XEM BÁO GIẤY
Thơ

Ra di

 

Em đã mất
Như sợi khói tan trong không gian
Tôi được tin em
Một dòng ngắn gọn
Thế là em đã ra đi
Trần gian vắng bóng một người
Cuộc đời náo động
Xe cộ vẫn lao vun vút trên đường
Nhưng những bài thơ của em còn ở lại
Những con chữ nằm yên trong những tờ tạp chí
Những dòng chữ ghi dấu tâm hồn em lúc sống
Tôi nhớ đến em
Một gương mặt dãi dầu
Những bài báo kiếm tiền
Ly rượu em mời hôm họp mặt văn nghệ
Vị đắng còn trong tôi đến giờ
Em ra đi
Nhẹ nhàng
Như mây trôi qua cửa sổ
Một buổi sáng như mọi buổi sáng
Tôi nhận được tin
Em đã mất.

Vuong Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 453

Ý Kiến bạn đọc


Văn học nước ngoài

Ra đi

M.G Vassanji sinh năm 1950 tại Nairobi. Ông học đại học ở Tanzania và Mỹ. Hiện đang sống ở Canada. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, “Chiếc bao tải có súng” (1989), được trao Giải thưởng nhà văn Khối cộng đồng chung. Ông cũng in một tập truyện ngắn có tên là “Đường Uhuru” (1991).

Đường Kichwele bây giờ có tên là đường Uhuru. Hai chị tôi đã học xong và đã có chồng. Mẹ tôi thi thoảng nhớ các chị ấy. Dẫu có một số người theo đuổi tới nơi nhưng chị Mehroon chấp nhận sống với một cựu vận động viên môn cricket lứa đầu tiên của trường chúng tôi và giờ họ đang sống ở thị trấn. Chị Razia giờ là một bà nội trợ giàu có ở thị trấn ven biển Tanga, phía bắc Dar. Anh Firoz bỏ học giữa chừng ở năm cuối cấp. Mọi người ngạc nhiên tự hỏi không biết nhờ đâu mà anh có thể học tới đó. Anh giờ là trợ lý cho một chủ nhà sách ở Oriental Emporium, thi thoảng mang kẹo về nhà.

Mẹ đặt niềm tin vào hai đứa con nhỏ nhất là Aloo và tôi. Bà không muốn để cho chúng tôi phải mệt mỏi vì những công việc vặt luôn đòi hỏi tay người trong cửa hàng tạp hóa. Một buổi tối nọ, bà khóa chặt các cánh cửa ván ghép cứng cáp của tiệm bằng một nửa tá ổ khóa và sang bán nó. Chuyện ấy diễn ra đúng một tuần sau đám cưới của chị Razia. Xong đám cưới, chị khóc thật nhiều rồi ra đi, bỏ lại người mẹ đau khổ trên đường Uhuru bụi mờ.

Phong-canh-Tanzania
Phong cảnh Tanzania.

Chúng tôi sau đó chuyển sang sống ở khu Upanga. Khác với sự ồn ào của đường Uhuru, khu vực chúng tôi sống yên tĩnh hơn nhiều. Sau khi đã phải chịu đựng tiếng huyên náo của xe buýt, xe đạp và xe hơi trên đường, giờ chúng tôi được nghe tiếng ếch ộp ộp và tiếng thiêm thiếp của côn trùng. Nhưng đêm thì ma quái, cô quạnh, đòi hỏi phải có thời gian để thích nghi. Sau 7 giờ tối, đường Upanga đã vắng hoe, các con hẻm thì tối thui, không chút ánh sáng. Nhiều khu vực quanh chỗ chúng tôi chưa có người ở. Phía sau các khối nhà đang xây là các bụi cây um tùm, các cây baobap to lớn, dọa dẫm, cùng rừng xoài và dừa.

Thi thoảng vào những buổi tối, khi mẹ buồn, tôi và Aloo sẽ chơi bài uýt theo một hình thức biến tấu dành cho 3 người. Rồi tôi vào đại học và chỉ trở về nhà vào những cuối tuần. Aloo đang học năm cuối ở bậc trung học. Nó đã có kết quả học tập rất sáng sủa, ngoài sự trông mong của chúng tôi.

