Văn học nước ngoài

Sự biến mất của bà Crispina Umberleigh

Saki Là Nhà Văn Danh Tiếng Người Anh, Tên Thật Là Hector Hugh Munro (1870 – 1916). Đương Thời, Ông Thường Được So Sánh Với Những Nhà Văn Viết Truyện Ngắn Danh Tiếng Như O. Henry Hay Dorothy Parker. Ông Còn Thử Sức Ở Lĩnh Vực Tiểu Thuyết Với Những Giai Tác Như: Bassington Khó Chịu (The Unbearable Bassington); Alice Ở Wesminster (The Westminster Alice)… Saki Còn Là Một Nhà Báo Nổi Danh, Từng Tham Gia Viết Trên Những Tờ Báo, Tạp Chí Danh Tiếng Nhất Trên Thế Giới Như: Daily Express, Morning Post Và Outlook.

 

Trong toa hạng nhất của con tàu đang băng băng về Balkanward qua vùng đồng bằng Hungary xanh tươi, hai người Anh ngồi đối diện, ít lời nhưng có vẻ thân thiện. Họ mới quen nhau ở tuyến biên giới vào một buổi sáng lạnh lẽo ảm đạm. Vùng này nằm dưới quyền kiểm soát của Đức, nơi những biểu tượng đại bàng hiển hiện, trải dài từ Hohenzollern đến tận Habsburg và cũng là nơi những người lính kiểm tra ở cửa khẩu được yêu cầu phải tỏ ra lịch sự nhưng vẫn phải làm đúng đúng và đủ thủ tục; tuy nhiên, lúc nào họ cũng đầy vẻ mệt nhọc khi rà soát hành lý của những hành khách thiếu ngủ.

Sau khi tàu nghỉ một ngày ở Vienna, họ tái ngộ và vui mừng vì lại được xếp ngồi cùng toa. Người lớn tuổi hơn có vẻ ngoài và cử chỉ của một nhà ngoại giao; thực ra ông thường giao du với giới thượng lưu vì có người anh nuôi kinh doanh rượu vang. Còn chàng trai chắc chắn là nhà báo. Chàng trai cũng không thuộc loại ba hoa và cả hai kết nhau vì điều đó. Đó là lý do lâu lâu họ lại trò chuyện.

Một đề tài hội thoại đã tự nhiên “qua mặt” những chuyện khác. Ở Vienna, hôm trước, họ đã nghe về việc biến mất rất bí ẩn của một bức tranh nổi tiếng thế giới của phòng trưng bày Bảo tàng Louvre.

“Biến mất ngoạn mục kiểu đó chắc kéo theo hàng loạt vụ cho xem”, nhà báo nói. “Những chuyện thế này chắc họ đều có phòng bị cả chớ”, ông-có-anh-buôn-rượu nói.

So-616--Anh-minh-hoa---Su-bien-mat-cua-ba-Crispina-Umnerleigh---Anh-1
(Nguồn: www.myshortstories.org/disappearance-crispina-umberleigh-saki/)

“Ồ, dĩ nhiên, có quá nhiều vụ trộm ở Louvre trước giờ”. “Tôi đang nghĩ tới việc biến mất của một con người chứ không phải tranh vẽ. Cụ thể là trường hợp bà thím của tôi, Crispina Umberleigh”.

“Tôi nhớ đã nghe loáng thoáng vụ đó”, nhà báo nói, “nhưng thời điểm ấy tôi vừa rời khỏi Anh. Tôi chẳng biết thực sự đã xảy ra chuyện gì”. “Anh có thể nắm rõ thôi nếu anh vui lòng tôn trọng sự thật và tin tưởng tôi”, ông buôn rượu nói. “Đầu tiên tôi có thể nói rằng sự biến mất của bà Umberleigh không được gia đình nhất nhất lưu tâm như việc mất một người thân. Chú tôi, Edward Umberleigh, dù gì cũng là người nhu nhược, thực tế thì trong giới chính trị ông ít nhiều được liệt vào dạng “người đàn ông quyền lực”, nhưng hiển nhiên ông lép vế trước Crispina; quả thực tôi chưa từng gặp người nào mà không bị khuất phục, trùm phủ và tê cứng khi tiếp xúc lâu với bà ấy. Một số người sinh ra để chỉ huy; Crispina, bà Umberleigh sinh ra để lập pháp, ra luật, quản lý, kiểm duyệt, cấp phép, cấm đoán, thực thi, và phán quyết toàn bộ. Nếu bà ấy sinh ra với thiên hướng như thế thì bà đã phải chấp nhận nó ngay từ khi còn bé. Từ việc bếp núc trở đi, mọi người trong gia đình cam chịu sự chuyên chế của bà ta với một thái độ nhũn như con chi chi.Vì là một thằng cháu thỉnh thoảng viếng thăm, sự ảnh hưởng của bà ta đối với tôi chẳng qua như một thứ bệnh dịch, ngầy ngà trong lúc đó nhưng không có bất cứ chút hiệu quả lâu dài nào, còn lũ con trai, con gái của bà ta đều chết khiếp vì bà ta; mọi quan hệ, sinh hoạt, tôn giáo, ứng xử, học hành, giải trí – thậm chí chế độ ăn uống hay kiểu tóc – đều trong tầm kiểm soát và chuyên chế của bà ấy… Điều này sẽ giúp anh hiểu được cảm giác sững sờ trong gia đình khi bà ấy lặng lẽ biến mất một cách khó hiểu. Cứ như thánh đường St. Paul hay khách sạn Piccadilly đã biến mất trong đêm, để lại khoảng trống lạnh lùng hụt hẫng. Theo tất cả những gì được biết thì chả có chuyện gì nghiêm trọng với bà ấy cả; thực tế là bà ấy còn phải làm nhiều nhiều nữa để cuộc đời tươi sáng hơn. Thằng út từ trường về với cái phiếu học tập phê không tốt, và bà ấy chuẩn bị xử nó ngay cái chiều mà bà biến mất (nếu người vội biến là nó thì còn có lý). Vậy mà sau đó bà ấy bất ngờ ở giữa tờ báo tranh biện với linh mục giáo khu, chứng minh ông ta dị giáo, mâu thuẫn, ngụy biện, và không lý do gì để chấm dứt tranh luận. Tất nhiên cảnh sát quá rành chuyện này nhưng họ cố hết sức né tránh sự quan tâm của báo chí về vụ việc, và thường giải thích đại khái là bà ấy đi nghỉ dưỡng, tạm dừng các hoạt động xã hội cũng như xuất hiện trước công chúng”.

