Ngoài nước

“Số mệnh Roma” đang chờ đợi Mỹ!

Tháng 10/2003, trong bài báo có nhan đề “Số mệnh Roma đang chờ đợi nước Mỹ” đăng trên báo “Thư tín Chủ nhật”, nhà bình luận chính trị Robert Harris đã nêu lên một loạt câu hỏi: Liệu Washington có giống như đế quốc Roma trước đây bị chết bởi chính sự mở rộng đế quốc quá mức của mình không? Liệu lực lượng đồn trú ở nước ngoài có phải rút về nước do sản xuất trong nước bị phá sản không? Liệu toàn bộ hệ thống lý luận của nước Mỹ rốt cuộc có bị một tôn giáo biến tướng nào thay thế không? Trật tự thế giới mới của Mỹ liệu có bị tiêu diệt không? Tình hình khó khăn hiện nay của nước Mỹ càng khiến cho những câu hỏi của Robert Harris ngày càng được trả lời rõ ràng hơn!

Mỹ sẽ chết vì “cơn khát” dầu mỏ!

Ngày 16/7/2003, để biện minh cho sự xâm lược Iraq mà nước Mỹ sắp khởi động, Phó Tổng thống Mỹ Dick Cheney đã trả lời Kênh truyền hình NBC rằng: “Chúng tôi tin rằng, trên thực tế Saddam Hussein đang chế tạo vũ khí hạt nhân”. Ngày 17/3/2003, Tổng thống Mỹ George W. Bush tuyên bố cho Tổng thống Iraq Saddam Hussein và vợ con 48 giờ đồng hồ để rời khỏi Iraq hoặc sẽ phải đối mặt với chiến tranh. Hai ngày sau, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ diễn ra, không đếm xỉa gì đến Liên Hiệp Quốc và sự phản đối của cộng đồng thế giới.

My-rut-quan-khoi-Iraq-sau-khi-nem-nhieu-that-bai
Mỹ rút quân khỏi Iraq sau khi nếm nhiều thất bại.

Nhưng chỉ 4 tháng sau, khi đã giành được thắng lợi, tức ngày 13/7/2003, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice đã “phủ nhận” việc Chính phủ Mỹ từng nói rằng Iraq sở hữu vũ khí hạt nhân. Đặc biệt vào tháng 5/2005, bản “Bị vong lục phố Downing” bị lộ cho thấy Mỹ và Anh đã lên kế hoạch tấn công Iraq từ tháng 7/2002 cho dù nước này có sở hữu vũ khí hạt nhân hay không. Trong “văn kiện mật” có tên “Iraq: Đối tượng lựa chọn” viết rằng: “Cần có một lý do để xâm lược Iraq. Nhưng hiện tại lý do này chưa tồn tại, muốn tiến hành xâm lược một cách hợp pháp, mau chóng là vô cùng khó khăn”.

Vậy lý do gì khiến Mỹ phải xâm lược Iraq? Trong những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Công ty General Charles Wilson đã từng có một câu nói rất “nổi tiếng”: “Những gì có lợi cho Công ty General thì sẽ có lợi cho cả nước Mỹ”. Nếu có thể hiểu rõ về bối cảnh của Bush, Dick Cheney và Condoleezza Rice thì không khó lý giải vì sao “bộ ba” này lại muốn phát động chiến tranh. Bắt đầu từ năm 1950, gia tộc Bush đã bắt đầu kinh doanh dầu mỏ và trở nên giàu có. Trong những năm 1990, Dick Cheney từng giữ chức Giám đốc điều hành Công ty Harry Becton, công ty dịch vụ dầu mỏ lớn nhất thế giới. Còn Condoleezza Rice là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty dầu mỏ Chevron đồng thời có một đội tàu chở dầu mang tên mình. Đúng như một bài viết đăng trên tờ “Biên niên sử San Francisco” xuất bản không lâu sau vụ 11/9: “Phần lớn bản đồ trú ẩn của các phần tử khủng bố cũng lại chính là bản đồ các vùng sản xuất năng lượng chủ yếu của thế giới trong thế kỷ XXI. Cuộc tranh giành nguồn năng lượng tại đây – chứ không chỉ là cuộc đối đầu giữa đạo Hồi và phương Tây – sẽ là dây dẫn nổ cho cuộc xung đột toàn cầu trong 10 năm tới”.

