Truyện ngắn

Rắn ngủ đông

Ông sinh năm Tân Tỵ (1941), tính tuổi tây là 75, tuổi ta là 76. Người ta giải thích tuổi của ông là: Đông tàng chi xà, tức rắn ngủ đông. Ông sống một mình trong căn nhà nhỏ cuối rẻo xóm heo hút lèo tèo vài nóc nhà. Cạnh nhà là con mương thủy lợi quanh năm ăm ắp nước, phía sau là ruộng lúa và xa xa là những dãy núi trọc nhấp nhô tựa những con sóng khổng lồ, nơi ở của ông đúng như người ta thường gọi là sơn cùng thủy tận. Từ đường chính vào nhà ông độ hơn cây số, mùa nắng việc đi lại còn khả dĩ nhưng mùa mưa thì đường đất biến thành những rãnh ngang dọc như chiến hào, có nơi sâu đến nửa mét nên đi lại cực kì khó khăn. Hàng xóm trước nhà ông là một gia đình làm nông chuyên nghiệp nên quanh nhà là rau cỏ, là những ụ phân chuồng mục nát bốc mùi, những chai lọ thuốc trừ sâu vương vãi khắp nơi. Người chủ của gia đình 5 miệng ăn ấy tuổi độ ngoài 50, trông khắc khổ, già nua hơn tuổi và trừ những lúc lúi húi ngoài vườn thì vào nhà đóng cửa ngồi thiền, nên có khi ông muốn đánh cờ hay mời trà cũng khó khăn. Hàng xóm cạnh nhà là một cô gái trẻ có một đứa con nhỏ độ 5 tuổi, chồng đã mất vì tai nạn giao thông, nhà thường xuyên đóng cửa vì cô này phải đi theo các công trình xây dựng mà cơ quan cô nhận thầu. Cô gởi chìa khóa nhờ ông thỉnh thoảng sang vườn tưới hộ mấy luống cây cảnh và mở cửa cho nhà có hơi người… Nói tóm lại là ông có hàng xóm mà như sống một mình giữa đảo hoang.

Ông có 5 người con: 3 gái, 2 trai. Tất cả đều đã có gia đình và cũng vất vả lắm. Hai cô con gái lớn nhà cách đấy vài cây số, dăm ba bữa lại vào, mua cho ông ít thức ăn, hỏi thăm sức khỏe rồi đi. Ông buồn nhưng không trách vì mỗi đứa đều có cuộc sống riêng, phải ngược xuôi vất vả kiếm sống. Đối với ông, cái ăn cái mặc không thành vấn đề, ông cần tình cảm, cần sức khỏe để khỏi làm phiền con cái… Ông cũng không muốn ở chung với chúng dù đứa nào cũng có lời mời. Ông muốn tự do. Hơn nữa, ông nghĩ mỗi thế hệ có suy nghĩ và nếp sống riêng khó hòa hợp lắm. Ông thừa biết, như vậy là ông tự đặt mình vào thế khó, khó không chỉ cho ông mà cho cả con cái, vì tuổi của ông thì sáng nắng, chiều mưa biết đâu được. Mà nhỡ xảy ra việc nửa đêm, nửa hôm thì làm thế nào? Nhưng tính ông thế! Để đề phòng bất trắc, ông dặn người hàng xóm là cửa nhà sau ông chỉ chốt hờ và ông tập thể dục rất kiên trì, đều đặn, đúng giờ, cho nên nếu sáng nào không thấy ông tập thể dục thì cứ xô cửa mà vào. Còn chuyện hàng ngày ông nhức đầu, chóng mặt, đau nhức xương khớp… là tất nhiên, những bệnh của tuổi già ai tránh được? Vì thế ông ít khi gọi các con, không lẽ hở tí lại gọi thì làm sao chúng yên tâm mà làm ăn được?

Mam-xanh---khac-go---Cao-Trong-Thiem
Mầm xanh – khắc gỗ – Cao Trọng Thiềm.