“Và ảnh hưởng tức thời lên các thành viên trong cái triều đình ấy là gì?”, nhà báo hỏi. “Các cô gái đều đi sắm xe đạp; niềm đam mê xe đạp của phái nữ vẫn là một thực tế, và Crispina đã cấm tiệt các thành viên gia đình bà tham gia. Thằng út tự cho phép nó đi lút ga trong học kỳ tiếp theo. Mấy thằng lớn đưa ra cái thuyết cho rằng mẹ chúng có lẽ đang thơ thẩn đó đây ở nước ngoài, và chúng cần mẫn tìm kiếm bà ấy nhưng chủ yếu là – điều này thì không thể phủ nhận – trong khu nghỉ mát cao cấp Montmartre, nơi mà chuyện tìm thấy bà ấy là quá viển vông”.

“Việc đến thế rồi mà chú của ông không nắm được chút manh mối nào sao?”. “Trong thực tế, chú tôi đã nhận được một số thông tin, nhưng dĩ nhiên vào thời điểm đó tôi chẳng biết. Một ngày nọ ông nhận được bức điện nói rằng vợ ông đã bị bắt cóc bán ra nước ngoài. Tôi nghĩ rằng bà ấy bị giam giữ ở một hòn đảo nào đó ngoài khơi bờ biển Na Uy… trong môi trường sống dễ chịu, thoải mái, đủ đầy. Rồi đến yêu cầu trả một cục 2.000 bảng tiền mặt hàng năm, nếu không thì ngay lập tức bà ấy sẽ bị hoàn trả cho gia đình”.

Anh nhà báo im lặng một lúc, và rồi cả hai tủm tỉm cười.

“Thật là nghịch lý của việc giữ người đòi tiền chuộc”. “Nếu anh mà biết thím tôi”, ông buôn rượu nói, “hẳn anh sẽ thắc mắc sao họ không đưa ra con số lớn hơn”.