Logic của những câu từ nói trên là: Những nơi có tổ chức khủng bố tồn tại thì nước Mỹ cũng tồn tại ở đó. Đứng sau lưng quân Mỹ là các công ty dầu mỏ đang đợi triển khai hoạt động. Đứng sau lưng các công ty dầu mỏ này lại là các ngân hàng chờ thu tiền.

Cơn khát dầu mỏ của Mỹ không chỉ bắt đầu từ năm 2003. Với nền kinh tế khổng lồ, Mỹ cần “nguồn sống” là dầu mỏ. Năm 1978, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã tuyên bố rằng: “Chúng ta hãy nói rõ lập trường của mình. Bất cứ quân đội của quốc gia nào nếu cố thử kiểm soát vịnh Persic đều sẽ bị coi là đòn tấn công vào lợi ích tối quan trọng của Mỹ, cuộc tấn công này sẽ bị đánh lui, chúng ta sẽ sử dụng bất cứ thủ đoạn cần thiết nào, bao gồm cả sử dụng quân đội”.

Việc chiếm đoạt các nguồn khai thác dầu mỏ và thu mua nó với giá rẻ là “xương sống” chính sách của Mỹ. Trong “Đánh giá chiến lược 1999” của Bộ Quốc phòng Mỹ đã viết “Mỹ đang thay đổi sự phụ thuộc quá nhiều của mình vào nguồn dầu mỏ từ Trung Đông… Trong số dầu mỏ nhập khẩu của chúng ta có tới 15% tới từ châu Phi… Các vấn đề liên quan đến châu Phi sẽ là những vấn đề hệ trọng của tương lai”. Tháng 3/2006, tướng James L. Jones, Tư lệnh Bộ Tư lệnh châu Âu của Mỹ, Tổng tư lệnh NATO đánh giá: “Kết quả thăm dò mấy năm gần đây tại Guinea cho thấy, trong vòng 10 năm tới dầu mỏ do khu vực Guinea sản xuất ra sẽ chiếm từ 25-35% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ”.

Nhưng mong muốn là một chuyện, thực tế là một chuyện khác. Đến tháng 6/2008, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố báo cáo về “Chiến lược phòng vệ quốc gia”. Bản báo cáo 29 trang này viết: “Chúng ta luôn nỗ lực giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhưng tình hình trước mắt cho thấy chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nó nhiều hơn”. Đến nước này, Mỹ chỉ còn cách hướng đến các mỏ dầu ở Bắc cực! Bắc cực trở nên hấp dẫn Mỹ vì khu vực này rất giàu tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu mỏ và khí đốt. Theo thống kê của Cơ quan địa chất Mỹ, Bắc cực chiếm khoảng 13% trữ lượng dầu mỏ và 30% trữ lượng khí đốt của thế giới (tương đương với 1,67 triệu tỉ m3); chưa kể đến trữ lượng dầu và khí ga khác như hydrocacbon trong đá phiến dầu hoặc khí mêtan ở vùng thềm lục địa.

Phong-trao-Chiem-lay-Pho-Wall-99-nguoi-dan-My-len-tieng-gay-cho-gioi-tai-phiat-My-mot-phen-kinh-hoang-2
Phong trào “Chiếm lấy Phố Wall”, 99% người dân Mỹ lên tiếng gây cho giới tài phiệt Mỹ một phen kinh hoàng!

Ngày 30/8/2008, trong báo cáo “Cuộc chiến tranh lạnh mới: Phục hồi sự tồn tại của Mỹ tại Bắc cực” do Quỹ Truyền thông Mỹ công bố đã viết: “Bắc cực đang mau chóng trở thành khu vực có lợi ích quan trọng mang ý nghĩa chiến lược đối với Mỹ. Tầm quan trọng về chính trị và kinh tế của khu vực này đang tăng lên nhanh chóng. Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú của khu vực này có thể làm cho nó trở thành khu vực có kinh tế phát triển nhảy vọt trong thế kỷ XXI… Mỹ cần xác định lại chính sách đối với vùng Bắc cực, nâng cao vai trò của Bắc cực trong chính sách ngoại giao. Nói một cách cụ thể, Mỹ cần lập ra một cơ cấu liên ngành, trong đó có sự hợp tác của Bộ Quốc phòng, Quốc hội, Cơ quan Nội chính, Bộ Năng lượng để hoạch định ra một chính sách toàn diện về Bắc cực; Mỹ cần sử dụng các biện pháp ngoại giao, quân sự và kinh tế để duy trì chủ quyền của mình tại đây; Mỹ cần lập ra Bộ Tư lệnh Bắc cực do người đứng đầu Đội tư lệnh Cảnh vệ bờ biển làm tư lệnh để phòng chống các hoạt động của các quốc gia như Nga, Trung Quốc tại khu vực này”.

