Tản văn

Sắc mây ngày cũ…

 

Tôi sinh ra và lớn lên nơi vùng quê, chạm tay vào kí ức đâu cũng gặp toàn mây tre nứa lá. Thứ mọc ở đồng, thứ sinh miệt núi ấy vậy mà vẫn chung lưng đấu cật (cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen) cùng nhau phục vụ người quê, giữ gìn, tạo dựng hồn quê. Rào dậu liếp phên, nong nia thúng mủng… thậm chí đến bàn ghế chõng giường một thời xứ quê cũng làm từ mây tre nứa. Trong kí ức tuổi thơ tôi nứa tre dễ biết bởi vườn nhà không thiếu, riêng cái dây mây thì lạ lẫm. Đồng bằng dây mây không mọc được. Mẹ bảo: Muốn “bứt mây” phải lên rừng…

Lần đầu tôi chính thức biết tới sợi dây mây là khi đã qua cái thời “đồng ấu”, mẹ cho theo lên rừng tập sự bứt mây hái củi. Ngày ấy rừng còn xanh lắm, không trống huơ trống hoác như bây giờ. Dẫn tôi tới một bụi cây rậm rì thân ngửa thân nghiêng lởm chởm gai góc, mẹ chỉ: Đấy, mây đấy! Trời ạ, tôi trố mắt nhìn bụi “mây” tưởng chừng như không chút liên quan tới thứ dây mây thành phẩm óng sắc vàng nâu, suôn bóng trên những món đồ gia dụng thường ngày. Gọi là bụi gai mới đúng bởi những “dây” mây nằm nghiêng nằm ngửa; có bụi nằm xoài luôn xuống đất, thân nào thân nấy lởm chởm gai. Gai mây dài cứng nhọn, khẽ đụng vào là rách da tuôn máu ngay, rất khiếp!

So-547--Anh-minh-hoa---Sac-mau-ngay-cu---Anh-1

Mẹ khéo léo dùng rựa bén luồn cắt gốc từng cây mây một. Những bụi mây nằm xoài được mẹ ưu tiên chọn trước. Mẹ bảo đó là mây già, sợi sẽ bền, dẻo hơn mây non. Gốc cắt xong mẹ dùng rựa khéo léo đè phần tiếp giáp giữa lưỡi và cán lên ngang sợi mây. Chân đạp giữ rựa, tay mẹ cầm gốc cây mây rút mạnh! Kì diệu chưa, mẹ rút tới đâu, phần vỏ/gai của cây mây bị giữ ngang thân rựa tới đó. Giờ thì trên tay mẹ mới đúng là sợi dây mây sắc vàng nâu suôn óng; cái sắc mây tôi vẫn thường nhìn ra trên từng món đồ gia dụng thường ngày…

Dây mây bứt về được mẹ chẻ, vót, hơ lửa; xong dành đem “gia cố” những cái vành thúng mủng rổ rá nong nia xài lâu ngày xuống cấp có nguy cơ bị bung. Còn nữa: cột tao (thanh) gióng, bó cán chổi; cả những thanh róng chuồng bò chuồng heo sút dây lỏng lẻo mẹ cũng dùng dây mây buộc kì cứng cáp mới chịu thôi. Cha thấy mẹ suốt ngày loay hoay với những việc làm (đáng ra thuộc phần cha) chỉ biết chép miệng lắc đầu: Lẽ ra bà phải… làm chồng tui mới đúng! Mẹ cười xòa…

Có lẽ ám ảnh “tiêu cực” nhất trong kí ức tuổi thơ tôi liên quan tới sắc mây ngày cũ chính là những… chiếc roi mây. Ở trường thầy giáo có roi mây. Về nhà, mẹ cũng có một chiếc roi mây giắt trên mái bếp. Răn đe là chính, nhưng mỗi lần phạm lỗi nghe tiếng rút soạt roi mây là đủ vãi… linh hồn chớ cần chi đợi đánh! Ghét cây roi mây, nhưng cũng phải công nhận rằng: với riêng tôi, nó cực kì tác dụng. Nhớ ngày nhỏ tôi không tối dạ nhưng lại là đứa chây lười “có mã số”. Vậy nên công việc, học hành rất miễn cưỡng. Mẹ biết thóp: thế là ngoài cây roi “vũ trang” ở nhà mẹ còn mang tặng thầy giáo thêm cây roi mây dài chuốt bóng lại cố tình dặn to để tôi nghe tiếng: “Nó mà lười học thầy cứ việc quất!”. Kết quả những năm tiểu học tôi thành học sinh khá giỏi nhờ ham học thì ít mà nhờ… sợ roi thì nhiều. Quên nói, nhà vẫn còn một cây roi mây nữa mẹ cấp cho cha để trị mấy chú bò. Cây roi mây ấy không đánh thì thôi, hễ vút một phát là lằn lưng. Vậy nên lũ bò rất chi sợ hãi. Được cái ba tôi hiền, tính thương súc vật nên chỉ con nào “ngoan cố” lắm mới bị ăn roi; còn lại đa phần cũng chỉ dậm dọa hoặc “đánh hù” cho vui. Ấy vậy, nhưng bữa nào cha đi cày quên cây roi mây là lũ “ôn thần” đánh hơi ra lập tức dở chứng ngay, dùng roi tre không sợ!

Xa lắm rồi sắc mây ngày cũ…

Y Nguyên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 547

Ý Kiến bạn đọc