong kí ức sâu thẳm về một cánh đồng nào đó mà ba mẹ chúng đã xuất thân.

Đặc biệt, khu phố này rất an toàn, thanh bình, yên ả. Trước mặt phố là con đường cán nhựa láng bóng, hai bên đường trồng cây xanh tán rộng, ít xe cộ qua lại. Đa số dân sống ở đây đã trở thành công chức, không muốn va chạm, cãi vã. Quanh năm suốt tháng không nghe ai bị mất cắp, dù một đôi dép hay chiếc xe đạp.

THÀNH VIÊN MỚI TRONG GIA ĐÌNH

Hai vợ chồng Dung đồng cảnh xuất thân với cư dân xóm công chức. Họ là thế hệ sau. Họ được sinh ra tại thành phố và có một căn nhà trong khu phố này. Tổ ấm của họ đang chuẩn bị có thêm một thành viên dễ thương và quan trọng nhất trên đời. Dung có thai sắp đến ngày sinh. Dung suy nghĩ hoài và cảm nhận được sự kỳ diệu của tạo hóa. Hai người ở với nhau rồi sẽ có thêm một người, rồi thêm một người nữa. Cứ thế con người trên trái đất này sinh sôi nẩy nở.

Hanh-phuc---Tran-Minh-Chau
Hạnh phúc – gò đồng – Trần Minh Châu.

Dung hạ sinh một thằng bé kháu khỉnh. Chồng Dung vì bận công tác nên chỉ ở bệnh viện với Dung đúng một ngày. Mọi công việc chăm sóc Dung sau khi sinh nở đều phó thác cho bà Ba – người đàn bà giúp việc cho gia đình Dung.

Kỳ lạ thay, dù không bà con dòng họ nhưng gương mặt bà Ba bỗng bừng sáng, đắm say khi nhìn thấy đứa bé. Bà ôm nó vào lòng như ôm một báu vật. Bà nhìn nó, bà cất tiếng cười lanh lảnh. Dung biết, bà thương yêu trẻ con, nhưng giọng cười của bà khiến Dung rất khó chịu. Trời không cho bà cái duyên, từ gương mặt, giọng nói, cách ứng xử… luôn làm cho người ta xa lánh bà. Duy chỉ trẻ thơ không cảm nhận được điều đó. Thằng bé, con của Dung, mừng rỡ, chòi đạp khi thấy bà đến gần.

Cái nhà này thật lạnh, ngoài Dung ra không ai nói chuyện với bà. Chồng Dung bận rộn suốt ngày. Khi về nhà, gặp bà anh luôn sai bảo việc này việc kia. Đúng là cái không khí khó chịu của một gia đình trí thức. Làm việc và làm việc. Không muốn người mình thuê có một chút rảnh tay, thong thả. Lạnh nhạt, xa cách khi có một người lạ nào lọt vào trong gia đình. Nó không thể nào hòa nhập, kể cả những người giống nó. Nó chỉ duy trì trạng thái lịch sự, khéo léo giả tạo trong một thời gian trong giới hạn sức chịu đựng của nó. Cái phóng khoáng, hào sảng xuất thân từ gốc nông dân đã hoàn toàn mất tích. Đối với bà Ba cũng thế, lẽ ra Dung có thể coi bà là người thân trong gia đình, nhưng điều đó thật khó khăn, những kháng thể về tình cảm trong Dung luôn tìm cách đẩy bà ra xa. Thỉnh thoảng trong thâm tâm Dung còn có đôi lần suy nghĩ, nếu tìm được người thay thế, Dung sẽ cho bà nghỉ việc. Là nghĩ thế, dẫu sao có sự hiện diện của bà, gia đình Dung luôn có sự náo động và đôi khi kịch tính xảy ra thật bất ngờ. Thái độ ngang tàng của bà, lúc thì giận dỗi quát nạt cả gia chủ, liền sau đó cười vui như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Đôi khi bà tâm sự, bộc bạch không hề giấu giếm chuyện gia đình với giọng buồn buồn… Những điều ấy sao ngày càng dễ cảm thông và trở nên thú vị. Có hôm, bà bị bệnh không đi làm, Dung trông đứng trông ngồi. Không phải trông bà tới để rửa mâm chén, giặt thau quần áo, dọn dẹp cái nhà cho gọn ghẽ… mà trông đợi vì sự thiếu vắng, nhớ nhung một người thân trong gia đình, thiếu vắng tiếng cười lanh lảnh khi bà nựng nịu thằng bé, con của Dung.