Năm đó, ông Datoo, một cựu giáo viên của trường trung học của chúng tôi và cũng từng là một cựu sinh viên, từ Mỹ trở về thăm nhà. Ông ấy rất được bọn trẻ ngưỡng mộ. Khi trở về, ông được đón tiếp ầm ĩ. Vài ngày sau đó, ông đi quanh thị trấn, theo sau là một đám học sinh hồ hởi, trong đó có Aloo.

Sự kiện sôi động ấy làm tràn dâng trong Aloo niềm hy vọng là cậu sẽ không chỉ được nhận vào một đại học ở Mỹ mà còn có thể giành được học bổng để đến đó. Bởi vậy, trong suốt năm học đó, cậu viết rất nhiều thư cho các đại học ở Mỹ. Tên các trường thì cậu chọn trong sách ở tổ chức USIS, thường là hú họa hoặc do chúng nghe hay hay.

Phản ứng của mẹ trước các cố gắng của cậu là châm biếm. Bà cười và nói: “Các chú con ở Mỹ sẽ phải chi hàng ngàn shilling để con được học đại học”. Rõ ràng bà nghĩ cậu đang hoang phí thời gian, nhưng cậu không thể cho rằng bà không phải không ủng hộ cậu.

Thư trả lời cậu bắt đầu được gởi về sau vài tuần. Nhiều đại học trân trọng khích lệ cậu trong thư. Aloo đã phát hiện ra đại học nào là tốt, thực sự nổi tiếng. Một số catalogue cũng được gởi đến, trông rất ấn tượng. Hình như đối với cậu, càng quan tâm đến việc gởi thư thì viễn cảnh đến Mỹ học càng quyến dụ. Thậm chí, một số đại học tiếng tăm cũng đã không làm cậu nản chí. Cậu biết được nhiều ngành học mà trước đây cậu chưa hề được biết đến như di truyền học, vũ trụ học, trí thông minh nhân tạo. Cả vũ trụ đang chờ đón cậu, nếu như cậu có thể vươn tới đó.

Tất nhiên, Aloo ghi danh vào một đại học gần thành phố cậu đang ở. Cuối năm đó, cậu biết mình có tên trong danh sách trúng tuyển khi kết quả tuyển lựa được đăng trên báo. Nhưng một bàn tay quan liêu, có khi là do nhũng lạm, đã thay đổi viễn cảnh tương lai của cậu, làm cậu thật sốc. Cậu đăng ký học ngành y nhưng lại bị chuyển sang nông học. Làm một chuyên gia nông học ở một huyện nông thôn nào đó không phải là điều cậu mong muốn, dù cậu yêu nước. Cậu chưa bao giờ rời thành phố ngoại trừ một lần được nhà trường đưa đi thăm một công viên quốc gia.

Khi Aloo nhận được thư của Học viện công nghệ California thông báo sẽ cấp cho cậu học bổng để học tại đó, đầu óc cậu trở nên mụ mị. Cậu đọc đi đọc lại lá thư, không tin được vào những gì được nói trong thư vì sợ rằng đã đọc nhầm. Cậu nhờ tôi đọc thư giúp. Khi đã chắc là không có gì nhầm lẫn, cậu vô cùng phấn chấn.

“Việc gì mình phải học nông học chớ!”, cậu cười toe toét.

Nhưng trước tiên, cậu khoe với mẹ.

Mẹ không tin. “Thôi đi nào”, mẹ nói. “Đừng có trêu mẹ, đừng có làm phiền mẹ!”.

“Nhưng đây là sự thật mà mẹ”, cậu chống chế. “Họ trao cho con học bổng mà mẹ!”.

Ba mẹ con chúng tôi đang ngồi quanh bàn và trà chỉ vừa mới được rót ra. Mẹ ngồi đối diện với tôi, cúi nhìn chén trà trong giây lát rồi ngẩng đầu lên.

