Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Rắn già rắn lột nhà văn già…

Hoàng đại văn nhân Quốc Hải rất gây sự chú ý rằng ông “Không phải là con chó chỉ biết cúi đầu nghe theo” (1) mà là người “đã viết đến chảy máu mắt” (2), “đã viết hàng ngàn trang sách ở ngoài công viên” (3) thời bao cấp khó khăn gian khổ. Nay ông vẫn viết hàng ngàn trang, dựng lên trận bão táp của một vương triều vĩ đại, giấy tốt bìa đẹp đóng hộp hoành tráng chẳng kém gì cái quan, thật đáng kính biết bao!

Kẻ hậu sinh chỉ băn khoăn khi Hoàng đại nhân cho rằng Trần lão tiên sinh Giáo sư – Tiến sĩ Đình Sử đã lột xác bởi luận điểm: thành tựu của lí luận văn học 30 năm đổi mới là làm cho lí luận một thời được Nhà nước bao cấp trở nên mất thiêng vì văn hóa văn học thực sự chỉ tồn tại phát triển ở trên đường biên, ở ngoại biên, không phải ở tâm. Đấy là công trình “tự vượt lên mình” của Trần lão Tiên sinh GS-TS Đình Sử, NXB Văn học (Bộ Văn hóa – Thông tin) ấn hành năm 2014, do không trúng cách Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam, được Hội Nhà văn Hà Nội trao Giải thưởng năm 2015.

Ngẫm thấy trong phát biểu của Hoàng đại nhân có chỗ chưa đúng nên kẻ hậu sinh mạo muội xin đôi lời thưa lại.

Với nhà khoa học, nhà lí luận, không nên dùng hình ảnh ví von tự lột xác. Nơi trà dư tửu hậu dưa vàng dưa xanh cho vui câu chuyện thì được. Nhưng phát biểu ở Đại hội Nhà văn Hà Nội – Đại hội Nhà văn của Thủ đô – nơi công chúng văn học cả nước dõi theo, thì không nên. Bởi con ve con rắn mới tự lột xác chứ con người, nhà khoa học không thể thế được. Con người, nếu có sự thay đổi bên ngoài, thường chỉ nói thay da đổi thịt… đỏ da thắm thịt, mình gầy xác ve, gầy trơ xương hay béo tròn béo căng… ngày nay có thể nhuộm tóc, phẫu thuật chỉnh hình, nâng này hạ kia… vẫn chưa nói lên cái hồn cốt, cái chỗ thốn tâm ti của nó có thay đổi không? Nếu có sự thay đổi bên trong phải gọi là tâm địa đổi thay, mà theo phong cách khoa học, là thay đổi nhận thức. Trường hợp của Nhà lí luận Trần Đình Sử phải gọi là đã thay đổi nhận thức, thay đổi hoàn toàn, ngược hẳn lại, đổi chiều đảo hướng…

Thay đổi nhận thức trong khoa học là sự rất bình thường. Nếu không thì chẳng còn khoa học. Nhận thức mới mà đúng thì thúc đẩy khoa học. Nếu không, sẽ kìm hãm hay làm lạc hướng nghiên cứu, làm hao phí cho khoa học. Lương tri, lương thức của con người sẽ tìm ra chân lí. Con đường đó không phẳng phiu đơn giản nên tránh được lầm lẫn bao nhiêu quí bấy nhiêu.

