Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Quyền năng biên tập

Quyền được thông tin được xem là một tiêu chuẩn nhân quyền trong xã hội hiện đại. Nhưng thông tin từ nguồn đến người nhận rất ít trường hợp là trực tuyến, trừ hình thức nói chuyện, diễn thuyết, phát biểu trong Hội nghị Hội thảo mà những người tham dự (thính giả, khán giả) được tiếp nhận trực tiếp. Còn hầu hết là gián tiếp qua người hay bộ phận, cơ quan được thông tin. Ở đây quyền được thông tin không còn đúng nghĩa. Nói cho xác đáng là sự được thông tin. Bởi nội dung thông tin bị khúc xạ qua người đưa tin. Một thông tin trung thực hay không phụ thuộc vào người đưa tin.

Người đưa tin thường được hiểu là phóng viên báo chí, báo in, báo điện tử, báo hình, báo nói (phát thanh). Còn một dạng thức người đưa tin hơi bị chìm khuất nhưng rất quan trọng, là những người biên tập, nói chung là Ban biên tập ở các báo, tạp chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình. Đây mới là nơi quyết định thông tin về mọi phương diện. Thậm chí thay đổi nội dung thông tin hoặc hủy bỏ, không đưa thông tin. Nói chung là thế.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói đến người biên tập ở các báo, tạp chí, nhà xuất bản. Chính đây là nơi quyết định, định hướng dư luận xã hội, biến nội dung ngôn luận, dư luận thành sức mạnh vật chất cụ thể. Trong xã hội hiện đại, bất cứ một phong trào xã hội nào, một cuộc cách mạng hay chính biến nào, đều phải dựa vào sức mạnh của phương tiện thông tin này.

Ngày nay ở đầu hay cuối các tờ báo, tạp chí hay sách đều ghi rõ các chức danh người chịu trách nhiệm xuất bản, người chịu trách nhiệm bản thảo và người biên tập. Bạn đọc có nhận xét về tác giả, phần chính văn, sau khi đọc nhưng có thường gắn với nhận xét về người biên tập hay không. Đây là điều rất đáng bàn vì người biên tập không chỉ tuân thủ tôn chỉ mục đích của bản báo hay nhà xuất bản mà còn góp phần nâng cao hay hạ thấp tác giả.

Chúng tôi xin cung hiến bạn đọc một số trường hợp hiện lên rất rõ trách nhiệm của người biên tập, còn bình luận như thế nào, xin tùy bạn đọc.

Thông thường nội dung xuất bản phẩm (bài báo, quyển sách) có vấn đề thì người biên tập liên đới trách nhiệm ở các dạng thức sau:

1. Do kiến văn hạn hẹp không thấy được sự bất cập của xuất bản phẩm.

2. Thấy, biết nhưng do áp lực quá sùng bái tác giả, hoặc tác giả nhất quyết không thay đổi.

3. Thấy, biết nhưng vẫn im lặng để cho tác giả “trôi vào vòng xoáy”.

Xin lần lượt cung hiến bạn đọc. Bắt đầu từ một bài báo.

Anh-minh-hoa---Quyen-nang-bien-tap---Anh-1

• Nhận định của ông Dương Trung Quốc, Đại biểu Quốc hội, Tổng thư ký Hội KHLSVN, đương kim Phó chủ tịch Hội này, được trích dẫn trên Đại biểu nhân dân, số ra ngày 13-2-2014:

“Phạm Quỳnh cùng với các tác phẩm của ông đã đóng góp một phần quan trọng trong vấn đề thống nhất đất nước, thống nhất quốc gia, là những di sản xuất sắc trong thế kỷ XX”.

Nhận định trên bộc lộ hai khả năng:

a. Ông Dương Trung Quốc mới chỉ đọc một đoạn trong bút ký “Mười ngày ở Huế” mà chưa đọc được toàn bộ tác phẩm của Phạm Quỳnh, đi đến khái quát, nhận định sai. Nếu đọc Phạm Quỳnh, nhất là ở cuốn Tiểu luận bằng tiếng Pháp thời gian 1922-1932, NXB Tri thức. H.2007, hoặc ít nhất, đọc loạt bài “Nguyên bản Phạm Quỳnh” của Năm Châu Đốc trên VN TP.HCM gần đây, trích nguyên văn các bài Chủ nghĩa dân tộc (1929), Bài nói ở Viện hàn lâm Pháp (1922), Thư ngỏ gửi ngài Bộ trưởng thuộc địa (1931), và Sứ mệnh của nước Pháp (1932), thì thấy ngược hẳn lại. Ở đây Phạm Quỳnh tự bộc lộ là “một tay phản quốc mạt hạng đáng bị muôn đời phỉ nhổ” (Đinh Nho Hoan – Xưa & Nay, số 486/2017).

