Văn học nước ngoài

Sống hay chết

“Tôi là họa sĩ Proso, sinh ra ở Pháp. Từ xa xưa, khi còn trai trẻ tôi từng đi lang thang đây đó hành nghề vẽ dạo. Trong một chuyến đi, tôi đã gặp hai họa sĩ Pháp cũng nghề. Tôi liền nhập bọn với họ. Chúng tôi nghèo nhưng sống với nhau rất hạnh phúc. Hai bạn tôi – Klod và Karl – mặt mày lúc nào cũng tươi như hoa, bất chấp cuộc sống hàng ngày thiếu thốn trăm bề, bởi chúng tôi rất nghèo. Có khi cả tháng trời chúng tôi mới có một vài khách mua tranh hoặc thuê vẽ, với số tiền nhận được chẳng là bao. Còn tháng nào “đầu ra” bị tắc, cả hội đói dài là cái chắc.

“Một hôm chúng tôi dừng chân ở một vùng quê phía bắc nước Pháp. Đó là thời kỳ chúng tôi hết sức khó khăn. Một họa sĩ trẻ người địa phương, cùng cảnh nghèo đói như chúng tôi, đã đưa cả ba đồng nghiệp về nhà mình tá túc, cưu mang hết lòng, cứu chúng tôi thoát cảnh chết đói. Franxoa Miller, anh bạn mới cùng chúng tôi bữa rau bữa cháo như vậy tại đây được hơn hai năm, thì một lần Klod nói: “Các bạn ạ, chúng ta lâm vào cảnh cùng đường bất đắc dĩ rồi, tất cả đều “chống” lại chúng ta. Tôi đã đi quanh khắp làng, chẳng ai bán chịu thực phẩm cho chúng ta nữa, nếu mình không trả được nợ cũ”. Cả hội ngồi im, không ai nói gì. Cuối cùng Miller lên tiếng: “Biết làm gì bây giờ? Tôi chưa nghĩ ra được cách nào thoát hiểm cả. Các bạn chúng ta cùng nhau “động não” xem sao?”. Cả nhà vẫn im lặng, riêng Karl cứ đi đi lại lại quanh quẩn trong phòng hồi lâu, rồi bỗng dừng lại trước một bức tranh “ế” và thốt lên giọng cay đắng: “Quả là nhục nhã! Tranh vẽ của chúng ta chất lượng không kém gì tranh của bất kỳ tác giả nổi tiếng nào khác. Ý kiến này không phải chỉ của riêng tôi, nhiều người khác cũng nói thế.

Anh-minh-hoa---Song-hay-chet

“Nhưng người ta không mua tranh của chúng ta, thế mới đau” – Tôi ngậm ngùi chia sẻ.

Lúc này Karl đã ngồi xuống chỗ cũ và nói: “Mình đã nghĩ ra cách chúng ta làm giầu rồi”.

“Chúng ta mà giầu được à! Cậu có điên không đấy”.

“Hoàn toàn không!”.

“Vậy theo cậu, thế nào thì coi là giầu có?”.

“Nghĩa là mỗi bức tranh của chúng ta sẽ có giá 100 ngàn franc”.

“Thế chẳng điên thì là gì”.

“Karl ơi, bạn mộng tưởng xa vời quá…”.

“Karl, bạn nên uống vài viên thuốc an thần rồi đi nằm nghỉ cho khỏe…”.

Mỗi người mỗi câu tán ra, đầy vẻ giễu cợt.

“Các bạn hãy lặng yên nào! – Tôi lên tiếng – Hãy để Karl nói tiếp ý tưởng của cậu ấy xem sao, sau đó chúng ta lại bàn tiếp, đâu có muộn”.