MẤT TÍCH

Dung run rẩy chụp điện thoại, gọi cho chồng:

- Thằng bé đang ngủ trong phòng ngủ. Em ra sân sau phơi quần áo, trở lên nhà trên, con mất tiêu. Con bị ai bắt rồi, anh ơi!

Dung thất thần. Hai bàn tay run lẩy bẩy, mặt mày xanh lét, muốn xỉu. Cơn hoảng loạn chạy từ nhà sau ra nhà trước, xộc vào từng góc nhà, chui vào những gầm giường, mở toang những cánh tủ… như thằng bé đang trốn ở đâu đó, dù thằng bé chỉ mới 6 tháng tuổi, chưa biết đi. Dung điên dại chạy ra đường, khóc la, gào thét: “Cứu tôi với, con tôi bị mất tích rồi!”.

Thoạt đầu, dãy nhà công chức vẫn im lìm. Sau, từ tốn mở cửa nhìn người đàn bà điên dại. Sau nữa, nhận ra người đàn bà đang khóc lóc thảm thiết vật vã kia là người láng giềng. Họ đổ dồn về phía người đàn bà.

Từ tòa soạn báo, chồng của Dung tức tốc điện cho Phòng Cảnh sát hình sự, rồi anh phóng xe như bay về nhà. Tổng biên tập của anh vội triệu tập tổ phóng viên điều tra giỏi nhất, vào cuộc ngay tức khắc.

Nhân viên điều tra lập tức có mặt, lập hàng rào phong tỏa hiện trường và tổ chức lấy lời khai ban đầu một cách chớp nhoáng:

- Đứa bé mất tích lúc mấy giờ?

- Trong nhà lúc ấy có ai?

- Lúc đó chị ở đâu? Chị có nghe tiếng động gì khác lạ không?

- Nhà chị gồm những ai?

- Chị có gây thù chuốc oán với ai không?

- Chồng chị có chung thủy không?

- Có ai thù ghét anh chị không?

- Khi đứa bé mất tích, chồng chị ở đâu?

Những câu hỏi lạnh lùng, những câu hỏi bâng quơ, những câu hỏi không ăn nhập gì với sự lo lắng điếng người của gia chủ, những câu hỏi tỉ mỉ, dài dòng, lê thê làm chị muốn phát điên. Không thể kiềm chế, chị hét lên một cách thống thiết: “Tôi lạy các anh, các anh đừng hỏi nữa. Xin các anh tìm ngay con tôi. Một đứa trẻ 6 tháng tuổi bị bắt cóc, ai chăm sóc nó, ai cho nó ăn, tính mạng nó sẽ ra sao?”. Vừa gào xin các điều tra viên vừa liên tưởng đến đứa con trai nhỏ của mình đang bị vất ở một xó nhà hoang nào đó, cả người nó bây giờ đã tím lạnh. Dung lại ngất. Một người dìu đỡ chị nằm trên giường. Hai nhân viên điều tra ngồi im, mặt họ lạnh như băng.

Dung chợt rùng mình. Gương mặt của điều tra viên tương tự gương mặt của chồng nàng khi làm việc. Chồng chị, không chút cảm xúc khi anh thực hiện công việc điều tra của một nhà báo. Khôn ngoan, lạnh lùng, sắc sảo khi anh lăn vào thế giới tội phạm để viết những thiên phóng sự nóng bỏng. Bản lĩnh anh không thua một cảnh sát hình sự dày dạn kinh nghiệm. Thậm chí, có nhiều vụ án, anh phải vẽ lược đồ về mối quan hệ giữa các nhân vật tội phạm với nhau, từ đó anh thiết lập các tuyến điều tra. Có những số báo đã từng giật tít: “Nhà báo N. người từ hang ổ của bọn tội phạm trở về”, đó là phóng sự nhiều kì của anh. Tia-ra báo nhờ đó tăng lên khủng khiếp. Thế mà, giờ đây anh bủn rủn, đầu óc tê liệt như một gã thư sinh yếu đuối đang gặp tai biến bất ngờ. Anh hốt hoảng, chạy đôn chạy đáo, quỳ lụy công an, nhờ vả đồng nghiệp hãy tìm cách giải thoát cho đứa bé. Anh không thể định tâm để phân tích, sắp xếp các bằng chứng, các dữ liệu. Anh như con rối, chạy xe vòng vòng từ phố này qua phố khác, mặt mày ngơ ngác, dáo dác tìm xem con anh có đang bị vất ở góc phố nào đó không. Anh đi không, về không. Rồi anh cầu cứu đến Chúa, đến Phật. Anh hi vọng một sự tình cờ nào đó, anh trông thấy con anh, mình mẩy nó lem luốc đang liêu xiêu khóc khản tiếng, đói khát kiệt sức ở một góc phố vắng nào đó. Anh sẽ nhào tới ôm đứa bé vào lòng rồi mang về nhà như một chiến tích vĩ đại trong cuộc đời anh, một chiến tích vô tiền khoáng hậu.

Mơ ước một phép lạ: tiếng khóc của đứa trẻ bỗng dưng xuất hiện trước cửa nhà, cả nhà sẽ xô ra, bừng tỉnh, thoát những phút giây địa ngục, khủng khiếp này. Nếu không tìm thấy đứa bé, cuộc đời còn lại của vợ chồng anh là một sự đầy đọa khôn nguôi. Có gia đình nào sẽ sống hạnh phúc trong quãng đời còn lại không, khi họ có một đứa con bị mất tích? Bây giờ, mỗi giây là một kinh hoàng vẫn tàn nhẫn trôi qua một cách chậm chạp. Không có tín hiệu của hi vọng, không chút tin tức nào từ phía cảnh sát. Tổ phóng viên nội chính của tòa soạn nổi tiếng bách chiến bách thắng, nhưng trong vụ mất tích này vẫn bặt vô âm tín. Gia đình anh sống rất khép kín, khi sự biến xảy ra, người ta phải lần mò từng mối quan hệ của gia đình anh. Hàng xóm cũng không thể cung cấp thông tin cho nhà chức trách. Người ta chỉ biết ở đó có một gia đình công chức – một nhà báo. Thế thôi. Không một thông tin nào khác. Không một sự chia sẻ nào khác. Người ta không biết lần vào mối chỉ nào để chân thành chia sẻ với anh. Một biến cố thật xót xa. Láng giềng muốn góp một tiếng nói, một lời an ủi đỡ đần tinh thần cho gia đình anh trong lúc nguy khốn này, nhưng họ cũng không biết bắt đầu từ đâu, nói như thế nào.

Không có mối chỉ nào cả, mối quan hệ cuộc sống của gia đình này quá khép kín, khiến các điều tra viên không biết đâu mà lần, chẳng thà nó là một nùi chỉ rối, từ từ xở gỡ từng mối, cũng còn hơn… Đằng này, nó lại trong veo, không có đầu dây mối nhợ nào…

Làm sao bây giờ, anh ơi! Dung rên xiết, đau đớn, lả người trong nỗi đau đớn đến tận cùng. Còn anh thì tê dại, hoàn toàn mất cảm xúc, đầu óc thì tối sầm, hoàn toàn không thể suy nghĩ. Anh sẵn sàng quỳ lụy cầu xin bất cứ ai, kể cả kẻ thù để tìm được con anh.

Don-doc---huynh-Minh-Duc
Đơn độc – sơn dầu – Huỳnh Minh Đức.

NHÂN VIÊN ĐIỀU TRA THẨM VẤN NHÀ BÁO

- Những cuộc điều tra chống tội phạm anh đã đụng chạm đến những ai? Anh có nghi ngờ ai trả thù anh không?

- Tư Đấu, người anh mới đưa vào tù, đã đe dọa trả thù anh phải không?

- Những bài báo của anh khuếch đại, làm trầm trọng thêm tội lỗi của Tư Đấu, phải không?

- Anh muốn chứng tỏ anh là một nhà báo trẻ, có tài, có lí tưởng?

- Anh muốn làm Tổng biên tập? Anh muốn làm đại biểu Quốc hội? Bây giờ, anh có cần điều đó không?

- Anh thường công khai quan điểm của mình: Mỗi người nên làm Tổng biên tập trong thời gian 5 năm, nếu kéo dài hơn thì phong cách tờ báo sẽ lặp lại sự nhàm chán cũ kỹ?

Tôi yêu nghề làm báo, không vì địa vị, không vì thích nổi tiếng, không vì tiền bạc.