b. Ông Dương Trung Quốc cố tình xuyên tạc để lật lại lịch sử, chiêu tuyết cho những nhân vật có tội với dân với nước.

Người biên tập bài báo trên cũng “đồng bệnh tương liên” với ông Dương Trung Quốc. Hoặc là do chưa đọc Phạm Quỳnh đến nơi đến chốn, không có khả năng thẩm định luận điểm của ông Dương Trung Quốc. Hoặc có đọc có biết nhưng cùng quan điểm với ông Dương Trung Quốc nên cho đăng bài báo đó.

Nhưng dù rơi vào khả năng nào thì người biên tập bài báo này cũng không làm đúng thiên chức và trách nhiệm của người biên tập.

• Các bài tạp chí:

Có rất nhiều bài thuộc nhiều chủ đề. Xin nêu lên mấy vụ việc. Nói sự việc thì quá hẹp. Mà sự kiện thì chưa tới. Xin dùng vụ việc, thể hiện qua nhiều bài trên một tạp chí hay nhiều tạp chí.

a. Vụ Lê Văn Tám

Bắt đầu từ các bài viết của GS. Phan Huy Lê trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9 và tháng 10-2009 và tiếp đó là các bài tranh luận phản bác lại của các ông Trần Trọng Tân, cố Ủy viên TW Đảng, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa TW; Trần Hữu Phước; Nguyễn Văn Thịnh, cho đến gần đây nhất là ông Cao Đức Trường, trên VN TP.HCM các số 477 và 478, tháng 11-2017… Tám năm qua, dư luận về Lê Văn Tám và bài viết của GS. Phan Huy Lê được đưa ra soi chiếu từ mọi góc độ, từng chi tiết, từng nhân vật, người đã hy sinh, người còn tại thế… chứng tỏ GS. Phan Huy Lê rất sai lầm. Ông chỉ mượn chuyện Lê Văn Tám và “lời dặn” của cố GS. Trần Huy Liệu để đưa ra luận điểm của ông là phủ nhận người anh hùng Lê Văn Tám và sự kiện đốt cháy kho xăng Thị Nghè.

Có thể nói GS. Phan Huy Lê viết bừa viết ẩu, đưa ra luận điểm tùy tiện không có cơ sở khoa học. Bài viết của Cao Đức Trường vừa rồi có thể coi như một tổng kết về sự tích Anh hùng Lê Văn Tám. Có sở cứ rõ ràng. Tám năm qua GS. Phan Huy Lê đã không tự biện hộ được cho mình chính vì ông đã vi phạm vào đạo lý khoa học. Cũng chứng tỏ GS. Phan Huy Lê mắc căn bệnh nghề nghiệp rất nặng. Văn hết đường văn. Sử đi đường sử. Xa rồi văn – sử bất phân! Nếu ông biết Hồi ký của GS. Nguyễn Đăng Mạnh tung lên mạng năm 2008, mượn lời Nguyễn Tuân hay bịa ra, vì Nguyễn Tuân đã qua đời năm 1987 và GS. Nguyễn Đăng Mạnh không có văn bản hay băng ghi âm lời Nguyễn Tuân. Mượn lời Nguyễn Tuân để chửi vung thiên địa và đã bị dư luận lên án như thế nào. Nếu biết được trong văn học đã có chuyện như thế thì GS. Phan Huy Lê sẽ phải thận trọng hơn khi nói lại “lời dặn” của cố GS. Trần Huy Liệu. Một GS đầu ngành Sử học đã lặp lại việc làm đáng buồn của một GS đầu ngành Văn học. Các GS đã trở thành tấm gương xấu, rất xấu cho Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên… noi theo khi họ xuyên tạc, phỉ báng nữ Anh hùng Liệt sĩ Võ Thị Sáu.