Khái niệm đường biên, ngoại biên và tư tưởng văn hóa văn học chỉ tồn tại trên đường biên, trên ranh giới… là rất sai lầm. Thấy Bakhtin Xuất phát từ ranh giới, biên giới, đường biên mà tư duy về tồn tại… cũng theo đó mà tư duy về tồn tại… cũng theo đó mà tư duy về thực tại văn học thì đúng là chạy theo, là bắt chước rồi còn gì. Cái hay là nhà lí luận Trần Đình Sử tràn đầy mâu thuẫn khi ông phê phán quyết liệt sự bắt chước: “Đối với người Việt Nam, cái quan trọng hiện nay là tinh thần phê phán để chống lại sự bắt chước giản đơn. Đó là hành trang để phát triển văn hóa dân tộc và tham gia vào đời sống của thế giới của thời kỳ toàn cầu hóa” (Trên đường biên của lý luận văn học. NXB Văn học. H.2014. Trang 256). Giáo sư Trần Đình Sử quả là một nhà hài hước đại tài. Một mình ông đóng được cả hai vai, vừa MÂU vừa THUẪN… Rõ ràng Giáo sư bắt chước, noi theo Bakhtin. Bắt chước, noi theo cũng là một phương pháp một con đường của nghiên cứu khoa học. Vấn đề là cái được noi theo cái được bắt chước – dù là không giản đơn – nó đúng hay sai, nó phản ánh được đến mức nào những qui luật của khoa học của thực tiễn. Nếu xuất phát từ ranh giới, biên giới, đường biên mà tư duy về tồn tại thì thầy trò Bakhtin – Trần Đình Sử đều là những nhà triết học không có điểm tựa! Giáo sư chỉ hộ ranh giới, chỗ đường biên của tồn tại xem nó ở đâu? Để tư duy về tồn tại, con người đã phải đi vào hạt cơ bản phải hướng cái nhìn ra các thiên hà. Thấy ra sự thống nhất của vũ trụ ở tính vật chất của nó.

Triết gia Trần Đức Thảo đã làm sống lại các giai đoạn của người nguyên thủy để tìm ra nguồn gốc, bản chất của động tác chỉ tay, của tiếng nói, của ngôn ngữ và ý thức. Ông đứng ở ranh giới nào, đường biên nào của tồn tại? (Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế. 2016. Xem phần Di cảo).

Hiệu ứng ngoại biên, lý thuyết trò chơi, Bakhtin với lý thuyết của ông và các thế hệ học trò cũng chỉ là một phần rất nhỏ của ý thức xã hội trên lĩnh vực văn học – nghệ thuật thời hiện đại. Sao lại có thể ảo tưởng đến đường biên, ranh giới của tồn tại.

Tư duy về tồn tại là vấn đề nền tảng của triết học từ thượng cổ tới nay. Vấn đề cơ bản của nó là mối quan hệ giữa vật chất với ý thức. Sự phân biệt cơ bản trong tư duy về tồn tại là duy tâm hay duy vật. Phương pháp tiếp cận nó là biện chứng hay siêu hình. Con người có phải là thành quả sáng tạo của chính mình – thông qua lao động – hay không? Hoa hậu quốc gia hay hoàn vũ là thành quả của chính đời sống con người hay là từ một cái xương sườn đặc biệt của ngài Adam? Và như thế thì không thể đứng ở rìa ngoài của tồn tại mà tư duy về tồn tại được. Nhà triết học, nhà khoa học đâu phải là lão thợ săn quen mẹo tọa sơn quan “tồn tại”! Bắt chước một cách mù quáng như thế mà lại hô hào chống bắt chước chẳng là siêu hài hước ư!

Các loài thủy sản vùng nước lợ quen sống ở đấy và chỉ có thể sống ở đấy. Các nhà khoa học nhận ra vùng giao thoa giữa các lí luận, học thuyết, tư tưởng… Họ khảo sát nó để tìm ra những bản chất mới của các hiện tượng khác nhau. Đấy là sự phân biệt giữa một nhà lí luận ngây thơ nhất với một con cá vượt khôn nhất!

Văn hóa văn học hay như thường nói là văn hóa nghệ thuật là một hình thái của ý thức xã hội, là một bộ phận của tồn tại xã hội, hay của tồn tại theo nghĩa triết học. Muốn hiểu bản chất, qui luật phát triển của nó, phải đi vào trung tâm, bản chất của đời sống xã hội, đời sống con người, đời sống của chính văn hóa nghệ thuật… mới hiểu được, thấy được, nhận thức được.