Đã bao đêm ông trằn trọc thao thức ngẫm lại đời mình mà tủi phận. Thời trai trẻ ông làm ở Cục Đo đạc bản đồ quanh năm vất vả trèo đèo vượt suối, sống xa gia đình. Vợ ông một mình bươn chải. Bà đã cùng đàn con nhỏ bỏ quê lên tận Sơn La sinh sống. Hàng ngày, bà và 2 đứa con: đứa lên 10, đứa lên 7 vào rừng hái nấm hái măng sống qua ngày. Có những hôm trên đường về đến suối gặp mưa, nước lũ chảy xiết, mẹ con chỉ biết ngồi ôm nhau giữa rừng sâu mà khóc… Ông chỉ về đoàn tụ gia đình khi bị bịnh nặng phải cắt bỏ 1/3 dạ dày và đành nghỉ hưu non. Rồi cuộc sống khó khăn quá, cả gia đình phải di cư vào Tây Nguyên. Ông nhớ như in trên chuyến tàu chợ năm ấy, đến bữa ăn, cả gia đình chỉ dám mua một dĩa cơm, mỗi người chỉ được một vài muỗng cầm hơi. Cuối cùng rồi cũng đến được nơi cần đến. Thời gian đầu gia đình ông ở nhờ nhà người quen, về sau mới làm nhà ở riêng và cũng chuyển chỗ ở không biết bao nhiêu lần. Vợ ông và cô con gái lớn xin vào làm nông trường cao su, ông thì không còn sức đi làm nên ở nhà đan rổ rá đem ra chợ bán, các con nhỏ thì bữa đi học, bữa đi mót lúa, mót khoai. Nhiều hôm bữa ăn của gia đình chỉ là rổ khoai luộc, đúng hơn là rễ khoai luộc vì chúng dài ngoẵng (các củ lớn thì đã lựa bán hết rồi). Nếu không có rễ khoai thì rau má luộc chấm muối ăn thay cơm. Vậy mà lần hồi cũng qua được! Khi cuộc sống dần dần ổn định và các con khôn lớn thì bà lại mất… Ngôi nhà đã trống lại càng trống và lạnh lẽo hơn. Ông định ở vậy nhưng số phận lại đưa đẩy ông đi bước nữa và cũng chẳng trọn vẹn. Sau mấy năm gắn bó cùng ông, bà hai đã quay về chốn cũ vì con cái ông làm dữ quá khiến bà sợ… Ông biết một phần là lỗi ở bà và cả ông nữa. Ông đã bỏ qua, đã tha thứ nhưng con cái ông thì không. Chúng còn quá trẻ để thấu hiểu sự đời. Ông nghĩ ở đời con người phải biết tha thứ cho nhau mà sống, giữ hận thù trong lòng chỉ càng thêm đau khổ. Oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Phải mất một thời gian khá lâu ông mới quen dần với việc vắng bóng bà trong căn nhà, không có tiếng người, không có bàn tay chăm sóc… Những lúc trái gió trở trời, ông chỉ biết cắn răng chịu đựng không biết kêu ai, nhiều khi muốn uống nước cũng không gượng dậy được đành nhịn khát! Các con ông không thấu hết nỗi buồn, nỗi cô đơn của người già sống một mình, trừ khi chúng nó ở tuổi ông và trong hoàn cảnh của ông. Chúng chỉ nghĩ cho ông ăn no mặc ấm là đủ. Ông đâu cần. Ông cần có người khuya sớm tâm tình, thậm chí là thích nghe cả lời hờn trách miễn là có tiếng người! Bà ấy đến với ông vì thương hoàn cảnh của ông, chứ sung sướng nỗi gì vì ông chỉ có tấm thân già bệnh hoạn, đồng lương hưu còm cõi, nhà cửa thì dột nát, đất đai, tài sản cũng không. Mà có bà chăm sóc thì con cái đỡ phải chạy ngược chạy xuôi. Vậy mà chúng nó cứ nghĩ…

Thường thì đến cuối tuần các con ông tập trung về nhà ông nấu nướng ăn uống. Những lúc ấy ông hay qua mời mấy nhà gần gũi. Ông hàng xóm lấy lí do ngồi thiền nên năm thì mười họa mới sang còn cô gái trẻ kia khi có ở nhà thì cũng dẫn con sang vì quý mến ông. Cô tham gia nấu nướng ăn uống như người nhà. Con cái ông mời rượu, cô bảo: “Các anh chị có gia đình thì mới cần đến rượu bổ này bổ nọ, chứ còn như em một thân một mình uống vào để làm gì”. Dạo gần đây, ông thấy thứ bảy, chủ nhật cô thường về nhà cùng với một chàng trai trẻ. Họ cùng nhau làm vườn, dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng rồi mời ông sang chơi. Nhìn chúng ăn uống chăm sóc cho nhau, ông thấy mình hơi thừa nên chỉ sang đôi lần rồi lấy lí do đau ốm, mệt mỏi rút lui dần. Có những đêm khuya thanh vắng, ông nghe rõ tiếng chúng cười đùa, hồn nhiên, tiếng đạp chân thình thịch vào vách cạnh chỗ ông nằm, cả tiếng thở hổn hển… Rồi tất cả lại trở về với sự yên lặng, tĩnh mịch… Ngoài kia, những cơn gió lang thang buồn bã trở mình trên những vòm cây trong tiếng muôn trùng gọi đêm sâu thẳm…