Qua câu chuyện này thấy rõ người biên tập các bài viết của GS. Phan Huy Lê ở tạp chí Xưa & Nay hoặc là quá tôn sùng sư phụ, bảo gì nghe nấy, hoặc là đồng thanh khí với nhau nên đã bỏ qua chức năng và trách nhiệm của người biên tập. Nếu là người biên tập có trách nhiệm thì có thể nói với sư phụ rằng, Thầy có quan điểm khác là chuyện bình thường. Nhưng Thầy nên có cứ liệu “khách quan trung thực” để bảo đảm tính khoa học của bài viết, bảo vệ uy tín học thuật của Thầy, của Tạp chí của Hội ta; em thấy… chưa ổn Thầy ạ!

Ở đây có thể cắt nghĩa về tình trạng của người biên tập, vào ba khả năng sau:

- Bị cái bóng của sư phụ trùm đè lên. Không dám nửa lời thưa gửi.

- Cũng đồng thanh khí nên được lời sư phụ thì…

- Hồi còn là sinh viên, có vấn đề gì đấy. Bị điểm kém hay thầy quở trách. Nên chữ thầy lại trả cho thầy. Dạ vâng ạ! (Thầy cứ bơi vào cái vực xoáy ấy để biết thế nào là dư luận…). Em cho đăng ngay số này Thầy ạ, trang nhất Thầy ạ! Rất giống trường hợp của GS đầu ngành Sư phạm Văn khoa mà chúng tôi sẽ nói dưới đây.

b. Vụ Truyện Kiều còn…

Vụ này diễn ra trên nhật báo, tuần báo, tạp chí, sách… rất nhiều lần trong nhiều năm qua. Những người muốn phục hồi, chiêu tuyết, tôn vinh Phạm Quỳnh khi dẫn câu Truyện Kiều còn… dù vô tình hay cố ý, đều chỉ trích có một nửa câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn. Rồi hết lời tung hô lên chín tầng xanh: Hoàn toàn chân lý (GS. Nguyễn Đình Chú. Cõi người ta. Tập 1. NXB Hồng Đức và Hội Kiều học – 2015). Là ca ngợi Tiếng Việt hay nhất, là có một phần sự thật… (GS. Phong Lê. Tạp chí thơ, số tháng 11-2015). Là những “tuyên ngôn lay động lòng người” (Phạm Ngọc Chiểu. Văn Nghệ, số 29/2016). Trong Lời Nhà xuất bản và Lời nói đầu quyển Truyện Kiều, Hội Kiều học Việt Nam biên soạn, NXB Trẻ – 2015, đều dẫn một nửa câu như thế với lời tôn vinh… hết chỗ nói.

Sự biên tập từ nhật báo đến sách trong trường hợp này chỉ rơi vào hai khả năng:

- Người biên tập không đọc hoặc đọc rất hạn chế về Phạm Quỳnh và câu dẫn trên. Câu đầy đủ là “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ”. Vấn đề mà cụ Ngô Đức Kế cho đến GS. Đặng Thai Mai sau này quan tâm chính là ở nửa sau của câu nói của Phạm Quỳnh. Không chỉ các cụ nhà Nho hay GS Tây học, mà là cả giới văn học, cả xã hội đã phê phán, lên án Phạm Quỳnh. Cho đến vừa qua ông Đinh Nho Hoan, trên Xưa & Nay, số 486, vẫn hết lời tâng bốc Phạm Quỳnh mà không đọc đến nơi đến chốn tác phẩm của Phạm Quỳnh, lại rất huênh hoang, rằng đã đọc tất cả. Khi loạt bài Nguồn gốc câu Truyện Kiều còn… đăng trên VN TP.HCM, số 473 đến 476, sự thực mới được bóc trần.