Đối với Tư Đấu, tôi có một chút ác cảm. Tôi có thể thân thiện với nhiều người, nhưng không thể thân thiện với ông ta. Ông ta cũng thế, ông ta cũng có cảm giác rằng không thể thân thiện với tôi. Bạn cùng học cùng cấp lớp, từ trung học đến đại học. Thân phụ ông ta qua đời lúc ông ta còn đang học đại học. Ông ta đã nói với tôi: “Nhiều khi mình muốn làm một tên giang hồ”. “Tại sao?”, tôi ngạc nhiên hỏi. Ông ta trả lời, giọng khô khốc, uất hận: “Ba tôi vừa mới mất, do sự tắc trách của bác sĩ. Luật pháp không thể xử. Vì giấy tờ, chứng lí khoa học về cái chết của ba tôi, trong bệnh án có đủ: Phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim. Nếu tôi là một tên giang hồ, tôi sẽ xử thằng bác sĩ này. Vì khi nhập viện ba tôi còn rất tráng kiện. Nhiều khi trên đời này người ta phải cần đến luật rừng. Hiệu quả tức thì. Thằng bác sĩ đó sẽ lạy lục và thú tội trước mặt tôi”. Gương mặt ông đanh lại, thù hận ngút trời. Thân phụ ông ta đã chết một cách oan ức vì bác sĩ đã chỉ định mổ một cách sai lầm, mà ông ta không thể nào khiếu nại về cái chết oan ức của cha mình.

Nghe ông ta nói thế, lúc ấy dường như một thoáng, tôi đã rùng mình, sợ hãi.

Nay, tôi là trưởng phòng thời sự của một tòa soạn báo. Ông ta là Tỉnh ủy, là giám đốc một Sở lớn. Ông ta đã nhận hối lộ để tạo điều kiện cho một công ty xây dựng thân thiết, sân sau của ông ta, trúng thầu công trình nghĩa trang lớn nhất của thành phố. Sự việc bị phanh phui. Có chứng cứ đàng hoàng. Biên nhận tay. Băng ghi âm. Nhân chứng. Vật chứng. Ông ta biết tòa soạn phân công tôi theo đuổi vụ án này ngay từ đầu. Thế mà tuyệt nhiên ông không hề gọi điện thoại cho tôi. Chỉ một cú điện thoại nhân danh tình bạn, thì ngôn từ bài báo của tôi sẽ nhẹ nhàng, khéo léo hơn, sự việc có thể ngả sang một chiều hướng khác có thể ông sẽ bị cảnh cáo thay vì cách chức và vào tù, như bây giờ. Tôi muốn chứng tỏ, dù địa vị xã hội của tôi thấp hơn ông ta, nhưng tôi vẫn rất mạnh. Ngòi bút của tôi là một trong những cây bút chi phối dư luận xã hội, chi phối đời sống chính trị. Vai trò của báo chí hiện nay thật khủng khiếp. Người làm chính trị khôn ngoan, trước tiên phải nắm báo chí, nắm các cơ quan truyền thông. Thờ ơ, lạnh nhạt với cơ quan truyền thông, lập tức các cơ quan truyền thông sẽ tỏ thái độ lạnh nhạt với chính trị, nó như tấm gương phản ánh một cách chân thực sự ứng xử của chính trị đối với báo chí. Trong thâm tâm, tôi muốn ông ta thừa nhận sức mạnh của tôi. Bản chất vấn đề vẫn thế, nhưng thủ pháp giật tít, quan trọng hóa sự kiện, sự biến tấu của ngôn từ, hành vi của ông ta đã xúc phạm đến hương hồn các liệt sĩ, chĩa mũi nhọn vào lương tâm của người đang sống. Phong trào chống tham nhũng đang hồi gay gắt, trường hợp của ông rơi vào thời điểm người dân đang chờ xem chính phủ sẽ chống tham nhũng như thế nào, có nói hoài mà không làm như những lần trước không. Ông ta lại tham nhũng trong một công trình hết sức nhạy cảm. Bài báo của tôi lúc này tương đương với một binh đoàn nã súng vào ông ta.

Ông ta phải gục.

Là lẽ đương nhiên.

Từ lâu, với độc giả, tôi là người quá nổi tiếng. Dư luận đang muốn tôi trở thành dân biểu để chống lại sự bất công của xã hội, bênh vực kẻ thế cô. Trong mùa bầu cử này, đã kiểm phiếu xong, chỉ chờ công bố chính thức, còn một bước thủ tục rất ngắn nữa, tôi sẽ ngồi vào ghế Quốc hội. Qua màn hình tivi các cử tri sẽ chứng kiến những lời phát biểu chống cường quyền đầy nguy hiểm và bất trắc đối với chính bản thân tôi. Tôi sẽ không khuất phục bất cứ một thế lực nào. Sinh mệnh của tôi cầm bằng như chẳng có.

