Truyện ngắn

Sau cuộc phóng sinh

 

Sẻ Nâu hồi tỉnh vì tiếng kêu thét của đám đông trong lồng sắt. Những bàn chân nhộn nhạo xô dạt, những chiếc móng sắc dẫm đè, những con mắt hốt hoảng, chiếc mỏ há ra vì mệt, vì khát và cả vì mệt. Ở đây, nước và thóc chỉ đủ để cầm cự, sao cho tất cả không phải chết vì kiệt sức nhưng cũng không được giúp chúng đủ lực để cất cánh bay khỏi những chòm cây kia khi cửa lồng được mở. Chiếc lồng quá chật. Phân và lông tơ vướng đầy trên những mắt lưới. Lớp mới đến theo bản năng cố tìm đường thoát. Một thằng tuyệt vọng thọc mạnh đầu vào những lỗ lưới. Một tiếng hét thất thanh, cùng lúc tất cả nhìn thấy từ một bên mắt nó máu tứa ra đỏ lòm. Cái đầu bén ngót của cọng kẽm trên lồng sắt đã cắm vào đó. Nó mù, thân nó từ đó cứ như mất thăng bằng, nghiêng dạt một phía. Một đứa khác một bên cánh bị gãy, cứ xòa xịu ra không xếp vào được, có lẽ người ta đã hơi mạnh tay khi kéo nó ra khỏi lưới lúc ở cánh đồng, tương tự trường hợp của Sẻ Nâu. Vài đứa lờ đờ đứng cú rũ trong góc lồng, lông sước xác xơ, hoàn toàn kiệt sức. Số còn lại khỏe hơn nhưng đều ở trạng thái bất ổn, khủng hoảng. Tất cả bầy chim giống nhau ở tâm trạng hoang mang, sợ hãi, nhớ nhà quay quắt, đói và khát, thiếu không khí, thiếu trời xanh. Và “ngày mai” là một dấu hỏi to đùng treo lơ lửng trên đầu chúng.

Sẻ Nâu cố đứng lên, chân trái chú sưng tấy, đau đớn. Điều đầu tiên chú nghĩ tới là an toàn của các con chú ở nhà. Giờ này có lẽ chúng đã đói lả. Sẻ Nâu hình dung lúc này chỉ một tiếng rắc của cành cây hoặc tiếng gió cọ vào mấy chiếc lá cũng làm cả 4 đứa ngoác mỏ thật to chờ đợi vì tưởng cha mẹ đem thức ăn về. Chúng đói và sẽ tuyệt vọng vì chờ đợi. Rồi còn bao nhiêu hiểm nguy khác rình rập nữa. Lão rắn ráo bữa trước cứ thập thò như một tên trộm. Rồi bọn kiến vàng a dua, ả mèo hoang lông xám bụng lúc nào cũng lép kẹp, hai mắt xanh lè hau háu. Chú Sẻ Nâu nghe đau thắt lòng, nước mắt ứa ra. Và nàng. Giờ không biết nàng đã lưu lạc tới đâu. Trong cái đêm đầu tiên ấy, người ta đưa tất cả tới chỗ tập kết hàng. Nàng bị giam trong một chiếc lồng khác nhưng ít ra qua những song sắt, vợ chồng còn có thể nhìn thấy nhau. Những bước chân người đi lại nhộn nhạo. Người ta ngã giá. Se sẻ, sắc ô hôm nay 15 ngàn một con. Mắc vậy! Cò kè một lát. Ngày rằm lớn phải khác chớ! Ô kê!… Một bàn tay thò vào. Năm ngón giương ra. Hốt. Đếm. Tiếng kêu choen choét. Giọng đếm từ tốn. Tiền rút xoèn xoẹt. Và đó là lần cuối cùng chú nhìn thấy vợ. Đôi mắt nàng thảng thốt, kêu cứu.

