Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Sân khấu – khán giả, thành phố Hồ Chí Minh 30 năm tương tác và đổi mới

Khi Đảng chủ trương đổi mới, cả đất nước chuyển mình bắt đầu có những thay đổi từ chế độ kinh tế, văn hóa xã hội bao cấp sang hoạt động thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cuộc sống tinh thần đã thoáng hơn, chuyển động từ đóng sang mở. Văn học – nghệ thuật có sự thông thoáng, cởi mở trong hoạt động sáng tác, biểu diễn và quần chúng có được điều kiện tiếp cận với nhiều cái mới lạ, hiện đại của văn hóa, khoa học, công nghệ cao từ các nước trên thế giới và khu vực. Đồng thời cũng tiếp cận với văn hóa đại chúng toàn cầu do chủ trương hội nhập. Sự hưởng thụ mang tính chất thụ động ấy của khán giả thành phố cũng có hai mặt tốt và chưa tốt. Trong bài tham luận này chúng tôi chỉ muốn nói tới mối quan hệ tương tác giữa sân khấu với khán giả của mình theo tinh thần đổi mới để phát triển. Phạm vi đề cập tuy hẹp nhưng cần thiết để tìm ra giải pháp cho những mâu thuẫn của quan hệ sân khấu – khán giả – sân khấu.

I. Những cái được của sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh

Thành quả của đổi mới là ngày hôm nay thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là thành phố của sân khấu cải lương mà còn là thành phố của sân khấu kịch nói. Biểu hiện rõ nhất là từ khi có chủ trương đổi mới các nghệ sĩ trẻ, những tinh hoa của nghệ thuật biểu diễn đã tập hợp nhau lại xung quanh Hội Sân khấu thành phố, thành lập nhóm biểu diễn vở kịch Dư luận quần chúng. Một hình thức câu lạc bộ thể nghiệm, tiền thân của Nhà hát Kịch – Sân khấu nhỏ gọi tắt là Nhà hát 5B Võ Văn Tần.

Lực lượng tham gia sân khấu nhỏ là các diễn viên, đạo diễn được đào tạo từ trường Nghệ thuật Sân khấu 2. Lần đầu tiên họ mang những tiết mục được sáng tạo từ nhà trường ra trình diễn trước khán giả thành phố và được đón nhận một cách nồng nhiệt. Sau đó suốt 10 năm tồn tại và phát triển, khán giả được xem rất nhiều vở diễn hay từ sân khấu thể nghiệm 5B Võ Văn Tần. Mười năm này (1986 – 1996), sân khấu nhỏ đã thu hút rất đông khán giả trong đó có nhiều người lần đầu coi kịch. Hầu hết đều yêu thích những vở diễn hay mà họ được xem. Nhiều người đến xem lại lần hai lần ba một vở diễn. Thời gian 10 năm đầu, sân khấu thành phố đã tạo được lượng khán giả khá đông đảo. Từ đây là một quá trình chuyên môn hóa cao, chuyên nghiệp hóa nghệ thuật biểu diễn của các diễn viên và nghệ thuật trình diễn của Nhà hát Kịch – Sân khấu nhỏ.

Có khán giả mua vé nghĩa là người nghệ sĩ sống được bằng nghệ thuật của anh ta. Mọi khâu kỹ thuật và nghệ thuật đều hướng tới trình độ chuyên môn nghiệp vụ và như vậy thành phố đã thực sự có một đời sống sân khấu. Dẫn đến hiện thực rất đáng mừng là sân khấu thành phố đỏ đèn biểu diễn hàng đêm.

Hoi-thao-Van-hoc---Nghe-thuat-TPHCM---30-nam-doi-moi
Hội thảo khoa học Văn học – Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh – 30 năm đổi mới – 28-9-2017.

Có thể nói thời gian này Sân khấu 5B chiếm một vị trí rất cao trong lòng khán giả với nhiều vở diễn tầm cỡ như: Tiếng giày đêm, Dạ cổ hoài lang, Lôi vũ, Chuyện bây giờ mới kể, Ngụ ngôn năm 2000… Hơn thế nữa, khán giả của Sân khấu 5B được thưởng thức tài năng của các diễn viên yêu thích như Thành Lộc, Kim Xuân, Quốc Thảo, Hồng Vân, Hồng Đào… trong nhiều vở kịch nước ngoài thuộc dạng kiệt tác hoặc kinh điển.

Được thưởng thức cái hay cái đẹp của vở diễn cả về hình thức và nội dung, thị hiếu của công chúng khán giả dần được nâng cao về tư tưởng, về thẩm mỹ. Từ chỗ chưa biết đến biết, sự thưởng thức ngày càng cao, càng khe khắt của khán giả đã ảnh hưởng tích cực đến tinh thần sáng tạo của những người làm sân khấu.