Tư Đấu là người có học. Ông ta là một người làm chính trị bẩm sinh, sao ông ta lại quên tầm ảnh hưởng của báo chí? Hay ông ta quá mạnh, quá nhiều tiền, nên đủ tự tin để thu xếp việc này cho yên ổn. Chính vì những bài báo của tôi, khiến những cú gõ cửa ngoạn mục và bất ngờ của ông ta, thường khi rất có hiệu lực, nhưng bây giờ thì không. Chẳng ai dám mở cửa giúp ông ta trong hoàn cảnh khốn cùng này. Sau cùng, chính những bài báo của tôi đã góp phần đẩy nhanh Tư Đấu vào chốn sa cơ. Sau khi vào tù, ông ta đã có thời gian nghiền ngẫm các mắt xích. Ông ta chợt ngộ ra, ông ta bị sai hỏng ở mắt xích dư luận. Ông ta đã không làm động thái xoa dịu dư luận, vì quá tin vào sức mạnh quyền thế của mình.

Từ trong nhà giam đã có một tin đồn lọt ra ngoài rằng: Tác giả bài báo sẽ phải trả giá. Tin đồn vu vơ, mơ hồ. Có thể của một kẻ nào đó muốn đe dọa tôi. Từ đó, dư luận càng chú ý đặc biệt đến tôi. Tôi không quan tâm. Sẩy chân, ông ta nên chấp nhận thua cuộc. Sự thua cuộc của một trí thức. Lẽ nào ông ta rắp tâm thù tôi, tổ chức bắt cóc con trai tôi? Hơn nữa, hiện nay ông ta còn đang ở trong tù. Ông ta có thể thò tay ra khỏi song sắt nhà giam sao? Công trình nghĩa trang liệt sĩ, xương máu của nhân dân, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, ông còn xén bớt huống hồ một cuộc bắt cóc cỏn con? Luật pháp không thể xử những ngôn từ nước đôi của báo chí. Chỉ có dân giang hồ mới xử được, theo quan niệm của ông ta? Ông ta muốn cho tôi biết thế nào là sự đau đớn.

Cảm xúc, cảm hứng khi chữ nghĩa tung hoành trên trang giấy làm cho tôi cảm thấy thăng hoa bay bổng, đó là niềm đam mê thú vị về mặt tinh thần. Nó rất khác với niềm vui khi người ta đạt được một địa vị, hay khi nhận được một món tiền lớn. Những câu, những chữ, những ngôn từ bay bổng, tác động đến độc giả, dư luận ngả theo quan điểm của bài báo, thế là giới chính trị, giới hành pháp không thể làm khác được, trong nhất thời phải nương theo dư luận. Bản án đối với ông ta có nghiêm khắc, có quá đáng không? Từ cảm xúc đến chữ nghĩa đến bản án, liệu có còn logic, có còn công minh? Liệu chữ nghĩa của tôi đã nhuốm mùi tội phạm? Từ lâu, tôi có một cảm giác rất mơ hồ, trong những bài báo của tôi đâu phải ngôn từ nào cũng chính xác. Nó biến hóa, bốc đồng theo cảm giác, theo đó là sự hưởng ứng nhất thời và quá đà của dư luận. Nhưng đó là chữ nghĩa. Chỉ có phù thủy của ngôn từ mới có thể làm cho chữ nghĩa nhảy múa theo ý mình. Kỳ dư, đều bị cuốn theo sự mê hoặc của con chữ. Đó là công việc, và đó cũng là trò chơi. Như con dao hai lưỡi. Lưỡi nào cũng bén ngót. Phải chăng con dao ấy đã ngoáy xoáy, thọc sâu vào tim tôi: Con tôi đã bị bắt cóc. Kẻ bắt cóc không để lại một dấu vết.

Quả báo nhãn tiền chăng?

Bây giờ tôi không cần gì cả. Tôi cần con tôi.

Xin cho tôi miễn trả lời những câu hỏi liên quan đến Tổng biên tập của tôi. Độ nhạy cảm của vấn đề này rất cao. Và, vì ông ấy đang là sếp tôi.

Tôi nghĩ, Tư Đấu đã cho người bắt cóc con tôi.

Nhân viên điều tra: Anh còn nghi ngờ ai nữa không?