Ngày 12/5/2015, Tổng thống Mỹ Barack Obama thông qua đề xuất của Tập đoàn Shell về việc khoan dầu và khí đốt tại Bắc cực bất chấp sự phản đối của các tổ chức môi trường. “Một lần nữa, Chính phủ Mỹ vội vàng cho phép thực hiện hoạt động thăm dò đầy mạo hiểm và thiếu tính toán ở một trong những vùng xa xôi và quan trọng nhất trên Trái đất” – Phó Chủ tịch Tổ chức Ocean Susan Murray, một tổ chức bảo vệ môi trường, chỉ trích. Bởi vào tháng 4/2010, vụ nổ giàn khoan dầu Deepwater Horizon của Hãng BP đã xả 4,9 triệu thùng dầu thô ra biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng vịnh Mexico, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của hàng triệu người dân trong khu vực. Đây là sự cố môi trường lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Tóm lại, với nền kinh tế khổng lồ của mình, cơn khát dầu mỏ của Mỹ dường như là bất tận! Nước Mỹ như một người lạc đường đi trên sa mạc nóng bỏng, cố uống lấy uống để nguồn nước ngầm có hạn mức. Nhưng ở ngoài kia, những quốc gia như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin đang trỗi dậy. Họ không bao giờ muốn Mỹ mãi lộng hành trên “bàn cờ” năng lượng “vàng đen” thế giới! Làn sóng quốc hữu hóa các giếng dầu, công ty dầu khí ở những nước như Nga, Venezuela, Ecuador… càng khiến Mỹ trở nên cuồng loạn, nhiều lúc Mỹ đã dùng đến cả chiêu bài từ xây mới đường ống dẫn dầu, cấm vận kinh tế đến cả bạo loạn lật đổ chế độ, khởi động “cách mạng sắc màu” để hy vọng cứu vãn tình thế cho các công ty dầu khí của mình. Tuy nhiên, sự thất bại của các âm mưu như vậy càng khiến Mỹ trở nên cô lập!

Sự lụi tàn của “giấc mộng” đế chế!

Năm 1948, George Kennan, quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ, mệnh danh là “cha đẻ của các chính sách” đã từng tuyên bố rằng: “Chúng ta chiếm khoảng 50% tài sản của thế giới, nhưng chỉ chiếm 6,3% dân số địa cầu… Chúng ta không thể không là đối tượng của lòng ghen tị oán hận. Nhiệm vụ thực sự của chúng ta trong thời gian tới là nhằm tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế cho phép chúng ta duy trì vị trí quá bất bình đẳng này… Đối với chúng ta, chủ nghĩa có lợi cho người khác và một thế giới ân trạch đều là những thứ xa xỉ phẩm”.

Để duy trì dã tâm của mình, Mỹ đã ra sức khống chế được các cường quốc. Hầu hết các quốc gia như vậy đều nằm ở Đại lục Á – Âu. Trong cuốn “Bàn cờ lớn”, Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (1977-1981) đã nhận định rằng: “Đối với nước Mỹ, đại lục Á – Âu là mục tiêu chính trị địa chính trị quan trọng nhất… Ngày nay, nước Mỹ đã giành được vị trí quan trọng quyết định trong khu vực. Việc nước Mỹ có thể duy trì lâu dài hiệu quả vị trí này hay không sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới vai trò chi phối của Mỹ đối với các sự vụ quốc tế”.

Phong-trao-Chiem-lay-Pho-Wall-99-nguoi-dan-My-len-tieng-gay-cho-gioi-tai-phiat-My-mot-phen-kinh-hoang-1