“Vậy thì, để mở đầu câu chuyện, mình đề nghị các bạn lưu ý tới một sự thật hiển nhiên trong lịch sử hội họa: Nhiều họa sĩ vĩ đại sinh thời đói rách cùng cực trăm đường, nhưng sau khi mất đi, tranh của họ bỗng nhiên được người đời đánh giá cao và bán với mức giá ngất trời so với mức giá khi họ còn sống. Đó là điều hoàn toàn dễ hiểu”. Dừng một lát, Karl nói thêm: “Một người trong số chúng ta cần phải chết. Tôi đề nghị chúng ta bốc thăm”. Nghe đến đây chúng tôi bèn phá ra cười vui vẻ rồi khuyên Karl mau mau uống ngụm nước mát để hạ nhiệt bớt đi. Karl mặt lạnh tanh, để cho mọi người im ắng hẳn rồi mới nói tiếp: Công bằng nhất là tiến hành bốc thăm. “Người trúng số” sẽ nổi tiếng, biến chúng ta thành những người giầu có. Ba tháng tiếp sau đó “người chết” sẽ ra sức vẽ tối đa được càng nhiều tranh càng tốt. Chúng ta sẽ lựa chọn ra những bức tranh khá hơn ghi tên anh ta, trong mỗi tác phẩm đó phải có một số chi tiết đặc trưng dễ nhận ra của riêng tác giả. Sau khi tác giả “qua đời” ta sẽ bán giá cao cho các bảo tàng và các nhà sưu tập tranh trong nước và ngoài nước. Nghĩa là chúng ta phải công bố cho công luận biết rằng, họa sĩ vĩ đại đang trong giai đoạn nguy kịch, khả năng còn sống được không quá 3 tháng.

“Nhưng sẽ ra sao, khi anh ta vẫn sống sờ sờ ra đấy?” – Chúng tôi hỏi Karl.

“Ồ, tất nhiên rồi, anh ta có chết đâu, mà chỉ thay tên đổi họ và biến mất, chúng ta sẽ tổ chức tang lễ rồi chôn cất người sáp – manơcanh y như thật để mọi người hay tin và sẽ giúp đỡ chúng ta. Và…”. Nhưng đến đây chúng tôi không để anh ta nói hết, vỗ tay tán thưởng vang lên rào rào. Mọi người chạy đi chạy lại bắng nhắng khắp nhà, bá lấy cổ nhau hôn hít vui như trẩy hội. Chúng tôi cùng nhau thảo luận chi tiết kế hoạch thực hiện thâu trưa, quên cả đói.

Cuối cùng chúng tôi tiến hành rút thăm để tìm ra ai sẽ “chết”. Miller là người được chọn. Chúng tôi gom góp lại được một số đồ vật ít ỏi đem đi cầm cố được khoản tiền nhỏ để đi chu du tiếp và để lại cho Miller sống khoảng dăm ba ngày. Sáng sớm hôm sau, Klod, Karl và tôi lên đường, bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới. Mỗi người đi một ngả. Karl đi Paris, nơi đặt “nền móng” cho sự nghiệp vẻ vang của Miller. Hai chúng tôi dấn bước ra nước ngoài.

“Sang ngày thứ hai tôi bắt đầu vẽ một tòa biệt thự ở một cửa ô thành phố lớn nọ, khi thấy chủ nhân đang đứng trên ban công. Lát sau ông ta xuống xem vẽ. Tôi đưa bản phác thảo cho ông ấy xem. Chủ nhân biệt thự tỏ ý hài lòng. Tôi bèn lấy ra một bức tranh của Miller rồi chỉ vào tên tác giả ở góc tranh và nói: “Ngài có biết tác giả là ai không ạ?”. Không đợi câu trả lời của ông ta, tôi nói luôn vẻ đầy tự hào: “Đây là thầy dạy tôi đấy ạ!”.

Vị khách lộ vẻ bối rối.

“Chắc là ngài chưa biết tên tuổi họa sĩ Franxoa Miller?” – Tôi hỏi lại vị khách.