Những chiếc lồng sắt sau đó được chất lên xe. Bạt phủ xuống tối om rồi xe chạy đi. Tiếng lao xao bên trong cũng tắt dần nhường chỗ cho sự im lặng nặng nề. Khá lâu, chỉ còn nghe thấy tiếng gió vù vù cùng tiếng còi xe, những cú thắng rít khiến cả đám ngả nghiêng xô vào nhau cho biết xe đang đi vào một nơi đường sá đông đúc. Và ai cũng hiểu rằng xe chạy càng lâu, quê hương càng vời xa.

*
Người ta gọi đó là nghi thức phóng sinh. Có cái gì đó rất khác biệt giữa sự hỗn loạn bên ngoài và cái trang nghiêm tĩnh tại ở bên trong sân chùa. Tiếng một vị sư phụ đọc trên loa một bài kinh dài, đám đông phụ họa theo sau. Những khuôn mặt thành kính, những đôi mắt nhắm nghiền, bàn tay chắp trước ngực, mái đầu cúi thấp mỗi khi có tiếng chuông vang lên. Mỗi người đều đeo đuổi một ước nguyện và cố gắng bày tỏ một cách rành rẽ nhất đến ơn trên. Những chiếc lồng sắt xếp ngay ngắn, tiếp đó là những chậu to chậu nhỏ đặt phía trước cùng với hương đăng, hoa quả xếp một cách nghiêm cẩn trên bàn. Đám “cầm sinh” cựa quậy, nôn nóng. Sẻ Nâu lặng lẽ quan sát mọi thứ, tự trong đáy lòng, chú thấy có chút bất bình khi người ta bảo bọn chim cá vì tội lỗi mới hóa kiếp cầm sinh. Phải hàm ơn được thả hay oán trách vì bị bắt vào đây? Kết thúc bài kinh, những chiếc lồng sắt được mở cửa trong tiếng niệm “A di đà Phật” liên hồi. Bọn chim khỏe mạnh bay vụt ra trong sự hoan hỉ.

Đứa gãy cánh cùng vài đứa nữa chỉ trượt được một quãng ngắn rồi cố lẩn vào dưới mấy chậu kiểng, tránh những bàn chân người to lớn huỳnh huỵch qua lại. Vài đứa đi bộ lít nhít trên sân gạch suýt bị giẫm trúng. Vài đứa nằm ngay đơ, thi thể bắt đầu cứng, thật không ra làm sao, lập tức chúng bị ném vô thùng rác. Sẻ Nâu dùng hết sức tàn bay vụt lên, đâu cũng được, chú nghĩ, miễn là ra khỏi cái đám đông người-là-người này, những sinh vật to lớn với những hành động, suy nghĩ rất bất nhất. Cơ thể chú dường như không giữ được thăng bằng nữa nên thay vì vụt lên những vòm cây rậm rạp quanh chùa, chú lại thấy mình chao xoạc vào một gác cao, giữa một khóm tượng. Cố gắng quá mức làm chú kiệt sức, cái chân đau buốt lên đến óc khiến chú gần như tự thả rơi mình. Một lúc lâu tĩnh tâm, chú nhận ra mình nằm lọt trong một cánh sen khum khum dưới chân đức Quán Thế Âm đặt bên dưới sảnh chùa rộng thênh thang và đầy vẻ trang nghiêm, u tịch. Mùi khói nhang cay xè. Chú ngước lên nhìn, khuôn mặt Ngài từ bi, thanh thoát, bao dung.

So-612--Thien-nhien---Pham-Van-Tien---Anh-1
Thiên nhiên – thảm len – Phạm Văn Tiến.

Chợt có tiếng động phía cầu thang, Sẻ Nâu co rúm mình, mắt nhắm chặt chờ đợi. Người ta có thể sẽ ném chú ra ngoài không thương tiếc như ném một cục đất bởi dù gì chú chỉ là một con chim nhỏ thương tật, sao lại có mặt ở chỗ thâm nghiêm này. Nhưng… một bàn tay đang nâng nhẹ chú lên. Bàn tay nhỏ, mềm mại và thơm tho. Sẻ Nâu hé mắt, thấy một chú tiểu với gương mặt hồng hào và đôi lông mày thanh tú lạ kỳ đang chăm chú nhìn mình.

