Tản văn

Rú xanh

 

“Thứ nhứt mả đá mả đe, thứ nhì bàu Cạn, thứ ba truông Đình”. Làng tôi có câu ca như vậy để chỉ 3 nơi linh thiêng nhất của làng, mà theo lời của các cụ bô lão thì 3 chỗ đó có nhiều ma lắm. Bàu Cạn ở ngay độn thẳng với xóm tôi, cứ lên độn đi khoảng 1 cây số là tới; gọi bàu Cạn vì ở đây mùa mưa mới có nước, còn mùa hè là một bãi cỏ xung quanh, là những lùm cây rậm rạp. Thuở nhỏ mạ tôi vẫn hay dặn mấy anh em: “Lên độn chơi mấy con không được tới bàu Cạn!”. Nghe lời mạ, tôi cũng sờ sợ, nhưng khi có năm bảy đứa trong xóm cùng đi chơi thì chúng tôi cũng đã… tới bàu Cạn. Do ít người lui tới, nên bàu Cạn là địa điểm lý tưởng của nhiều loài chim trời. Những loài chim lớn tôi không biết tên thỉnh thoảng vụt lên đôi sải cánh kiêu hãnh từ các bụi rậm; rồi những loài chim thân thiết như chào mào, chàng làng, chiền chiện, chích chòe… làm tổ rất nhiều trong các bụi cây. Tóm lại là đến bàu Cạn không thấy ma mô mà chỉ nghe toàn tiếng chim rất vui tai.

So-615--Anh-minh-hoa---Ru-xanh---Anh-1

“Mả đá mả đe” là một cái mộ kỳ lạ được “đúc” bằng một loại đá cứng trên độn Cao. Dân làng không biết là của ai để lại; có người nói mả của người Chiêm Thành xưa, có người nói là của người Minh Hương đầu tiên về chợ Đại Lược quê tôi sinh sống làm ăn. Những năm đói kém, có lần đám thanh niên trong làng dùng cúp, búa lên đào mả đá với hy vọng tìm được vàng bạc châu báu chôn giấu dưới mộ người xưa. Lạ thay, chiếc búa nào vừa chạm vô ngôi mộ đều dội mạnh lại gãy cáng, rồi có người đang hành sự thì bụng đau dữ dội phải thắp hương cầu khấn mới hết. Kể từ đó không ai dám nghĩ đến chuyện đào mộ tìm vàng nữa. Bây chừ, mả đá vẫn còn, với những vết sứt mẻ sau lần đào mả liều lĩnh của đám thanh niên năm nào…

Thứ ba, truông Đình là cái truông giáp độn cát với xóm Đình nơi dựng đền thờ cúng âm hồn của làng, có 3 bệ thờ xây khá bề thế. Hàng năm, sau Tết Nguyên đán, người làng tôi vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn nơi đây, cũng là nghi lễ cuối cùng của ngày Tết. Tôi cũng từng đến đó mấy lần và nhớ ở đó có mấy cây dương cổ thụ, thân to xù xì, lá reo vi vút. Mỗi lần đi ngang truông Đình, tôi cũng có cảm giác hơi rờn rợn, mà cũng đã mấy chục năm rồi tôi vẫn chưa trở lại nơi này…

Mùa mưa bàu Cạn mới có nước và rất lạ là các loại cá tự nhiên như rô, trê, diếc, tràu… không biết từ đâu về đây rất nhiều. Hồi nhỏ tôi có nghe kể chuyện một người vô bàu Cạn soi cá vào một tối mưa gió, bắt được toàn cá to vui mừng đưa về nhà, nhưng sáng sớm mai giở rổ ra thấy toàn đá với đá, cục mô cục nấy to bằng nắm tay…

Cả 3 địa điểm vừa kể trên đều ở trong rú làng cả. Theo tôi, rú chính là những khu rừng lá thấp trên cát, xanh tốt quanh năm dù nắng mưa, bão tố. Để tới được rú, chúng tôi phải trèo lên một cái dốc cát cao còn gọi là truông, đến độn và vô rú. Rú mọc trên độn ở những địa hình thấp, với những loài cây mọc từ bao đời là móc, mao, cừa, vằng, sừng trâu, bông bạc, cởi, trâm bù, bù tru…

Chúng tôi thường lủi rú trong những buổi chiều mùa hạ, quen rú đến nỗi thuộc tên từng lùm cây, bụi cỏ… Nhưng rú không chỉ có cây và cỏ dại. Tận dụng địa hình thấp, ẩm, một số người làng tôi đã vô rú lập vườn. Những khu vườn trồng rau trái này như những ốc đảo bé nhỏ thường được lập bên những bàu nước hay bên con khe làng chảy trong vắt qua rú… Khe làng không biết bắt nguồn từ đâu nhưng con nước mát lành của nó không bao giờ cạn kiệt. Trước khi chảy qua làng tôi để đổ ra sông Ô Lâu thì con khe này phải gọi là khe rú mới phải. Con đường độc đạo nối làng tôi với những làng chài ven biển có một đoạn bị cắt bởi con khe này. Thú vị là chỗ đoạn cắt này là điểm dừng chân trong mát để những người đi bán cá từ các làng biển, những đứa trẻ chăn trâu hay khách bộ hành dừng lại vốc nước rửa mặt mũi, tay chân. Trời nóng như thiêu đốt, nhưng chân chạm vào nước khe thì mát ngay, mát đến nỗi chúng tôi cởi hết quần áo dầm mình dưới khe cho đã đời mới rời rú về nhà.

Còn những mảnh vườn nằm sâu trong rú. Người làm vườn trồng các loại rau, bầu, bí, mướp, dưa… và dường như phải có mặt hàng ngày để tưới nước cho cây. Chỉ có như vậy cây trái rau màu mới xanh tươi trong cái nắng gắt mùa hè. Lũ chúng tôi thỉnh thoảng chơi chán chê vẫn ghé lại những khu vườn để xem thu hoạch hoa trái… Rú cát vì thế rất gần gũi với xóm làng.

Đi dọc những làng quê ven phá Tam Giang, ta sẽ nhận thấy một điểm chung về địa hình là làng nằm nép mình dưới dãy rú hình chữ Nhất. Bạn tôi nói rằng nhớ rú làng là nhớ trái mao, một loài trái dại ăn được, khi chín có màu cam rất đẹp, trái mao là biểu tượng của sức sống bền bỉ của cây cối và cả con người trên vùng đất cát. Tôi rất thích tấm ảnh ai đó đưa tay hái những trái mao chín như níu về cả một trời thơ bé quê nhà của chúng tôi..

Phi Tân
(Đài PT và TH – TT Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 615

Ý Kiến bạn đọc