Biết ông ở một mình cũng buồn nên các con mang cho ông một cặp gà mái và một chú Cún con để bầu bạn. Từ khi có chúng ông vui và bận rộn hẳn. Ông chăm chúng từng li từng tí. Cún lớn nhanh như thổi, suốt ngày quấn theo chân ông, tối đến thì chui dưới gầm giường ông nằm, cả đêm ông lắng nghe tiếng thở, tiếng trở mình của nó. Còn hai cô con gà mái thì cũng sắp đẻ, ngặt nỗi không có trống. Con ông bảo chỉ cần gà đẻ trứng cho ông ăn hàng ngày vì chợ búa xa xôi, nhưng ông đâu có nhu cầu đấy, ông thấu hiểu hơn ai hết nỗi cô đơn vò võ canh trường nên ông muốn mọi thứ phải có đôi, có cặp…

Sáng nọ, như thường lệ ông ra mở cửa chuồng thì hốt hoảng phát hiện đêm qua kẻ trộm đã vào bắt mất hai con gà yêu quí. Ông ngẩn ngơ mấy hôm. Ông không tiếc của mà có cảm giác mình bị mất đi hai người bạn thân thiết. Con ông bảo: để mua cho bố con khác. Đành là vậy, nhưng mất đi cái gì mình đã yêu thương, gắn bó, gần gũi thì buồn lắm chứ, dù chúng là con vật. Con Cún thấy ông buồn cũng cúi đầu nằm lặng yên. Ông xoa đầu con vật và cảm nhận được tình cảm của nó. Cún là con chó đực, cả mấy nhà quanh quanh lại không ai nuôi chó, nên nó chỉ vào ra quẩn quanh với ông. Hình như là số phận cả. Buồn cho cả kiếp người và kiếp thú cô đơn! Ông già cả đã đành, nhưng còn Cún thì đang trai tráng… Biết đâu một ngày nào đó, theo tiếng gọi của bản năng, theo tiếng gọi của tình yêu mà nó bỏ ông đi không chừng… Mà như thế thì cũng đành, đời ông đã buồn, đã cô đơn nhiều rồi, thêm một lần nữa cũng chẳng sao, miễn là Cún được có bạn, được hòa vào thế giới này để sống một cách tự nhiên nhất…

Một hôm, ông ra ngoài mua thức ăn, Cún lẽo đẽo theo sau, thỉnh thoảng hứng chí chạy vượt lên trước, nghịch ngợm hết chui vào bụi rậm này đến bụi rậm khác vẫy đuôi lia lịa, sủa ăng ẳng làm những con chim đang kiếm ăn trong các lùm rậm giật mình bay lên. Chú Cún vui lắm vì lâu mới được cùng chủ ra ngoài để được tung tăng chạy nhảy hít thở mùi rơm rạ, mùi đất, mùi cỏ dại đẫm sương đêm hòa quyện trong không gian buổi sáng thoáng đãng trong lành nơi thôn dã. Ông cũng vui lây với Cún và bước chân trở nên nhanh hơn. Cún thấy vậy nó phóng thật nhanh rồi quay đầu lại như thách thức ông lão già nua… Cứ thế hai ông con đến chỗ mua hàng lúc nào không biết. Đây là nơi quen thuộc của ông lão mỗi khi nhà hết thức ăn. Quán nhỏ chỉ có vài mớ rau vườn, ít thịt heo, trứng, cá khô, mắm muối, vài thứ linh tinh… Đang mải nói chuyện với người bán hàng thì ông nghe tiếng chó sủa… Nhìn ra ông thấy Cún đang nô đùa với một con chó lạ cùng trang lứa có màu lông trắng xen lẫn những đốm đen. Hỏi ra thì biết đây là con chó của nhà chủ mới xin về. Cún ta chạy quanh trêu đùa làm quen. Con chó trắng đốm đen xinh đẹp cũng vờ vĩnh tí rồi hòa nhập ngay (chắc nó cũng cô đơn) và cả hai cùng đuổi nhau chạy thật xa rồi lại vòng về, cứ như thế cho đến khi cả hai cùng mệt lử nằm cạnh nhau thè lưỡi thở dốc… Trông chúng thật đẹp đôi. Vậy là mừng cho Cún đã có bạn mới, đã thôi cô đơn. Lúc ông quay về, Cún dùng dằng không dứt nhưng rồi vẫn chạy theo chủ. Cô nàng kia ngần ngừ một thoáng rồi cũng lao theo cho đến khi nghe tiếng chủ gọi mới quay lại. Ông thầm nhủ: từ nay sẽ siêng ra ngoài hơn để cho Cún được thường xuyên gặp bạn.