Giáo sư nên một vài lần đi hát quan họ vùng Kinh Bắc. Phải thực sự hình dung ra “con nhện nó giăng mùng”, phải sống với cảm giác “cởi áo cho nhau”, phải cùng bước trên “cây cầu giải yếm”… mới thấm được quan họ. Nếu chỉ từ ranh giới, đường biên, ngoại biên… thì cũng chỉ nghe vọng lại ì a í a chỉ thấy thấp thoáng mớ ba mớ bảy… Quan họ ở ngoại biên rất khác với quan họ ở trung tâm. Cũng như nhạc thính phòng, nhạc sống, thưởng thức ca trù hay hát ả đào, tự tay cầm chầu, mắt nhìn, tai nghe, toàn thân xúc động mà bật ra tiếng trống chầu tom chát…

Đời sống văn hóa văn học nó phong phú phức tạp rộng lớn hơn nhiều. Muốn tìm hiểu bản chất sống động của nó, những qui luật tồn tại và phát triển của nó phải đi sâu vào trung tâm của nó, bản chất của nó. Đứng ở ngoại biên, ở trên đường biên, ở ranh giới của nó để nghiên cứu nó, thì chỉ có thể có được thứ tri thức ngoại biên, bên ngoài, tri thức chầu rìa, dẫu chủ thể nghiên cứu là một nhà thông thái!

Tư tưởng của “Trên đường biên của lí luận văn học” là rất sai lầm… Nó bắt nguồn từ phương pháp sai lầm. Đó là noi theo, lặp lại, bắt chước Bakhtin.

Vận dụng tư tưởng và phương pháp này vào nghiên cứu văn học Việt Nam hôm nay sẽ đưa đến bế tắc, hoặc lạc hướng, hoặc vòng vo như rồng rắn lên mây!

Vì theo đó, người ta sẽ phải đưa ra nhiều nền văn học, nhiều nền lí luận văn học khác nhau rồi đứng trên các đường biên, các ranh giới, ở ngoại biên mà tìm hiểu bản chất, qui luật của nền văn học của mình. Nó ngây ngô, ngược đời một cách dễ thương biết bao. Chỉ đứng ở lũy tre của các làng mà mong hiểu nội tình của các làng. Thế là con cò con vạc, đâu phải nhà nghiên cứu khoa học.

Thực ra tư tưởng của GS Trần Đình Sử không có gì khó hiểu. Ấy là phải tìm hiểu nhiều nền văn học, nhiều nền lí luận văn học khác nhau, nghiên cứu các quan hệ của nó để tìm ra được qui luật bản chất, hoặc chung cho tất cả, hoặc riêng một bộ phận trong mối quan hệ biện chứng. Lí thuyết đó không có gì mới. Trong thực tiễn thì thấy quá rõ. Nhưng nâng lên thành lí thuyết thì cũng không phải dễ. Nhưng dù sao, cũng đã được giải quyết từ khá lâu rồi. Việt Nam ở ngã tư tưởng của quan hệ giao thương kinh tế và văn hóa. Tiếp nhận từ bên ngoài rất nhiều yếu tố. Nhưng yếu tố bản địa vẫn là chính, nổi trội, không thể phủ nhận. Nhiều cộng đồng người ở Đông Nam Á đã có trống đồng. Có nhiều nét tương đồng. Nhưng GS Hà Văn Tấn đã chứng minh đầy thuyết phục tính chất bản địa của trống đồng Đông Sơn của Văn hóa Đông Sơn (Xem Trí thức tinh hoa Việt Nam… Hàm Châu. NXB Trẻ. S.2014. Trg 589). Nếu cứ đứng trên ranh giới, trên đường biên, ở ngoại biên của các nền văn hóa thì làm sao hiểu được bản chất sâu xa đó. Đó chính là sai lầm nghiêm trọng trong tư tưởng khoa học của Bakhtin mà người học trò trung thành ở xứ sở rất xa, rất ngoại biên, tận bờ biển Đông Nam Á, là GS-TS Trần Đình Sử đã nhất tự vi sự bán tự tòng sư! (một chữ nhờ thầy nửa chữ theo thầy).

Hội Nhà văn Việt Nam, trực tiếp là Hội đồng Lý luận phê bình khóa trước (2010-2015) đã đánh giá đúng thực chất công trình Trên đường biên của lí luận văn học của tác giả hội viên Trần Đình Sử, đã không đưa vào Giải thưởng.

Hội Nhà văn Hà Nội do ông Phạm Xuân Nguyên làm Chủ tịch, chủ trì, lại vinh danh cho tác giả tác phẩm trên bằng một Giải thưởng, của năm 2015.