“Tất nhiên đó là họa sĩ Miller. Tôi có biết ông ta” – Vị khách thản nhiên nói, y như biết thật, mặc dù trước đó chưa hề nghe ai nói về Miller của chúng tôi. Tiếp đó ông ta ngỏ ý muốn mua bức tranh. Lúc đầu tôi làm bộ từ chối không bán, đợi đến khi ông ta nâng giá lên 800 franc mới miễn cưỡng đồng ý nhượng lại. Tôi vẽ xong bức phác thảo tòa biệt thự của vị khách với chất lượng tốt nhất có thể, lúc đầu định đưa ra giá 10 franc, nhưng chợt nhớ ra mình là học trò của một bậc thầy hội họa, liền đặt ra giá 100 franc cho xứng tầm! Sau đó tôi gửi 800 franc ngay về cho Miller và hôm sau lại lên đường.

“Hành trình bán dạo tranh của tôi diễn ra khá suôn sẻ, hầu như mỗi ngày tôi bán được một bức. Khi đã có đồng ra đồng vào rủng rỉnh trong túi, tôi nói năng đi đứng chững chạc hẳn lên. Mỗi khi bán tranh cho ai đó tôi thường có câu cửa miệng: “Vì cảnh ngộ riêng tôi mới dại dột bán đi những bức họa nổi tiếng này của danh họa Franxoa Miller. Ông ta mắc chứng bệnh hiểm nghèo, chỉ sống được khoảng 3 tháng nữa là cùng. Sau khi tác giả qua đời, những tuyệt phẩm này giá sẽ tăng lên vùn vụt”. Bán được tranh chúng tôi càng có điều kiện quảng bá rộng rãi tài năng của danh họa Miller ra ngoài vùng đồng quê xa xôi của tác giả. Đến thành phố nào chúng tôi cũng đến tòa soạn của tờ báo địa phương, xin được đăng tin về sức khỏe của danh họa Miller. Chúng tôi không bao giờ gọi Miller là một thiên tài. Cách viết bài của chúng tôi làm sao để độc giả hiểu rằng, mọi người đều biết Miller là ai rồi. Chúng tôi gửi biếu các số báo có các bài viết đó đến những người mua tranh và tất cả những ai quan tâm đến danh họa Miller.

“Sau khi đến Paris, Karl kết thân với cánh báo chí, đặt hàng các bài viết thông báo về tình hình sức khỏe của Miller để đăng tải trên các báo lớn trong nước và ở Anh Quốc, Pháp Quốc và trên toàn thế giới.

“Sang tuần thứ bảy kể từ khi bắt đầu “chiến dịch” làm ăn, chúng tôi quyết định chuyển sang giai đoạn mới. Tôi báo cho Miller bắt đầu nằm bất động, chuẩn bị cho cái chết của mình. Chúng tôi muốn Miller chết sau 10 ngày, nếu như anh ấy chuẩn bị kịp. Đến thời điểm này chúng tôi kiểm đếm lại “thành quả” hoạt động của cả hội, thì thấy chúng tôi đã bán được 85 bức tranh và ký họa với số tiền là 69.000 franc. Thật là hạnh phúc vô cùng!

“Klod cùng tôi thu xếp đồ đạc để trở về quê chăm sóc Miller trong những ngày cuối đời và canh chừng người lạ vô tình hoặc hữu ý “dò xét” hoặc lảng vảng gần nhà. Theo phối hợp từ trước, hàng ngày chúng tôi gửi thông báo tình hình Miller lên Paris cho Karl đăng tải trên báo chí trong và ngoài nước. Cuối cùng thì cái ngày “buồn thảm” định trước cũng đến. Karl về nhà để giúp đỡ chúng tôi. Từng đoàn người dài vùng lân cận và nhiều nơi xa xôi cũng đến dự đám tang. Bốn anh em chúng tôi khiêng quan tài, bên trong là pho tượng sáp giống Miller như thật. Chính Miller thì hóa trang thành người anh họ, cùng khiêng quan tài của chính mình với chúng tôi.

“Sau đám tang chúng tôi tiếp tục đi bán ảnh Miller và thu được một số tiền lớn đến mức không ngờ. Cho đến nay ở Pari có một quý ông sưu tập được những 70 bức tranh của Miller. Ông ấy đã trả chúng tôi 2 triệu dollar để mua chúng”.

(Theo bản tiếng Nga)

Mark Twain (Mỹ)
Nguyễn Chí Được (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc