Tản văn

Sông và Núi…

Sông và Núi mà tôi nói ở đây là Sông Vệ và Núi Đình – sông núi quê hương tôi, là hình ảnh thân thương và là tài nguyên bất tận cung cấp cho đời sống người dân cả một vùng rộng lớn. Núi Đình Cương là một nhánh của dãy Trường Sơn, vẫn có đủ bề thế của ngọn núi lớn: có hố nước, trảng, vũng, bằng, hang hóc, có cây cối to lớn, có các thứ trái cây ăn đỡ đói (ăn ngon nữa là khác) và có lắm thú nhỏ, lớn, dữ lẫn hiền, trong đó cọp là nhiều nhất.

Cây trái, hoa… có lắm thứ như chà là, sim, ổi, mủ dẽ, mẫn khiểng, bùm sụm, xoài, cẩm chướng, xấp xôi, tôi không sao nhớ hết. Có điều cây trái đó không phải chín rời rạc từng cây, từng bụi, mà là cả một vùng như chà là, sim (khắp núi), còn ổi thì cả một trảng ổi, rộng đến mấy mẫu, tha hồ hái mà ăn, ổi núi trái không lớn, chỉ bằng cái tách nhỏ các cụ dùng uống nước trà hay bằng ngón chân cái người lớn, khi chín vỏ mọng xanh, ruột ổi lại màu đỏ tươi, ăn rất thơm và ngọt. Ổi sim đều là thứ cây mọc thấp cao không qua một thước, dễ hái, cũng là nơi cọp thường rình, mỗi khi muốn hái thường phải có hai người, một người lom khom hái thì người thứ hai cầm cây đứng canh, thổ ngữ ở xứ Quảng nầy gọi là do cũng lạ. Riêng chà là thì nhiều mà khó hái vì cây lá bùm sum đã nhọn lại nhiều gai, mỗi lần đi hái là mẹ tôi thường cầm một cây cù ngoèo dài gần hai thước, để khi thấy có chùm nào chín là khoèo ra, rồi chìa cái rổ vào, sau đó dùng cây cù ngoèo rung cho trái rớt xuống, chỉ cần gặp vài chục bụi chà là là đầy cả rổ lớn mang về tha hồ mà ăn. Còn các thứ mẫn khiểng, bùm sụm, cẩm chướng là để cho trẻ nhỏ hái ăn chơi. Loại cây trái lớn như xoài thì ít và phải đợi đến mùa. Chà là có khi hái về nhiều ăn không hết thì đem phơi khô rồi chà lấy bột làm chà là khô, ăn và uống với nước trà nghe cũng đượm lắm, cha tôi hay dùng món này. Hết mùa chà là tươi, vùng nào khô cháy, lá chà là teo túm lại bày cội ra thì cha tôi dùng rựa đào chặt lấy cội, lột các lớp vỏ cứng bỏ đi lấy cội mềm non ăn nghe cũng ngon lành.

Anh-minh-hoa---Song-va-nui

Trong núi có nhiều suối nước trong, có Trảng Lùng như ao nước, không sâu nhưng rộng đủ chỗ cho cả bầy trâu gần trăm con nằm ở đây. Ngoài ra còn có trảng lớn, trảng trung, trảng nhỏ là những bãi cỏ xanh rờn dành cho các loài thú ăn cỏ. Trâu ở đây là trâu của các gia đình khá giả ở An Chỉ, sau khi hết mùa nông vụ, thì đưa trâu lên núi để chúng tự sống độc lập chẳng cần ai coi ngó gì cả, mà chính chúng tự săn sóc cho nhau. Trong bầy bao giờ cũng có một con trâu đực khỏe mạnh làm đầu đàn. Chính gia đình tôi cũng có hai con trâu trong bầy này. Gia đình có trâu gởi ở núi thì cứ cách nhau 15 hay 20 ngày đi thăm một lần. Núi có nhiều cọp, nên trâu luôn luôn phải đi chung với nhau, tối lại phải nằm chung một vòng tròn quay đầu ra ngoài bảo vệ lẫn nhau. Trâu đầu đàn thường bảo vệ chung cả đoàn, cọp không mấy khi dám tấn công đàn trâu. Trong mấy năm liền mới có một con trâu có lẽ vì quá tự tin một mình đi lang thang ra xa nên mới bị cọp nhảy lên lưng giết chết mà thôi. Có một lần tôi đi với cha thăm trâu, tìm mãi không thấy trâu đâu nên hai cha con phải đi sâu vào Trảng Lùng. Cha tôi bảo nơi đây hổ dữ thường ở, đi một mình cũng lạnh lưng, nhưng đi với con cha lại thấy phấn khởi, nhớ lại câu nói ấy mới thấy tình cha thương con vô bờ bến. Cũng do tìm trâu mà tôi biết cả đá én, hố xoài. Đá én là một hang đá lớn có thể chứa đến mấy trăm người còn hố xoài là nơi có lắm xoài, nó thường bị mục đồng xơi tái khi xoài vừa lớn và còn xanh. Núi không có cây lớn vì bị đốn mất lâu rồi, ngoài các thứ trái cây vừa kể ở trên thì còn có các loài thú con như thỏ, chồn cheo, le le… nhưng không có ai săn vì núi lắm gai trắng, đá chằng chịt, tôi đi núi thường mặc quần cụt nên hai ống chân bị gai cào trầy xước đủ thứ, chó săn thả vào đây không chạy được nên chưa bắt được thú đã bị cọp bắt rồi.

Con người vẫn thích sông hơn núi, vì nước là nhu cầu thiết yếu, không cây trái con người vẫn sống sót nhưng không nước là chết. Sông Vệ tuy nhỏ, tài nguyên vẫn dồi dào, mùa nước cạn thì có lắm cá con, tục danh là cá bống. Nói đến Quảng Ngãi, người người hay nhắc nhở “cá bống sông Trà” là thứ cá lớn con, thường to bằng ngón tay người lớn, trong khi cá bống sông Vệ thì nhỏ li ti, lớn nhất chỉ bằng đầu mút đũa con. Từ nhỏ tôi không thích ăn thịt, cá, tuy nhiên lại rất thích ăn cá bống sông Vệ (hay sông Vệ quá gắn bó với tôi thành máu thịt chăng?!). Mùa sông cạn cá chui rúc ở đâu không thấy, nhưng đến lúc xe nước dựng lên, nước sông dâng cao, thì có lắm chỗ để cho cá mú ra vào tự do, đó là bờ độn cản nước, những đám chà có những trụ tre đóng thành vòng tròn cao hơn mặt nước sáu, bảy tấc chiếm diện tích bằng cả cái lô cốt của một trại lính, bên trong là những đống chà đầy cây lá, cứ cách nhau khoảng năm sáu chục thước là có một đám chà. Ngoài ra còn có những ống cắm sâu cách mặt nước ba, bốn tấc cũng là gian nhà làm sẵn cho cá ở, người bắt cá chỉ lặng lẽ bịt hai đầu rồi dốc vào đụt hay giỏ là xong.

Cá bắt ở giai đoạn nước lớn mới là cá ngon, quí, cha tôi có ông em nuôi, mồ côi cha mẹ, lúc nhỏ thường ở cùng gia đình tôi, nay đã lập gia đình ở riêng, có tay nghề bắt cá với hai tay không. Mùa nước lớn, chú ấy thường bắt được những con cá hanh to lớn đem biếu cha tôi, ông cũng thường đáp đền bằng cách cho chú ấy tiền. Muốn bắt cá trong đám chà là phải rào lưới xung quanh, mở một đường lưới dài trống, nhổ các trụ cột tre, kéo từng nhánh trà bỏ ra quãng trống, cá mới chạy ra như con cá chình to tướng nặng gần 5 ký, béo mập đầy mỡ, luộc qua lấy nước làm cháo, làm canh, rồi chiên chín mùi thơm vang lừng, cha tôi rất thích món này, thường nhậu với rượu thuốc. Ngoài cá chình còn có cá mú, cá mối, cũng là thứ cá ngon, cá lon con không sao kể…

Ở đây, ngoài cá còn có hến, có ốc… Hến là món đặc biệt của sông Vệ, sông Trà nhưng sông Vệ có nhiều hơn vì chảy chậm, còn sông Trà chảy mau nên hến ít tụ lại. Tại sao kêu là hến, tôi không sao hiểu nổi, có lẽ nó là thứ thực phẩm đặc biệt vì hình dáng không lớn hơn đầu ngón tay người lớn, mình dẹp có đủ màu, vỏ như vỏ ốc, đóng mở là tự thân nó. Muốn ăn là phải dùng nước nấu chín, hến mới mở tung ra đãi lấy ruột xào, nấu gì tùy ý, nước hến rất ngọt ngon, muốn nấu món gì là do bàn tay nội trợ khéo léo của các bà, nam giới chỉ đợi chờ thành phẩm rồi nhậu nhẹt; ốc thì có “ốc quắn”, lẫn lộn chung với hến không nhiều lắm chỉ dùng để lể ăn cho vui.

Tính đến nay đã gần 80 năm rồi nhưng hình ảnh thân thương của sông Vệ, núi Đình như gắn vào da thịt của tôi, nay muốn tìm lại, không sao tìm được. Sông Vệ bị lấp mất, núi Đình còn đó mà cũng như mất, cây trồng trên đó là cây công nghiệp dùng để làm giấy và chỉ có mỗi nó, cỏ cũng không mọc nổi, các mạch nước khô, côn trùng chết sạch, dân chúng có đói thì bươi cát kiếm đá mà gặm. Viết đến đây tạm đủ, có viết nữa thì chỉ càng thấy đau lòng hơn thôi.

Khổng Đức
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 422

Ý Kiến bạn đọc