- Ô, chú chim sẻ bị thương! Chú là chim phóng sinh à? Chú đói không?

Rồi không đợi trả lời, chú tiểu chạy vụt đi, lúc sau đem tới một ít gạo và cái chung nhỏ đựng nước. Rồi tỉ mỉ xem xét vết thương cho Sẻ Nâu. Tự dưng, chú sẻ thấy cảm mến, gần gũi vô cùng với chú tiểu này. Sẻ Nâu rụt rè mổ những hạt gạo trắng, uống một ít nước. Một cảm giác mát rượi dễ chịu chạy dọc cái cổ khô khát của chú. Cái bầu diều chặt lên tí chút, và chú thấy khỏe, tỉnh táo hơn.

- Cảm ơn. Tôi hứa sẽ rời khỏi đây.

- Không! Chú sẻ mà ra ngoài lúc này thì người ta sẽ lại bắt chú. Nhìn kìa!

Chú tiểu nói, vừa khom người chỉ tay ra phía cửa sổ. Sẻ Nâu ghé mắt theo ngón tay chú. Những cành cây xanh um xào xạc gió, và nếu nhìn kỹ sẽ thấy những chiếc bẫy với thóc, gạo hay ruột bánh mì bóp nhỏ, treo đu đưa trên đó. Giờ thì Sẻ Nâu hiểu, tại sao lại có những con chim yếu ớt, trụi hết lông và kiệt sức tới chết như vậy. Thì ra người ta đã giăng lưới, đặt bẫy quanh ngôi chùa để bắt lại những con chim đã được phóng sinh để bán cho những tốp người mới đến sau. Chú nghĩ mãi vẫn không hiểu nổi con người. Tại sao lại bắt chúng, đem thả ra rồi gọi là phóng sinh? Và có đúng chúng vì tội lỗi ở kiếp trước mà sinh ra làm con vật cho người hành hạ?

- Chú tiểu có thể cho tôi biết phóng sinh là gì không?

Chú tiểu ngẩng lên. Đôi mắt tròn long lanh sáng. Những ngón tay hồng hào đưa lên lùa lùa vào mớ tóc tưởng tượng trên đầu.

- Um… là… là… Nếu chú sẻ muốn biết thì tôi hứa lúc nào tiện sẽ hỏi sư phụ giùm chú nha!

- Cảm ơn.

- Chú sẻ khóc à? Mắt chú đầy nước kìa!

- Tôi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ lũ con thơ nhỏ lắm.

- Quê chú sẻ ở đâu?

- Đồng xanh.

- Đồng xanh ở đâu?

- Bên một bờ kinh có hàng dành dành lúp xúp với những bông hoa nở xòe nhìn như chiếc chong chóng trắng muốt, đẹp một cách giản dị. Hàng cau nghiêng bóng xanh um, tổ của tôi trên đó, bằng cỏ khô, rất ấm. Những cái trứng xinh xinh màu trắng lấm chấm xám, là những cái trứng ấp iu đầu tiên của tôi và nàng. Rồi tiếng ríu rít và những cái mỏ mở to run run chờ đợi. Chúng tôi cưng yêu đàn con của mình biết chừng nào. Phía ngoài kia là cánh đồng xanh mướt mắt. Và nàng luôn bên cạnh tôi, khi nhặt thóc, lúc bắt sâu, rồi thỉnh thoảng cao hứng vụt sải cánh cùng nhau, thả trong tiếng gió vu vu những lời yêu thương. Hẹn khi những đứa trẻ cứng cáp, chúng tôi sẽ đưa chúng ra đây để cùng tập bay cho chúng. Dạy cho chúng những kiến thức đầu tiên về cuộc sống ở đồng xanh.