- Khả năng thường thấy là người biên tập cũng đồng thanh khí nên đăng ngay mà không cần sở cứ khoa học.

c. Vụ giá trị pháp lý của các Hiệp ước

Tác giả các bài viết trên Xưa & Nay, số 486, 487, đặc biệt là ông Nguyễn Văn Kim, để bênh vực cho GS. Phan Huy Lê, đã đưa ra luận điểm rất ngớ ngẩn là giá trị pháp lý quốc tế của các Hiệp ước 1862, 1874 và Élysée, rằng Pháp tôn trọng chủ quyền của Nhà Nguyễn. Tôn trọng nhưng phải nhượng từng phần rồi đến hết tất cả, chấp nhận nền bảo hộ của Pháp. Cái logic ở đây là Nhà Nguyễn được quyền bán nước, quyền đầu hàng. Còn Pháp không phải xâm lược mà được nhượng biếu, được nhận là người bảo hộ. Hay hớm quá. Như thế Nhà Nguyễn không có tội gì cả. Và lịch sử 80 năm chống Pháp (Trần Huy Liệu) là chuyện của đám phiến động chống lại Đức vua An Nam và Đức vua đã nhờ người Pháp dẹp loạn. Đó là quan điểm của ông Nguyễn Văn Kim. Còn người biên tập ở đây chắc chắn là đồng thanh khí. Vậy thì thông tin này có giá trị khoa học không? Có bài viết của TS. Phan Văn Hoàng trên Hồn Việt, số tháng 11 và tháng 12-2017, các bài của Cao Đức Trường trên VN TP.HCM đã bóc trần luận điểm phản khoa học phản lịch sử của ông Nguyễn Văn Kim và của tạp chí Xưa & Nay, tức là những người trực tiếp biên tập bài của ông Kim.

d. Vụ văn sư tử và văn cầy cáo

Đáng buồn là luận điểm này được in chính thức ở Kỷ yếu Hội Nhà văn Việt Nam, cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại. Tác giả đoạn Tự bạch nhận mình là Văn sư tử còn lại hầu hết Hội Nhà văn Việt Nam là văn cầy cáo. Có thể nói đó là luận điểm phản khoa học, phản nhân văn, phản đạo lý, phản lại Chân-Thiện-Mỹ. Con người dù tha hóa đến đâu thì nhà văn phải tỏ ra thương xót họ. Sao lại bỉ báng như thế, mà với cả đồng nghiệp. Rất giống Nguyễn Huy Thiệp gọi các nhà thơ Việt Nam là chập cheng dở hơi lưu manh vô học. Đứng lên đầu lên cổ đồng nghiệp mà chửi rủa độc địa thì phải là nhà văn siêu lớn siêu nhân lắm đây.

Vấn đề là những người biên tập cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại. Họ thừa sức hiểu. Hàng vạn cầy cáo mới có một sư tử. Mà Hội Nhà văn Việt Nam chỉ trên dưới nghìn hội viên. Ai sư tử ai cầy cáo đây! Sao mà ác tâm ác đức thế hỡi các vị biên tập Nhà văn Việt Nam hiện đại. Nỡ để cho một bậc sư phụ văn chương lò dò lẩm cẩm bước vào hố sâu vực thẳm. Sao không có một lời can ngăn. Dẫu là Thầy thì cũng là con người, cũng có lúc chứ. Các nhà văn – biên tập này đáo để thật đấy mà cũng táng tận thật đấy! Văn như thế đã sợ. Biên tập văn như thế thì thật…!!!

Vấn đề không chỉ có thế. Những người Việt ở nước ngoài đâu phải cùng tâm đắc với Hội Nhà văn Việt Nam. Rồi những người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam, các nhà Việt Nam học khắp năm châu bốn biển họ sẽ hiểu văn hóa Việt Nam qua Hội Nhà văn Việt Nam như thế nào? Văn cầy cáo đã đành một nhẽ. Nhưng văn sư tử có là đỉnh cao Chân-Thiện-Mỹ hay không? Nói chung, loài người sợ con sư tử nhưng vẫn nhìn thấy chỗ tử huyệt của nó: Con trùng trong lông sư tử (thành ngữ Phật học). Tài giỏi như Nguyễn Du lại rất khiêm tốn: Lời quê chắp nhặt dông dài… (Kiều).

Trong chuyện này, thương xót cho người Tự bạch bao nhiêu thì oán trách những người biên tập Nhà văn hiện đại bấy nhiêu. Trò Đỗ Tiến sĩ đã phơi Thầy ra giữa bàn dân thiên hạ. Các nhà biên tập ở Hội Nhà văn lại đặt Thầy lên lưng sư tử! Số phận các tác giả nhiều khi phụ thuộc vào các nhà biên tập chính là như thế!

Hà Nội, mùa đông 2017

Vương Bảo Viên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 482

Ý Kiến bạn đọc