“Có đúng vậy không?”, mẹ hỏi tôi.

“Dạ đúng vậy”, tôi nói.

“Tất cả cái nó cần là có 400 đôla để mang theo”.

“Bốn trăm là bao nhiêu shilling?”, mẹ hỏi.

“Dạ khoảng 3 ngàn”.

“Làm sao chúng ta có chừng ấy tiền? Con có chơi xổ số điện toán không? Còn vé thì sao? Họ đã đưa con vé chưa?”.

Nghe mẹ nói thế, vẻ mặt Aloo dường như trở nên mờ tối. Mẹ nói đúng. Đó không phải là khoản tiền nhỏ.

“Mẹ có thể vay tiền được không?”, cậu hỏi. “Ở Mỹ con sẽ làm bồi bàn. Con có thể làm bồi bàn và gởi tiền về trả lại mẹ”.

“Các chú con ở Mỹ có thể giúp con nhưng ở đây thì không ai có thể”, mẹ nói với nó.

Hai vai Aloo cụp xuống, tay vân vê chén nước, gần như muốn khóc. Mẹ uống nước và cau mày. Ánh chiều từ cửa sau dọi tới, làm cặp kính đeo mắt của mẹ lóng lánh. Cuối cùng, mẹ bỏ chén trà xuống. Mẹ giận.

“Tại sao con lại muốn đi xa mẹ, xa anh chị? Đó có phải là điều mẹ dạy không? Sao con lại muốn đi đến một nơi xa xôi? Ở đó con có biết nhớ mẹ, nhớ anh chị không? Mẹ và anh chị con không thương con sao? Nếu lỡ có gì xảy ra thì…”.

Aloo bật khóc. Một giọt nước mắt rơi xuống chén nước. Mũi nó sụt sịt: “Có biết bao nhiêu người đi rồi trở về mà không có gì xảy ra đối với họ… Sao mẹ lại không cho con đi chớ? Sao mẹ để con viết thư rồi lại không muốn cho con đi… Sao mẹ để con hy vọng rồi lại thay đổi đột ngột?”. Nó rướn cổ nói, người run lên. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nó như thế.

Cậu ấy không lặp lại các câu chất vấn đó nữa và chuẩn bị vào học nông học, đợi học kỳ bắt đầu. Ở nhà, cậu nằm dài trên ghế trường kỷ, mỗi ngày đọc một cuốn tiểu thuyết.

Vài ngày sau, vào một sáng chủ nhật, mẹ đang may bằng máy may thì ngẩng đầu lên nói với hai chúng tôi: “Chúng ta hãy cầm lá thư đó tới gặp thầy Velji. Thầy ấy có kinh nghiệm trong vấn đề này. Hãy nghe theo lời khuyên của thầy ấy”.

Thầy Velji là cựu quản lý của trường chúng tôi. Thầy có cái đầu to, hình quả trứng và thân hình nhỏ nhắn nhưng chắc đậm. Với cái trán vồ và cặp kính đen to, thầy trông giống như nhân vật trong tranh vẽ biếm họa của người khôn ngoan thời cổ. Thầy cũng có tác phong riêng. Cả ba chúng tôi đang ngồi ở phòng khách của thầy nhìn loanh quanh và chờ đợi thì thấy thầy như một chú lính đồ chơi vững chãi bước ra chào đón chúng tôi.

“Khỏe không chị gái?”, ông nói. “Tôi có thể giúp được gì cho chị nào?”.

Aloo và tôi kính cẩn đứng dậy khi thấy thầy ngồi xuống.

“Chúng tôi tới để nghe lời khuyên của anh…”, mẹ bắt đầu.

“Cứ nói”, thầy như vui vẻ, ngả người ra sau, hai tay đặt sau đầu.

Mẹ bắt đầu cuộc chuyện trò bằng việc nói về tiểu sử của bà. Bà nói bà được sinh ra trong một gia đình như thế nào, đã kết hôn, đã vươn lên nuôi con sau khi chồng mất ra sao. Bà cũng nói đến các quan hệ trong dòng họ. “Giờ thì thằng này”, bà chỉ vào tôi nói, “đã vào đại học, còn thằng em nó ngồi kia muốn đi học ở Mỹ”. “Đưa cho thầy coi tài liệu đi con”, bà nói với Aloo.