Chú tiểu không hiểu hết được những gì Sẻ Nâu nói. Cái gì là tình yêu, cái gì là gia đình, là hạnh phúc khi mà mẹ sinh chú được vài ngày đã đem chú đặt trước cửa chùa trong một cái thùng các-tông cùng ít quần áo. Nhà chú có phải là mái chùa này không? Người thân chú chính là sư thầy và hạnh phúc là mỗi ngày đọc kinh niệm Phật, rồi tập viết chữ? Mất những thứ ấy, chú xem như chẳng còn gì. Chú không thể tưởng tượng nổi khi ấy mình sẽ ra sao. Nhưng mà Sẻ Nâu thì có thể sẽ mất hết. Một niềm cảm thương tràn ngập trong hồn chú tiểu. Bàn tay chú vuốt nhè nhẹ trên lưng Sẻ Nâu như cố truyền đi hết, bù đắp thật nhiều những yêu thương và cảm thông mà chú có.

Mỗi ngày chú tiểu đến, đem theo đồ ăn và những lời an ủi dành cho Sẻ Nâu. Được chăm sóc, vết thương chú sẻ cũng dần hồi phục. Đổi lại Sẻ Nâu kể cho chú tiểu nghe những câu chuyện về đồng xanh, về loài chim, những loài cây loài hoa mà chú tiểu chưa từng biết tới. Và cả những giấc mơ như những bức tranh hỗn loạn chồng chéo hình ảnh, màu sắc, âm thanh gần đây của Sẻ Nâu.

Hôm qua, Sẻ Nâu nhìn thấy trong giấc mơ cái mái lá nằm day lưng về phía bờ kinh của Năm Tam. Người đàn ông dáng dấp khắc khổ sống bằng việc cày thuê cuốc mướn, nhưng gần đây xoay ra làm nghề đánh bắt chim trên cánh đồng. Một người quen đã giới thiệu để anh ta sắm một tay lưới vừa dài vừa rộng, gọi là lưới tàng hình. Giờ thì Sẻ Nâu mới nhận ra, “tàng hình” vì nó trong suốt, những sợi lưới mỏng nhưng chắc chắn, căng lên giữa đất trời có mà như không, và những thằng se sẻ, sắc ô đố có thể nhận ra, cứ hồn nhiên bay, hồn nhiên sà xuống nhặt thóc rụng sau những bó rơm. Vướng vào rồi càng vùng vẫy thì càng bị thít chặt. Năm Tam vui mừng vì thu nhập khấm khá hơn trước.

Vợ anh ta thường cưỡi một chiếc xe máy cũ kỹ, chở theo chiếc lồng sắt được chằng chéo kỹ lưỡng ở đàng sau. Chiếc xe rẽ cánh đồng mà chạy, hai vạt áo ngoài của chị ta sườn sượt gió. Mọi ngày, có một đứa nhỏ ngồi trên chiếc ghế đặt giữa hai chân chị, ở phía trước. Hôm nay thì không, chị để nó ở nhà, chị dặn con chị ngó chừng em, còn cẩn thận kéo cái rào chắn cửa trước, cửa sau. Ra lộ bỏ mối chim chút xíu chị về thôi mà.

Trong mái lá nhỏ, đứa con gái mặt mũi tèm lem lọ nghẹ đang nấu cơm. Củi ướt, lửa cứ tắt ngúm, nó mọp xuống cầm cái ống tre thổi phù phù. Một chút bếp lại tắt. Khói um lên khiến mắt nó cay xè như khóc.

Đứa con trai cỡ 2 tuổi bụ bẫm đi chập chững loanh quanh, cố trèo qua cái rào thấp từ cửa sau nhà xuống cầu ao. Trầy trật mãi rồi nó cũng lọt được ra ngoài. Nó thích thú khoắng chân xuống nước, khoắng mạnh hơn cho nước vọt văng tung tóe. Nó cười réo rắt. Rồi “tõm”, nó rơi xuống nước. Hai bàn tay nhỏ xíu chới với, khua khoắng. Con chị vẫn chổng mông thổi lửa. Một lúc, nó chực nhớ, hốt hoảng chạy tìm em. Nó gọi “Ty ơi, Ty ơi!”, đâm đầu ra cửa trước, quay lộn vào cửa sau như con gà mắc đẻ, rồi ngó ra con kinh đục ngừ, “Ty ơi”, nó ôm cây trụ cầu tuột xuống tìm em.