“Tôi thấy rõ chứ, chú của ông không chống nổi sự cám dỗ đó à?”. “À, như anh chắc cũng hiểu rõ, ông ấy còn phải suy nghĩ tới người khác cũng như bản thân mình nữa. Đưa gia đình trở lại tình trạng bị Crispina áp chế sau khi đã được nếm trải hưởng thụ khoái cảm của tự do sẽ là một bi kịch, rồi còn phải cân nhắc tài khoản nữa. Kể từ khi mất người thân, ông đã vô tình tiến xa trong các hoạt động xã hội và “đậm nét” hơn trước công chúng. Vì lẽ đó, uy tín và tầm ảnh hưởng của ông không ngừng gia tăng. Từ chỗ đơn thuần là một người đàn ông có chút danh trong giới chính trị, ông bắt đầu được nói đến như là một người mạnh mẽ quyền lực. Tất cả điều này giúp ông hình dung rất rõ ràng rằng mọi thứ sẽ tan thành mây khói nếu ông rơi trở lại địa vị chồng của bà Umberleigh. Ông là một người đàn ông giàu có, và khoản 2.000 bảng Anh một năm, mặc dù – nói cho chính xác – không phải là món chi tiêu vặt vãnh, không có vẻ là cái giá quá đắt cho “tiền trọ” của Crispina. Tất nhiên, ông vẫn bị lương tâm cào xé dằn vặt khi dàn xếp thế. Sau, khi đã tin tưởng tôi, ông nói với tôi rằng trong việc chi trả tiền chuộc, hoặc tiền đấm mõm – như lẽ ra tôi phải gọi vậy, ông ấy bị ảnh hưởng phần nào bởi nỗi sợ hãi rằng nếu ông từ chối chi, những kẻ bắt cóc có thể trút cơn giận dữ, thịnh nộ và sự thất vọng của họ lên người đang bị cầm giữ. Tốt hơn, ông nói, hãy nghĩ bà ấy được chăm sóc tốt như khách hạng sang nơi đảo Lofoden hơn là việc bà ấy sống trong kham khổ và quay quắt nỗi mong nhớ quê nhà. Dù sao chăng nữa, ông trả phí hàng năm đúng hẹn như trả tiền bảo hiểm hỏa hoạn; đáp lại cũng mau lẹ vậy sẽ là cái giấy báo đã nhận tiền cùng vài dòng báo rằng Crispina khỏe và khá vui. Thậm chí có lần báo cáo còn đề cập chuyện bà ấy đang bận rộn với kế hoạch đề xuất cải cách quản lý của Giáo hội, tạo sức ép lên giới mục sư địa phương. Rồi lần khác lại nói bà ấy bị thấp khớp và đang vào đất liền chữa trị, phải thêm 80 bảng. Dĩ nhiên những kẻ bắt cóc phải lo cho sức khỏe bà ấy chứ, nhưng bí mật mà họ đã dàn xếp ổn thỏa và giữ kín được mới thực sự tuyệt vời. Nếu chú tôi có trả cái giá kha khá, ít nhất ông có thể an ủi bản thân đó là phí chuyên khoa”.

“Trong khi đó cảnh sát đã từ bỏ mọi nỗ lực tìm kiếm người phụ nữ mất tích ư?”, nhà báo hỏi. “Không hẳn thế, thi thoảng cảnh sát có đến chỗ chú tôi, cung cấp những manh mối mà họ nghĩ có thể làm sáng tỏ phần nào về số phận hoặc nơi ở của bà ấy, nhưng tôi nghĩ họ đã ngờ rằng ông ấy nắm giữ nhiều thông tin chưa khai báo cho họ. Và rồi sau hơn 8 năm mất tích, Crispina đột ngột trở về ngôi nhà mà bà ấy đã bỏ đi một cách khó hiểu”.

“Bà ấy đã trốn thoát khỏi bọn bắt cóc à?”. “Bà ấy chưa bao giờ bị bắt. Việc bà ấy lạc đường, lang thang đây đó là do tự nhiên bà ấy bị mất trí nhớ thôi. Thím tôi thường ăn bận kiểu bà-ở-hạng-sang nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bà ấy cứ hình dung mình là người y như thế. Ít có người nuốt nổi lời nói của bà ấy và nhận bà ấy vào làm. Bà ấy đi vất vơ xa tận Birmingham rồi kiếm được một công việc khá ổn định ở đó. Sự năng nổ và tràn trề nhiệt huyết của thím tôi trong việc sắp xếp gọn gàng hợp lệ nơi ăn chốn ở cho mọi người làm đối trọng với tính cố chấp, độc đoán của bà ấy. Bà ấy sốc khi bị cha phó gọi là người đàn bà được việc của tôi bằng giọng bề trên – cha phó tranh luận với thím tôi về nơi đặt lò sưởi ngay trong phòng hòa nhạc giáo xứ. Điều này đã đột nhiên làm phục hồi trí nhớ của bà ấy. “Tôi nghĩ ông quên mất rằng mình đang tiếp chuyện với ai thì phải”, bà ấy gằn giọng nhận xét vẻ miệt thị. Cái phản ứng thái quá, gay gắt ấy bất chợt nhắc bà ấy nhớ lại được chính mình”.

“Nhưng”, nhà báo kêu lên, “Dân đảo Lofoden! Họ đã giam giữ ai?”. “Chỉ là một tù nhân tưởng tượng. Đó là chuyện thử cho hay đầu tiên của một người biết chút gì đó chuyện nội bộ, có thể là một người làm đã bị sa thải, để gạt Edward Umberleigh cả cục tiền khi xảy ra vụ bà ấy mất tích; còn những khoản tiền hàng năm sau đó là khoản gia tăng ngoài dự tính từ mẻ lưới ban đầu”.

“Crispina nhận ra rằng thời kỳ tám năm đứt quãng đã cơ bản làm suy giảm uy lực của bà ấy đối với những-đứa-con-giờ-đã-trưởng-thành. Tuy nhiên, chồng của bà ấy không hề đạt được thứ gì lớn lao trong giới chính trị nữa sau ngày bà ấy trở về; trạng thái căng thẳng khi cố minh bạch hóa khoản chi khá mập mờ lên đến 16.000 bảng qua 8 năm đủ hao tổn tâm lực trí lực của ông ấy”.

(Từ nguyên bản tiếng Anh The Disappearance Of Crispina Umberleigh)

Saki (Anh)
Nguyễn Trung (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 616

Ý Kiến bạn đọc