Trước nhu cầu xem kịch của khán giả, không gian Sân khấu 5B trở nên chật chội buộc người làm sân khấu phải mở rộng địa điểm, sàn diễn mới, để đáp ứng đòi hỏi của công chúng kịch nói và một loạt các sân khấu mới ra đời, hoạt động liên tục, đỏ đèn hàng đêm như các sân khấu Idecaf, Phú Nhuận, Kịch Sài Gòn, Nụ cười mới… Sự xuất hiện của các sân khấu xã hội hóa đã làm nóng lên đời sống sân khấu với lượng khán giả nô nức đến các phòng vé. Dư âm tích cực này của sân khấu thành phố đã dẫn tới việc Bộ Văn hóa – Thể thao đã tổ chức “Liên hoan sân khấu xã hội hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Liên hoan này là sự công nhận chính thức của Nhà nước đối với sân khấu xã hội hóa ở phía Nam, đã làm nức lòng giới sân khấu và khán giả cả nước. Đó là những năm 1997 đến 2006 – 10 năm sân khấu xã hội hóa ở đỉnh cao hoạt động của mình.

Nhìn lại quá trình 20 năm tồn tại (1986 – 2006), có thể rút ra đôi điều có ích cho người làm sân khấu.

1. Sân khấu phải có khán giả và nếu chưa có phải tìm cách tạo ra khán giả cho riêng mình. Tạo ra khán giả bằng cách thu hút họ bằng chất lượng cao của vở diễn, tạo cho khán giả thói quen thưởng thức nghệ thuật. Đó là cách làm của các sân khấu xã hội hóa thời gian này.

2. Mỗi sân khấu phải có cái riêng của mình để khán giả lựa chọn phong cách, lựa chọn sự thưởng thức. Đã thấy trong thời gian này có sự phân tán khán giả theo sở thích của số đông.

Ví dụ: Thích xem diễn xuất giỏi thì đến với Idecaf.

Thích xem kịch văn học đến với Sân khấu Hồng Vân.

Thích xem kịch chính luận đến với 5B.

Thích hài đến với Kịch Sài Gòn.

3. Cần một định hướng đúng đắn để sân khấu xã hội hóa hoạt động theo cơ chế thị trường phát triển lành mạnh một cách toàn diện.

Chúng ta đã rất quan tâm đến việc định hướng qua các kênh báo chí làm lý luận – phê bình, nhưng do người làm lý luận còn thiếu và yếu, hơn nữa do chưa có kinh nghiệm về thị trường nên sân khấu xã hội hóa từ thập niên 2006 – 2016 đã từ từ tách ra khỏi định hướng ban đầu.

II. Từ sau liên hoan sân khấu xã hội hóa 2006, sân khấu xã hội hóa Phú Nhuận khai trương

Vở Người vợ ma ngay lập tức trở thành “thế mạnh” thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ, loại kịch kinh dị, ma quái ra đời kéo theo hàng loạt sân khấu làm theo như sân khấu Superbowl, Kịch Sài Gòn, Thế giới trẻ với các tiêu đề gây tò mò, cảm giác kinh dị sợ hãi như Quả tim máu, Căn hộ 404, Sám hối, Thứ sáu ngày 13 (Kịch Phú Nhuận); Hồn trinh nữ, Hồn ma báo oán, Áo cho người chết, Biệt thự ma (Kịch Sài Gòn); Họa hồn, Am khuy (Thế giới trẻ) và nhiều nữa… Hầu như là khuynh hướng chính làm kịch kinh dị, kịch ma của các sân khấu khác. Những ông bầu sân khấu chủ trương loại hình sân khấu này lập luận: Trong lúc khó khăn về khán giả chúng tôi phải thu hút họ trước đã, khi ổn định khán giả rồi sẽ làm các vở kịch tử tế. Điều này cũng phải đến bây giờ sân khấu Thế giới trẻ mới thực hiện. Phải thừa nhận một điều là lúc đầu loại kịch kinh dị này rất “ăn khách”. Người xem rất thú vị khi thấy mình sợ hãi, giật mình, hú hét trước những cảnh âm u ghê rợn, nhất là những cảnh bạo lực đâm chém. Với quan điểm làm như vậy để chống cái ác. Nhưng những người làm sân khấu chưa lường trước được hiệu ứng ngược của những cảnh rùng rợn này. Tất cả để thu hút khán giả, giai đoạn 10 năm gần đây nhất từ năm 2006 – 2016, hầu như loại kịch này chiếm lĩnh các sàn diễn. Đây là điều rất đáng lo ngại bởi chính người làm sân khấu cũng thấy điều này. Sân khấu ma, kinh dị, hài tầm thường vô bổ, vô nghĩa đang làm giảm sút dần số lượng người xem. Những cảm thụ thẩm mỹ của họ ngày càng xuống cấp, những cảm thụ văn chương ngày càng báo động. Còn khán giả thì từ người thưởng thức xuống hạng trở thành người tiêu thụ. Điều lo ngại nhất là để sân khấu rơi vào suy thoái – một dạng suy thoái văn hóa sẽ rất khó vực dậy khi khán giả là người tiêu thụ thì sân khấu cũng trở nên tầm thường bởi sự dễ dãi của cả người làm sân khấu lẫn người xem. Chất lượng nghệ thuật giảm, chất lượng giải trí tăng và sân khấu xuống cấp dần.