Bởi thế, sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945), Mỹ đã tạo ra khối NATO, tái vũ trang Tây Đức và đưa Tây Đức nha nhập vào NATO. Sau khi thực hiện “diễn biến hòa bình” khiến Liên Xô và Đông Âu tan rã, Mỹ đã chủ trương để NATO “Đông tiến”, đánh bom một quốc gia có chủ quyền toàn vẹn như Nam Tư và bao vây Nga. Đồng thời, Mỹ cũng dòm ngó sang châu Á, can thiệp nội chiến Quốc – Cộng ở Trung Quốc, gây ra chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên, xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, cả ba cuộc chiến này Mỹ lại không đạt được mục đích. Sự đứng vững của những người cộng sản và nhân dân ở các quốc gia này khiến Mỹ cảm thấy các “quân bài domino” của mình có vẻ sắp đổ. Để “lấy lại thể diện”, lợi dụng tình hình Liên Xô suy yếu và Mikhain Gorbachev “theo chân” mình, Mỹ đã tấn công Iraq năm 1990-1991. Các đồng minh của Mỹ tại khu vực này như Israel, Arab Saudi cũng sẵn sàng làm “nội ứng” khiến cho Mỹ phấn khởi. Đặc biệt là khi Liên Xô tan rã, Mỹ càng “diễu võ giương oai”. Bằng chứng là cuộc tấn công vào Iraq năm 2003 mà không cần đếm xỉa Liên Hiệp Quốc và cộng đồng quốc tế. Mười năm sau đó (2013), khi có đến 4.500 lính Mỹ thiệt mạng, 32.000 binh sĩ bị thương cùng với chi phí lên tới trên 3.000 tỷ USD, Mỹ mới chấp nhận rút quân về nước.

Vấn đề Trung Đông, nguồn dầu mỏ mà Mỹ khao khát không chỉ đơn giản là Arab Saudi, Iraq, Kuwait. Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ bất ngờ khi Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) tuyên bố những kẻ khủng bố đến từ tổ chức Al Qaeda của Osama Bin Laden. Vậy là Mỹ đã sáng tạo ra con “quái vật Frankenstein” vốn chỉ nhằm hạ gục kẻ thù của mình là Liên Xô, Iran thì nay nó đã quy lại để chực “ăn tươi nuốt sống” mình. Một bài báo trên tờ “Defense” của Anh phát hành tháng 1/1999 từng viết: “Vũ khí và việc huấn luyện của tổ chức thánh chiến Hồi giáo chủ yếu được sự giúp đỡ của CIA… Từ năm 1985 đến 1992, tại căn cứ huấn luyện ở Afghanistan của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo do Mỹ giúp đỡ xây dựng, đã có tới 12.500 người nước ngoài được huấn luyện để chế tạo lựu đạn, lên kế hoạch phá hoại, đánh du kích trong thành phố… Hiện nay họ bán mình cho các tổ chức khủng bố thánh chiến Hồi giáo khác nhau, bao gồm cả tổ chức Al Qaeda của Osama Bin Laden”.

Bên cạnh tổ chức Al Qaeda, Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) là một tổ chức vũ trang cực kỳ nguy hiểm hiện nay khiến cho Mỹ lo sợ. Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) vốn có tên trước đây là Nhà nước Hồi giáo Cận Đông (ISIL) hay còn được gọi là Nhà nước Hồi giáo Iraq và Syria (ISIS), vốn là “môn đệ” của Al Qaeda, nghĩa là cùng chung một “sư phụ” là CIA. Kể từ khi phát động một cuộc tấn công quy mô lớn trên lãnh thổ Iraq vào tháng 6/2014, Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đã nắm trong tay quyền quản lý một vùng đất rộng lớn, có diện tích tương đương Vương quốc Anh. Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) cũng kiểm soát các giếng dầu ở Syria và Iraq, đem về một khoản tiền khổng lồ để mua sắm thêm vũ khí, đạn dược và tuyển mộ chiến binh. Các nhà máy lọc dầu di động cũng đem lại nguồn tài chính lên tới 2 triệu USD/ngày cho Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS). Đây là điều mà Mỹ vô cùng căm ghét Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS)! Bởi nó không chỉ cướp đi các giếng dầu, lợi tức của các công ty dầu mỏ của Mỹ mà còn làm cho tình hình khai thác dầu của các công ty dầu mỏ Mỹ bị ảnh hưởng do lo sợ bị tấn công.

Theo Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) có gần 31.500 chiến binh thánh chiến ở Iraq và Syria. Một nguồn tin khác của CIA cho biết hơn 15.000 chiến binh nước ngoài đến từ 80 quốc gia, cũng đã nha nhập lực lượng này. Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đã chặt đầu James Foley và Steve Sotloff, là các nhà báo Mỹ. Mặt khác, Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) còn truyền bá quan điểm cực đoan qua tạp chí trực tuyến mang tên Dabiq. Nó được đặt theo tên một thị trấn ở miền bắc Syria. Tạp chí trực tuyến này miêu tả Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thượng nghị sĩ John McCain là “những kẻ đàn áp Hồi giáo” và cho rằng hai ông “sẽ khiến đế chế Mỹ hiện đại sụp đổ hoàn toàn”. Nó còn đăng hình ảnh gợi nên cuộc chiến khải huyền giữa chiến binh cực đoan Sunni và phần còn lại của thế giới, gồm cả hình ảnh lính Mỹ bị bao bọc trong biển lửa.