Xuất phát từ đâu? Chắc chắn không phải từ học thuật, như đã nói trên. Ông Phạm Xuân Nguyên xử lí vấn đề theo tinh thần của Văn đoàn độc lập mà ông phát ngôn như một yếu nhân, nhân vật thứ hai, sau Nguyên Ngọc. Ấy là muốn đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam. Ông khoe giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội đã có uy tín trên cả nước. Theo Báo cáo… tại Đại hội. Nhưng còn hơn thế. Đấy là một thủ đoạn chính trị trơ tráo, gan lì. Vì ông Phạm Xuân Nguyên vẫn nhận ở trong Văn đoàn độc lập. Mà Văn đoàn đó tuyên ngôn rằng sẽ đứng ngoài mọi tổ chức, mọi thể chế. Tuyên ngôn như thế nhưng ông Phạm Xuân Nguyên lại vẫn cố bám vào Hội Nhà văn Hà Nội. Vẫn tìm cách trụ lại cái ghế Chủ tịch Hội. Đã hết nhiệm kì gần trọn năm trời, ông vẫn không chịu tổ chức Đại hội. Vẫn cứ nhì nhằng, con rô cũng tiếc con diếc cũng ham… Vào năm cuối của nhiệm kỳ ông kết nạp đến 50 hội viên, đủ biết…

Công trình của GS Trần Đình Sử nó rõ ràng ra như thế. Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội với ý đồ cũng rõ ràng ra như thế. Vậy mà Hoàng đại văn nhân vẫn hết lòng, hết lời bảo vệ, khen lao. Ắt phải có duyên do. Xin tạm nêu lên thế này:

* Đại nhân có thứ ngôn ngữ vống lên thống thiết những điều dễ mủi lòng nhưng khó có thực. Như chuyện “viết đến chảy máu mắt…”, “viết hàng ngàn trang ở ngoài công viên”. Cắn răng bóp bụng nuôi vợ nuôi con đành rằng một nhẽ. Còn văn chương? Sao mà tự đầy đọa mình như thế. Giá như máu mắt của Đại nhân cứu được đời thì Hội Nhà văn Việt Nam phải tổ chức lại. Các hội viên phải tập viết học viết cho đến chảy máu mắt! Cũng là một tiêu chuẩn kết nạp hội viên.

* Đại nhân thường nói liều viết ẩu. Hẳn là Đại nhân chưa đọc công trình của GS Trần Đình Sử. Chưa đọc mà vẫn khen. Còn nếu đã có đọc thì cái sở trường lý luận của Đại nhân nó ở ngoài biên hay ở ngoài công viên? Xin Đại nhân chỉ giáo cho.

Nói như vậy vì cũng có tiền lệ. Đại nhân không đọc được khối thư tịch Hán – Nôm đã đành. Mà khối lượng sách viết bằng chữ quốc ngữ chắc cũng không thể nào đọc hết. Thế mà dám nói chỉ trong mười năm, số lượng sách báo bằng chữ quốc ngữ còn lớn hơn cả 10 thế kỷ viết bằng chữ Hán – Nôm. Viết như thế là siêu… liều! (Xem bài Cần đánh giá đúng chữ quốc ngữ. Luận chiến văn chương – Quyển Một. NXB Văn học. H. 1995). Cách tư duy của Hoàng đại nhân rất giống một người viết rất hùng hồn về Trà đạo, về nghệ thuật uống trà… lại tỏ ra không hiểu gì về uống trà. Rằng phải ba nước đấu lại và chỉ uống một li thôi. Uống đến li thứ hai là tục. Bẩm đại nhân, thế là sắc thuốc bắc, uống thuốc bắc, đâu phải uống trà!

Thành ra kẻ bỉ nhân này không dám múa tống múa quân trước bậc Tiên trà!

Cúi xin Đại nhân mở lượng hải hà!

Hà thành, ngày Đông năm Thân, nhằm ngày 20-11 Tây lịch 2016 Kính bút.

(Gửi nhà văn Hoàng Quốc Hải)
Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 430

——————————

(1) Phát biểu của nhà văn Hoàng Quốc Hải tại Đại hội Nhà văn Hà Nội ngày 30-10-2016.
(2), (3) Và trong các lần gặp gỡ với lãnh đạo thành phố Hà Nội hồi còn… bao cấp.

Ý Kiến bạn đọc