Từ đó, cứ sáng sáng thay vì tập thể dục tại nhà, ông lại đi bộ ra ngoài và tất nhiên Cún cũng không bỏ lỡ cơ hội… Cứ như thế anh chị ngày càng thân thiết. Nhìn chúng ngày ngày được nô đùa bên nhau, ông vui và thoáng chút chạnh lòng. Có những hôm trời mưa, ông không ra ngoài được, Cún trông có vẻ buồn, nó không quấn quýt theo ông từ nhà trên xuống nhà dưới như thường lệ mà nằm im trước cửa nhìn ra làn mưa mờ đục. Có lẽ chú đang mong cho trời sớm tạnh và chắc cô nàng cũng đang ngóng chú… Mưa Tây Nguyên thường dai dẳng, nước ào ào như thác đổ từ trời cao, cây cối ngả nghiêng trong gió lốc, đường biến thành sông, thành suối… Con đường đất dẫn vào nhà ông nước tràn qua như lũ quét, nếu không có việc gì khẩn cấp thì chẳng ai dại gì ra đường vào những lúc ấy. Mấy hôm nay ông cũng ốm khật khừ, huyết áp tăng cao nên cũng không dám đi đâu. Một ngày, hai ngày rồi ba ngày… Cún bồn chồn hết nằm rồi lại đứng ủ rũ không thiết gì ăn uống. Ông xoa đầu vỗ về nó và cầu mong mau tạnh mưa. Trời như thấu hiểu lòng ông, đến quá trưa mưa nhẹ hạt dần rồi tạnh hẳn. Ông vịn tường đứng lên, người lảo đảo nhưng cũng cố vào bếp tìm dây xích buộc vào cổ Cún dắt đi, ông sợ Cún chạy tung tăng rồi lọt hố. Nước vẫn tràn trên đường, ông và Cún phải lần dò từng bước, mấy lần trượt chân cả hai ướt đẫm bùn đất, cuối cùng rồi cũng đến nơi. Quán vẫn mở cửa, Cún chạy nhanh, sợi dây xích vuột khỏi tay ông… Cả hai anh chị chồm lên nhau mừng rỡ, ông cảm động lắm. Người chủ bán hàng thấy ông rét run nên mời vào nhà uống nước, sưởi ấm. Ngồi được một lát, cảm thấy ớn lạnh nên ông mua ít đồ linh tinh rồi xin phép ra về. Cún mặc dù còn lưu luyến “cô bạn” nhưng cũng chạy theo… Ông cúi xuống mở dây xích để Cún được tự do chạy nhảy vì nước đã rút hết, không còn sợ hiểm họa rình rập. Ông chợt thấy mệt, quá mệt! Ông cố hết sức bước đi và chỉ kịp về đến nhà là đổ vật ra giường. Đêm hôm ấy ông lên cơn sốt cao, người nóng hầm hập đầu óc quay cuồng… Trong cơn mê sảng ông thấy một đàn chó nhỏ độ mươi con nửa vàng nửa trắng tung tăng đuổi nhau trước hiên nhà sủa ăng ẳng và ùa vào chỗ ông nằm…

Sáng hôm sau, người hàng xóm đang làm vườn bỗng nghe tiếng con Cún tru thảm thiết, lại không thấy ông tập thể dục như thường lệ nên xô cửa xông vào thì phát hiện ra ông lão thân thể đã cứng đờ, trong tay còn giữ chặt mảnh giấy với dòng chữ nguệch ngoạc: Tối qua Cún chưa ăn!

Nguyễn Tịnh Giang
(Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 416

Ý Kiến bạn đọc