Nói như vậy không có nghĩa là toàn bộ sân khấu đều xuống cấp hay toàn bộ khán giả đều có thị hiếu kém, thẩm mỹ yếu, trình độ thưởng thức tồi… Khán giả không đến với sân khấu vì đến ngày nay những gì sân khấu làm để lôi cuốn họ đã bão hòa, hơn nữa nhiều khán giả đến sân khấu không hoàn toàn để giải trí. Nhưng điều khiến họ quay lưng với sân khấu là sự tầm thường hóa từ kịch bản đến đạo diễn dàn dựng và diễn xuất của diễn viên. Khi tìm những nguyên nhân của sự suy thoái về chất lượng nghệ thuật cũng như tư tưởng, nên chăng người làm sân khấu tự tìm ở bản thân mình.

III. Đầu tư cơ sở hạ tầng, đến tạo không gian cho sân khấu trình diễn, sáng tác…

Chúng ta cũng nói đến sáng tạo ra những tác phẩm đỉnh cao. Điều nào chúng tôi thấy đều cần cả. Nhưng có một điều ít người quan tâm và nhìn nhận ra là sân khấu đang chạy theo khán giả, đáp ứng cả những nhu cầu tầm thường của họ. Mười năm trở lại đây đã chứng minh điều đó. Lẽ ra chúng ta phải nỗ lực làm sao để sân khấu dẫn dắt người xem, đi trước khán giả một bước, nâng cao tầm thị hiếu của họ. Công việc định hướng này khó khăn nhưng không thể không làm. Biết rằng nói thì dễ, làm mới khó nhưng chúng ta phải làm để trả lại cho sân khấu những gì đã mất.

Giải pháp tốt theo chúng tôi không phải là hạ xuống chất lượng nghệ thuật cho bằng khán giả mà là phải nâng trí thức thị hiếu của khán giả lên ngang tầm trí thức của người nghệ sĩ. Và như vậy nhà quản lý phải có chiến lược lâu dài nâng cao dần cảm thụ văn chương và cảm thụ thẩm mỹ cho khán giả và cho cả người làm sân khấu.

Nếu kinh tế thị trường cần người tiêu thụ, thì văn học – nghệ thuật cần người biết thưởng thức. Trong thưởng thức có hưởng thụ, khen chê… nhưng không thụ động chỉ tiếp nhận một chiều từ sân khấu mà còn cả sự phản hồi ngược lại từ khán phòng. Nếu giữa sân khấu và khán phòng có sự đồng điệu, giao thoa thì sân khấu có sự thăng hoa và phát triển lên một tầm cao mới.

Rất tiếc là bên cạnh những cái được của hội nhập, chúng ta cũng phải chịu luôn những cái không mong muốn, không khuyến khích của văn hóa đại chúng đang lôi cuốn đám đông tuổi trẻ vào các trò, các chiêu giải trí mà diễn biến thính thị của nó tuy hấp dẫn nhưng ẩn chứa không ít những nguy cơ ảnh hưởng đến bản sắc của nghệ thuật, trong đó có thị hiếu của cả người làm sân khấu lẫn khán giả. Đó là nguy cơ nghiệp dư hóa sân khấu phần lớn do người làm sân khấu muốn tồn tại phải hạ thấp mình xuống cho ngang bằng với khán giả mua vé. Người làm văn học – nghệ thuật là một bộ phận của trí thức, sự sáng tạo là kết quả của hoạt động trí tuệ. Người xem biết thưởng thức nghệ thuật cũng là những trí thức như nghệ sĩ. Cách xem, thái độ xem của họ nâng cánh bay của nghệ sĩ lên một tầm cao mới.

Cũng lại rất tiếc là khán giả sân khấu hôm nay đang là những người tiêu thụ, sở thích của họ là giải trí, và rất dễ dãi trong tiếp nhận tác phẩm sân khấu.

Từ nhận thức này đi đến một nhu cầu cấp bách là cần một chiến lược nâng cấp trình độ thưởng thức và hưởng thụ cho khán giả của sân khấu. Sự xuất hiện các tài năng trong sáng tác, dàn dựng và biểu diễn đều có xuất phát điểm từ trình độ dân trí, từ trí thức của người làm ra sản phẩm và người thụ hưởng sản phẩm.

NSƯT Trần Minh Ngọc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 473

Ý Kiến bạn đọc