Vì đã “căng sức” trên mọi chiến trường, Mỹ chưa thể tập trung để tiêu diệt IS. Vậy là Mỹ “muối mặt” làm ngơ để cho Nga hiện diện quân sự ở đây, dù Nga được chính phủ Syria mời chính thức như một đồng minh thân hữu. Nga càng thành công trên phương diện giúp đỡ chính phủ của ông Bashar al-Assad tiêu diệt IS bao nhiêu thì Mỹ lại càng lo. Bởi vậy, Mỹ đã tính đến con bài giúp đỡ lực lượng ly khai ở Syria để cân bằng lại tương quan lực lượng ở Syria. Tuy nhiên, với vũ khí và không quân Nga, chính phủ của ông Bashar al-Assad đã giành được những thắng lợi quan trọng, không chỉ đang trên đà đánh bại IS mà còn đánh bại cả lực lượng ly khai do Mỹ “hà hơi tiếp sức” ở Syria.

Không chỉ suy yếu vì những thất bại từ bên ngoài, Mỹ cũng đã vấp phải những thất bại từ bên trong. Gần đây nhất là phong trào “Chiếm lấy Phố Wall” năm 2011. Chỉ cần nhìn vào những tấm biểu ngữ trên đường phố như: “99% dân nghèo chống lại 1% người giàu có”… là đã phần nào hiểu được căn nguyên của vấn đề. 1,4 triệu thành viên nghiệp đoàn giao thông vận tải Teamsters tuyên bố: “Không ai ngạc nhiên khi thấy “Chiếm lấy Phố Wall” giành được sự ủng hộ và nhanh chóng lan khắp nước Mỹ. Giấc mơ Mỹ của các sinh viên – những người thực sự đang nợ nần và thất nghiệp – đã biến mất. Giấc mơ Mỹ của người lao động không còn bởi lương của họ bị cắt giảm, trong khi các ông chủ ngồi trên đống lợi nhuận trị giá hàng tỷ USD. Giấc mơ Mỹ của các gia đình lao động biến mất bởi họ phải trả giá quá cao cho sự ngu ngốc và lỗi lầm của Phố Wall”.

Những người tham gia “Chiếm lấy Phố Wall” đã đưa đến những gợi mở về chủ nghĩa xã hội: đoàn kết, tình người và bình đẳng, một xã hội dựa vào nhu cầu của 99% người dân chứ không phải mong muốn của 1%. Trên trang web World Socialist, các phóng viên đã phỏng vấn nhiều thanh niên đang tham gia phong trào “Chiếm lấy phố Wall”. Eric Sutherland, 26 tuổi, tốt nghiệp đại học ở New York, khẳng định trong 26 năm cuộc đời của mình, anh nhận ra một điều chắc chắn rằng chủ nghĩa tư bản không phải đang thất bại mà đã thất bại và nước Mỹ cũng như toàn thế giới cần một xã hội vì con người. Eric tin rằng chủ nghĩa xã hội chắc chắn sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản và trên phạm vi toàn thế giới triển vọng chủ nghĩa xã hội đang dần dần định hình.

Năm 2015, Hoa Kỳ nợ 12.900 tỷ USD trong khi GDP là 18.287 tỷ USD. Trong đó Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với 1.300 tỷ USD. Ngân sách quốc phòng của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về chi tiêu với 596 tỷ USD. Rõ ràng, với lực đẩy là phong trào “Chiếm lấy Phố Wall”, 99% người dân Mỹ sẽ mong muốn về một cuộc sống tốt hơn! Bằng chứng là nhiều người dân Texas cũng mong muốn tách khỏi Mỹ sau “Brexit” vì họ vốn là một quốc gia độc lập trước khi nha nhập vào Mỹ. Hiện nay, Texas là một trong những tiểu bang có quy mô nền kinh tế lớn nhất Mỹ với 1.600 tỷ USD mỗi năm. Nếu so sánh như một quốc gia, Texas sẽ là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới xét trên GDP (trên Hàn Quốc và Australia, theo số liệu năm 2014).

Với tình hình không “trong ấm, ngoài êm” như vậy, giấc mộng đế chế của Mỹ đã tan vỡ thành nhiều mảnh!

Huế, ngày 20/7/2016

Nguyễn Văn Toàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 412

Ý Kiến bạn đọc