Mặt trời chiều chiếu những tia rẻ quạt màu vàng cam xuyên qua những kẽ lá, tan loãng xuống dòng kinh… Trong cái cảnh chiều buồn u ám đó, Năm Tam cứ ngửa mặt gào thét gọi trời. Rồi như nổi cơn điên loạn, anh ta túm lấy người vợ đang bò lết thảm thiết bên cạnh mà đánh mà đá. “Đồ đàn bà hư! Sao mày ác vậy? Mày giết con tao rồi! Đi, đi khỏi đây, không tao giết! Đi!…”. Người đàn bà ôm mặt lủi đi, bước chân xiêu vẹo, tiếng khóc khản đặc.

Sẻ Nâu đứng trên chiếc tổ trống không, rối tung sợi cơ của mình, chứng kiến hết, nước mắt chú ứa ra. Sau cuộc phóng sinh trở về, giờ thì chú không còn vợ, không còn con. Năm Tam với chú, đều thật đáng thương.

Sẻ Nâu kết thúc câu chuyện trong giấc mơ của mình… Nhìn lên, thấy chú tiểu hai tay ôm mặt, mồ hôi lấm tấm hai bên thái dương, miệng không thôi niệm “A di đà Phật”.

*
Ít ngày sau, một sáng, chú tiểu chạy lên, vẻ hoan hỉ.

- Tôi đã hỏi giúp chú sẻ rồi. Sư phụ nói phóng sinh là khi nhìn thấy chúng sinh bị nhốt, bị giam giữ hay gặp nạn rồi ta mở lòng từ bi giúp giải thoát, cứu lấy mạng sống người, vật đó. Vậy chú sẻ ráng khỏe, rồi tôi sẽ phóng sinh cho chú.

- Tôi khỏe rồi, chú tiểu coi nè!

Sẻ Nâu mừng rỡ, cất cánh bay vòng vòng trong vòm nhà. Đức Phật mỉm cười, chú tiểu thì chạy lon ton ở phía dưới cổ vũ. Giọng chú cười trong veo như tâm hồn trong veo của chú. Thật an yên.

Ngày đẹp trời. Chú tiểu đặt Sẻ Nâu vào tay áo mình, đi qua cái cổng nhỏ ở hậu viên chùa, men theo con đường dẫn ra bờ sông vì chú nghĩ chỗ đó có nhiều cây cho Sẻ Nâu. Chú sẻ có thể bay dọc theo bờ và từ không gian rộng lớn của mặt sông, chú sẽ dễ dàng phóng tầm mắt tìm về đồng xanh quê hương mình.

Chú tiểu đặt Sẻ Nâu trên bàn tay nhỏ của mình, xòe ra.

- Tôi sẽ rất nhớ chú, Sẻ Nâu!

- Tôi cũng vậy, ân nhân của tôi.

Giọng Sẻ Nâu xao xuyến. Rồi chú xòa cánh vụt bay. Thoắt cái, bóng áo nâu chỉ còn là một chấm nhỏ trong mắt chú. Chú đưa mắt ra xa nhưng mãi vẫn chưa thấy một mảng xanh rộng lớn nào. Quê nhà ở đâu? Trời vẫn xanh ngát. Trong cái không gian trong xanh ấy, đâu là những tấm lưới tàng hình được con người giăng ra? Và trong những âm thanh ríu rít dưới kia, đâu là giọng đồng loại của chú bị buộc phải cất tiếng trong vai trò của những con chim mồi?

Sẻ Nâu cứ bay mãi, bay mãi. Đôi cánh mỏi rã rời.

“Đồng xanh của ngày xưa đâu? Ai chỉ giùm tôi !”.

Hoa Cau
(Quận 12 – TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 612

Ý Kiến bạn đọc