Một người nữa, tôi quên đề cập đến, người giúp việc cho gia đình tôi. Bà làm việc nhà mỗi ngày khoảng 1 giờ đồng hồ. Thường ngày tôi không quan tâm đến bà ta. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến sự hiện diện của bà ta trong gia đình này. Bây giờ, bất chợt tôi nhớ đến bà ta. Bà ta nghèo, không nuôi nổi bản thân, bắt cóc một đứa bé để làm gì? Tôi không nghi ngờ bà.

CÔNG VIỆC BÁN THỜI GIAN

Đó là người đàn bà cao lớn, gần 60 tuổi, gương mặt chằng chịt những nếp nhăn, mắt luôn nheo nheo, ánh sáng đồng tử sắc ngọt, có vẻ rất ác. Khi nhìn khuôn mặt của bà, một cảm giác sợ hãi len vào, khiến người ta phải nhìn tránh đi. Bà đi hàng hai, hai vai ngang chàng, sàng qua sàng lại, tướng đi mạnh mẽ. Tính tình ngang bướng, bất chấp phải trái, giống như bà xuất thân từ giới giang hồ. Đang tha thẩn chậm rãi trên đường, bà hồn nhiên tung chân đá tung một cái lon sữa rỗng ai vất nằm giữa đường. Lon sữa bay đi lăn lông lốc trên đường. Điều mà không ai có thể ngờ, một bà già 60 tuổi lại có thể làm một trò trẻ con như vậy.

Bà luôn ăn mặc tươm tất, nhưng sao ở bà dường như tỏa ra một màu của bóng tối. Ánh mắt. Dáng đi. Tiếng cười. Giọng nói. Luôn làm người ta bật ra, khó chịu và xa lánh dù bà đã cố tỏ ra vui vẻ, thân thiện với mọi người. Có lẽ bà cảm nhận được điều ấy. Bởi, đôi lúc bị người ta xử tệ, nghe bà than: “Đời mà. Đối xử ác với tôi, rồi trời cũng trả báo”.

Công việc của bà là dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ thuê cho các gia đình trong khu nhà công chức này. Mỗi nhà vào một giờ nhất định theo thỏa thuận trước. Bà giúp việc nhà cho Dung được 2 năm rồi. Công việc Dung giao cho bà là lau nhà và rửa chén vào mỗi buổi chiều. Bà không bao giờ đúng giờ, khi tới thật sớm, khi gần 7 giờ tối bà mới đến. Nhắc nhở, bà tuyệt đối không nghe. Bà làm theo ý bà, không tuân thủ theo bất cứ một qui tắc nào. Thời buổi này thuê người rất khó, những người làm việc bán thời gian như bà rất hiếm. Đành vậy. Miễn sao không quá đáng, không vượt quá sức của gia chủ, là có thể chấp nhận được. Và bà Ba luôn hiểu rõ giá trị của mình trong thời buổi người giúp việc là món hàng hiếm quí, không ai dám trách cứ hoặc cho bà nghỉ việc, kể cả những khi bà làm thiếu trách nhiệm. Quét nhà, chỉ quét theo đường đi, tuyện nhiên bà không đưa chổi vào trong kẹt, trong hốc. Một tờ giấy trắng bay xuống nằm trên nền nhà, khi bà lau nhà bà chỉ lau quanh tờ giấy ấy, tuyệt đối không nhặt tờ giấy lên. Không những thế, kể cả tờ giấy bạc Dung đánh rơi, bà cũng lau nền nhà quanh tờ giấy bạc, và để y nguyên tờ giấy bạc nằm lặng lẽ vài ngày trên nền nhà, cho đến khi Dung vô tình nhìn thấy, nhặt lên và theo đó là tiếng thở dài: “Cái bà này, làm coi không được”. Nhưng liền đó một ý nghĩ khác choán lấy Dung: Được cái này, mất cái kia, bà không tham. Lẽ ra bà nhặt và lấy số tiền ấy bỏ túi, bà cũng đỡ nghèo được mấy ngày. “Tui dốt cô ơi, giấy tờ của cô tui thấy đâu để đó, sắp xếp chỉ làm lộn xộn thêm, khi cần cô tìm không có”. Thoạt đầu, Dung đã nói với bà: “Nói vậy để chị khỏi mất công dọn dẹp, phải không?”. Bà trừng mắt nhìn Dung: “Cô đừng nói vậy nghe. Tại tính tui vậy đó”.

Nhân, chồng Dung, nhà báo, chuyên viết phóng sự điều tra, ác cảm với bà một cách đặc biệt. Anh đã từng tiếp xúc với nhiều loại tội phạm, quan sát nhiều chân dung của giới này từ trong tù, cũng như ngoài xã hội. Anh đã từng quan sát những gương mặt dữ dằn nhất của những tên tội phạm với sự tò mò, thú vị từ nghề nghiệp của anh. Nhưng riêng đối với người đàn bà giúp việc này, anh không dám nhìn mặt bà lâu, có một chút gì lo sợ, bồn chồn, lo lắng trong anh. Anh không muốn thuê bà, nhưng vì không tìm được ai khác, anh đành chấp nhận, để vợ anh bớt cực nhọc trong công việc nhà. Hơn nữa, vợ anh đang mang thai sắp sinh. Thật là nan giải. Đôi khi, anh đối xử với bà thật thô bạo. Một hôm bà đang ngồi ở phòng khách đọc báo, anh bước tới giật tờ báo trên tay bà: “Làm việc nhà xong, hãy đọc báo”. Anh ném tờ báo lên bàn, giọng anh thật gay gắt, mỉa mai: “Chừng nào chị làm xong công việc, chị có thể ngồi đây đọc báo từ sáng đến chiều”. Rất nhẹ nhàng từ tốn, bà trễ kính đeo mắt, ngẩng nhìn anh thật lâu. Một cái nhìn kinh ngạc, pha chút khinh bỉ, làm anh bị ám ảnh, lo sợ đến mấy ngày. “Đúng là gương mặt phù thủy”. Anh than thầm. Anh có thể đi công tác nhiều ngày mà không phải lo lắng công việc gia đình, vì dẫu sao hàng ngày bà cũng tới lui vừa giúp việc nhà vừa ngó chừng cái bụng bầu của vợ anh. Dung trách: “Anh thật quá đáng, sao anh khinh thường bà quá vậy? Bả cũng biết buồn, biết tự ái vậy. Bả nghỉ, không làm nữa là em cực lắm”. Anh thấy mình cũng tệ thật. Anh cố tìm cho chính mình một nụ cười, một lời nói nhẹ nhàng với bà để chuộc lỗi, nhưng anh thấy gượng gạo, ngại ngùng. Và rồi, ngày qua ngày trôi đi, anh cũng không thể làm được điều đó. Vả lại, anh có cần thiết làm điều đó không?

Nhà bà không thuộc khu phố này. Cách đây vài cây số, nhà bà ở cặp theo bờ sông. Trước đây là một ngôi nhà cất tạm, lúc nào cũng bị đe dọa giải tỏa, nhưng nhiều năm rồi nhà nước chưa có tiền đền bù nên chưa giải tỏa. Cho nên, nhiều nhà đã tu bổ thêm, khá đẹp. Kệ, tới đâu hay tới đó. Nhà bà cũng thế. Tuy nghèo, nhưng gọn gàng tươm tất. Bà sống với hai vợ chồng đứa con trai: Chồng chạy xe ôm, vợ lột tôm ở một công ty thủy sản. Cả hai đã sống chung nhiều năm rồi, nhưng chưa có con. Cả nhà đều lo mải miết mưu sinh. Nhà vô cùng quạnh quẽ. Bà thèm ước có một đứa cháu nội ghê gớm. Bà đã sắm một chiếc giường rộng, sau này cháu nội sẽ ngủ chung với bà. Tất cả đã chuẩn bị gọn gàng, tươm tất, chào đón một đứa trẻ ra đời. Nhưng chờ đợi vẫn là chờ đợi. Con dâu bà vẫn bảo chưa có tín hiệu gì, má ơi!

Càng ngày đôi mắt bà càng nheo buồn, lòng bà càng thêm bồn chồn, bứt rứt, nóng nảy. Rất dễ thấy tâm trạng của bà. Bà biểu lộ ngay trong những công việc nhà, bà giằng mâm xáng chén khua động lổn cổn, gia chủ nghe xót cả ruột gan. Dung lên tiếng: “Nhẹ tay, chị Ba, mạnh tay quá mẻ chén, ăn cơm bị đứt miệng, chảy máu”. Bà quay phắt lại: “Tôi làm không một tiếng động, hay tại tôi điếc, tôi không nghe”. Rồi bà thở dài, giọng tiếc hùi hụi: “Trông tụi nó đẻ cháu nội cho tôi, mà không biết đến bao giờ”. Rồi bà rủa một cách hung dữ: “Hai vợ chồng tụi nó ác với tôi lắm, tụi nó nhất định không đẻ cháu nội cho tôi”. Dung dịu dàng: “Tại trời chưa cho, chị Ba ơi! Không phải tại tụi nó. Ráng thời gian nữa xem sao? Nhiều cặp cưới xong, năm sáu năm sau mới có con”. Bà Ba: “Kể từ nay, tôi ăn chay, niệm Phật. Mong Phật thương tình”.

NGÔI NHÀ NHỎ Ở VEN SÔNG

Sông chảy ngang qua thành phố. Những đoạn sông trong thành phố người ta làm bờ kè bê tông, có hàng rào quanh bờ sông rất đẹp, nhưng bờ sông ở các khu ngoại ô thì lở lói và đầy cỏ rác.

Ngôi nhà đó rất nhỏ, trên bờ sông. Cạnh nhà, hai cây dừa nghiêng cong, tán che bóng rợp mái nhà. Vách lá. Thợ dừng vách dừng từng sóng lá khít rịt, thẳng băng. Sàn lảng gie ra nằm trên mặt sông. Sóng dập dìu tấp đủ loại rác rến vào mé sông. Nền nhà 16m2, lát gạch đỏ au, không một vết bụi. Gió lồng lộng. Một tấm màn vải rộng kéo ngang phập phồng, ngăn đôi căn phòng, bên trong là chiếc giường ngủ rộng thênh thang. Đó là chiếc giường bà Ba chuẩn bị cho đứa cháu nội cưng của bà. Một ngày nào đó đứa bé sẽ được sinh ra. Đó là niềm hi vọng tuyệt đối của bà. Lau chùi, chăm sóc chiếc giường ấy mỗi ngày với sự chờ đợi khôn nguôi: Một đứa cháu nội.

Nhưng bây giờ, trên chiếc giường ấy đã có một bà già và một đứa bé. Người đàn bà ngồi ngắm đứa bé. Nó đang nằm ngủ say sưa. Hơi thở bà nhè nhẹ. Gương mặt bà đang tỏa một tình thương mênh mông bất tuyệt. Trái tim bà thật mềm mại, êm dịu. Ngồi bên đứa bé, trên chiếc giường này, giấc mơ của bà như đã thành hiện thực. Bà ngây dại chìm sâu trong giấc mơ ấy như một cô gái đang si tình một cách điên dại… Hoàn toàn bà không nghe: tiếng xào xạc của lá dừa quét trên mái nhà, tiếng động cơ của những chiếc tàu chạy dưới sông hay tiếng xe chạy qua con đường trước cửa nhà; hoàn toàn bà không nghe tiếng xe của nhân viên công lực đang rú còi náo động cả một vùng quê đang vội vã lao đi, và đột nhiên, đoàn xe thắng gấp dừng ngay trước cửa nhà bà. Tiếng những bánh xe rít xiết, ma sát trên đường bốc khói, nhức tai, ê răng.

Nhảy xuống từ xe cảnh sát, như cơn gió lốc, người mẹ của đứa bé ập vào nhà. Dáo dác, ngơ ngác trong một giây, Dung giật cái màn ngăn che phòng ngủ, nhận ra ngay con mình. Cô nhào lên giường, bò lê, choàng ôm lấy đứa con. Đứa trẻ giật mình, run bắn, khóc thét, máu dồn đỏ ửng cả thân thể nó.

Bà Ba ngơ ngác, không kịp hiểu sự biến gì đang xảy ra. Tiếng kim loại chạm vào nhau. Cái còng sáng loáng bập vào cổ tay bà. Bàng hoàng rồi lập tức bà hiểu ra ngay tình cảnh của mình. Bà quì trước mặt Dung: “Thương cháu quá cô ơi, tôi chỉ mượn nó về đây chơi trong chốc lát rồi trả lại cô, nhưng sợ cô không cho, tôi đành lén ẵm bé về đây…”. Bà quì thật thẳng, hiên ngang.

Đứa bé vẫn khóc thét, chen lẫn tiếng còi báo động váng vất, chênh chao cả mặt nước của dòng sông.

Dường như không ai nghe người đàn bà già nua kia phân trần gì cả…

Khi hàng xóm tụ tập, đổ dồn trước cửa nhà bà, xem việc gì đang xảy ra, thì đoàn xe của nhân viên công lực đã kịp biến mất, mang theo tất cả những người có liên quan đến sự biến đã xảy ra trong suốt một giờ, trước đó.

Trại viết Vĩnh Long,17/7/2012

Lê Đình Trường
(Hội VHNT Cà Mau)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 386

Ý Kiến bạn đọc