Dường như là cố gắng lắm Aloo mới nhổm người lên được khỏi ghế và chậm chạp đi tới đặt tài liệu vào tay thầy Velji. Trước khi xem tài liệu, thầy Velji hỏi Aloo về kết quả của kỳ thi cuối cấp.

Nghe Aloo đáp, mắt thầy mở to ra: “Ô, toàn là điểm A hết sao?”, thầy hỏi.

“Dạ”, Aloo có chút ngoan ngoãn đáp.

Thầy Velji lúc đầu tò mò lật nhanh các trang tài liệu. Sau đó thầy lật chậm từng trang. Thầy nhìn tờ hộ chiếu dài, có bản photo được gắn gọn ghẽ vào phía sau bản chính. Thầy đọc lá thư có những lời thân mật của Ban tư vấn sinh viên nước ngoài, sau đó đọc các lá thư mời và choáng ngợp trước tình anh em trong đó. Cuối cùng, thầy ngẩng mặt lên, có chút nhũn nhặn.

“Con trai chị nói đúng”, thầy nói. “Trường đại học đó tốt và người ta đã cấp cho cậu ấy học bổng. Tôi xin chúc mừng chị”.

“Nhưng tôi phải làm gì đây?”, mẹ lo lắng hỏi. “Lời khuyên của anh là gì ạ? Anh hãy nói chúng tôi nên làm gì?”.

“Vâng”, thầy Velji nói, “Đó là điều tốt cho học vấn của con trai chị”. Thầy đưa tay vuốt cổ họng rồi từ tốn tiếp: “Nhưng nếu để cho cậu ấy đi, chị sẽ mất một đứa con”.

“Mỹ là một nơi rất xa”, thầy kết luận và phủi tay. “Nào, chị uống gì? Trà hay nước cam?”.

Vợ thầy bất ngờ xuất hiện rồi đi xuống nhà dưới pha trà theo lời dặn của chồng.

“Tất cả bọn trẻ con nhà giàu ra đi mỗi năm mà cha mẹ chúng đâu có mất chúng”, Aloo cay đắng lẩm bẩm trên đường trở về nhà. Mẹ lặng im.

Đêm đó mẹ ngồi may bằng máy may còn Aloo thì nằm đọc sách trên ghế trường kỷ. Chiếc radio được vặn nhỏ và qua khe cửa trước, gió nhẹ mang khí lạnh vào phòng khách. Tôi đang đứng ở cửa. Bên ngoài, cành lá cây chuối kêu sột soạt, một chiếc xe hơi phóng vun vút, in bóng trên tường các ngôi nhà xung quanh. Một đôi trai gái đang đi dạo, nói thì thào và bước vào một góc tối nhập nhoạng; một nhóm các cô bé cậu bé tán gẫu trước khi trở về nhà đi ngủ. Tiếng rào rào của mô-tơ điện trong máy may của mẹ nổi lên hết đợt này rồi tới đợt khác. Góc phòng mẹ ngồi may tối hơn một chút so với chỗ chúng tôi.

Giờ thì mẹ ngẩng đầu lên và nói với chút bình thản: “Con mang cuốn sách đó lại đây để ít nhất mẹ cũng biết đại học ấy trông ra làm sao”.

Mẹ chưa bao giờ lật các trang của quyển catalogue đó, luôn không để tâm đến nó và chẳng có chút tò mò nào về nơi mà Aloo sốt ruột muốn đến. Giờ 3 mẹ con chúng tôi xúm quanh các trang giấy láng bóng, dừng lại ở các bức ảnh chụp các mái vòm, các mặt tiền có phong cách tân cổ điển, các cột tháp cao chót vót và sinh viên đang vô tư vui chơi cùng các lớp học tổ chức trên các bãi cỏ dưới bóng râm mát mẻ. Tất cả trông đầy ngạc nhiên và mời gọi.

“Hấp dẫn phải không mẹ?”, Aloo thì thào, hầu như không kìm được sự hưng phấn. “Họ dạy hàng trăm chương trình ở đó”, nó nói. “Họ phóng tên lửa vào không gian, vào thế giới khác, lên cả mặt trăng”.

“Nếu tụi con bay vào mặt trăng, mẹ sẽ trở thành bà gì?”, mẹ châm chọc, đôi mắt bừng sáng khi nhìn chúng tôi.

Aloo trở lại ghế đọc sách còn mẹ thì tiếp tục may.

Một lát sau tôi nhìn mẹ thì thấy mẹ đang trầm ngâm suy tư và như lệ thường mỗi lần như thế, mẹ vô thức lấy tay gãi gãi cằm. Tôi nghĩ đến những gì đang diễn ra trong đầu mẹ, về những năm mẹ nuôi chúng tôi khôn lớn. Khi bố mất, mẹ mới 33 và mẹ đã từ chối mọi lời cầu hôn chỉ vì người ta muốn có một điều là gởi tất cả chúng tôi vào cô nhi viện. Trong những bức ảnh mẹ chụp trước khi bố mất, mẹ cười và trông đầy đặn, không béo phì, tóc bồng rất mốt, mang giày cao gót và có trang điểm. Có một bức ảnh khác chụp ở studio được treo bên cạnh ảnh của bố trong đó bố đứng ngẩng cao đầu, mẹ đứng dựa sát vào một bức màn màu đen, tay điệu đàng cầm một cuốn sách, chiếc áo váy nilông có màu xanh nhạt, các nếp gấp rũ xuống trang nhã, các đường viền được trang trí bằng sêquin. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ được như thế. Tất cả những gì tôi thấy ở mẹ là gương mặt trang nghiêm và theo thời gian ngày càng trang nghiêm hơn, với những nếp nhăn, còn tóc đã rụng nhiều hơn, thân thể trở nên gầy gò và giọng nói thì khàn đặc.

Tôi còn nhớ thuở ấu thơ, tôi và Aloo đã thay phiên nhau giành ngủ với mẹ ban đêm trên chiếc giường rộng của bà như thế nào, bà đã vỗ về tôi bằng cánh tay tròn trịa của bà, đã ôm sát tôi vào lòng cho đến khi tôi thấy khó thở ra sao. Khi ấy tôi vùng vẫy, mong bà thả ra để tôi được thở!

Mẹ nhìn tôi, tôi cũng đang nhìn bà và mẹ nói nhưng không phải nói với tôi: “Hứa với mẹ là nếu mẹ để con đi, con sẽ không kết hôn với một phụ nữ da trắng nhé”.

“Kìa mẹ, con biết con sẽ không!”, Aloo nói.

“Và hứa là không hút thuốc và uống rượu nữa nghe”.

“Con xin hứa!”. Cậu ấy nói và như muốn khóc.

Một tuần sau khi lên đường du học, Aloo gởi về một lá thư từ London, nơi cậu dừng chân để thăm một người bạn cũ cùng lớp. Thư đầy những dòng phấn khích. “Làm sao con có thể diễn tả được”, cậu viết, “Từ máy bay nhìn xuống, cánh đồng trải dài nhiều dặm, thẳng tắp, mặt đất chia ra những ô xanh gọn ghẽ, cả những ngọn núi cũng thanh tao, lịch lãm. Và London, ôi London! Thành phố như không có giới hạn với những khối phố, quảng trường, công viên, tượng đài… Có thể có thành phố nào rộng hơn không? Có bao nhiêu thứ ở Dar es Salaams của chúng ta có thể so sánh với thành phố tuyệt vời này?”.

Con chim đã tung cánh. Thầy Velji trầm ngâm ngồi gật đầu. Mẹ nhìn ra khoảng không bao la. 

(Từ Contemporary African Short Stories, Heinemann, 1992)

M.G Vassanji
Trần Ngọc Hồ Trường (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

Ý Kiến bạn đọc