Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Quyển Lịch sử Điện ảnh Việt Nam viết nhiều điều không có thực và phản khoa học

(Góp ý nhận xét về các sự việc các anh em làm phim ở các nơi kể lại cho Ban biên tập ghi vào quyển LSĐACMVN – Sơ thảo)

 

Lời giới thiệu quyển LSĐACMVN của anh Lê Duy Cần

Anh Cần viết “Cuốn LSĐA có thể khởi thảo được, là vì tuyệt đại đa số những người có mặt ở khu Đồi Cọ, ở cái nơi đón ngành điện ảnh ra đời trên chiến khu Việt Bắc hiện nay vẫn đang tiếp tục hoạt động trên mọi lĩnh vực đối với sự hình thành và lớn lên của ngành điện ảnh, các bạn ấy không chỉ là người mắt thấy, tai nghe mà là người trong cuộc… là những hạt nhân quan trọng trong đội ngũ điện ảnh ngày nay… Các bạn ấy có thể cùng một lúc vừa là đối tượng để nghiên cứu và phản ánh, vừa là nguồn cung cấp tư liệu chính xác và sống động, vừa là người xứng đáng góp phần thẩm định chất lượng cuốn sử” theo tôi biết đa phần những người này khi hòa bình lập lại mới tập hợp lại điện ảnh và chuẩn bị đi học ở Liên Xô từ 5 năm đến 7 năm về điện ảnh mới về Việt Nam.

Nhận xét: Anh Cần hoàn toàn không biết gì về lực lượng điện ảnh Nam bộ tập kết với một lực lượng nhân sự rất phong phú: Mai Lộc, Khương Mễ, Vũ Sơn, Lê Minh Hiền, Nguyễn Phỉ, Nguyễn Bích, Nguyễn Phụ Cần, Nguyễn Việt Hiền, Vũ Ba, Trương Thành Hỷ, Cao Thành Nhơn, Hạ Giêng Bình, Nguyễn Thanh Trước, Trần Kiềm, Nguyễn Xuân Quang… hơn 20 người với một số phim tư liệu nay vẫn còn lưu trữ: Trận Mộc Hóa, La Ban, Chiến dịch Trà Vinh, Cầu Kè, BCX (Binh công xưởng), đả đảo đế quốc. Một năm Filatốp, Trận Sóc Trăng, Đoàn quân xuyên tây, Chuyến liên lạc quân sự, Trường quân chính… Lực lượng này đã đóng góp tích cực công sức mình trong việc xây dựng xưởng phim Thời sự tài liệu đầu tiên năm 1956, rồi Xưởng phim Quân đội và trong chiến tranh chống Mỹ, chính lực lượng đó đã trở về Nam và thành lập Xưởng phim Giải phóng và Xưởng phim Quân Giải phóng.

Từ chỗ phủ nhận của Cục Điện ảnh dẫn đến sự phủ nhận của những người khác: Trong một tin đăng báo Điện ảnh số 6 năm 1985, tựa là “Bạn có biết?”, tác giả N.T viết như vầy: Xí nghiệp phim TS KH TƯ hiện nay nguyên là xưởng phim TS TL VN ra đời từ tháng 1-56 tiền thân của nó là những nhóm, tổ làm phim thời sự từ Đồi Cọ ở Việt Bắc trong thời kháng chiến chống Pháp.

Trong thời kháng chiến chống Pháp, Đồi Cọ chưa làm được phim, vì trang bị không có thì lấy gì mà làm phim; trong nhóm Đồi Cọ, biên tập nói nhiều về đồng chí Phan Nghiêm, nhưng lúc bấy giờ đồng chí Phan Nghiêm chưa biết gì về điện ảnh.

Đồng chí Phan Nghiêm kể lại:… với chiếc máy quay Ciné Sept đó trở thành vốn liếng đầu tiên để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho điện ảnh trên chiến khu Việt Bắc. Từ đấy bắt đầu những cố gắng, tìm tòi để quay những thước phim đầu tiên ở Việt Bắc…

1. Làm sao quay được những thước phim đầu tiên vì cái máy gọi là Ciné Sept chỉ là cái máy chụp ảnh hiệu Ciné Sept, chữ Ciné do ai đó ghép thêm cho có vẻ là điện ảnh.

2. Khuôn hình của máy Sept không phải là khuôn hình Ciné.

3. Tốc độ máy Sept không đúng 24 ảnh/ giây.

4. Máy Sept chỉ lắp được 7m phim, số phim này chỉ quay được hơn 10 giây không ai làm máy quay phim chỉ quay được hơn 10 giây lại phải lắp phim mới. 

5. Phim của máy Sept là phim 35 ly, anh Nghiêm lấy phim ở đâu?

“Mãi tới Chiến dịch Biên giới (Thu Đông – 1950), điện ảnh Việt Bắc mới xuất quân lần đầu tiên, đồng chí Phan Nghiêm được trang bị một máy chiếu Paillard Bolex 16 ly kèm theo một ống kính 50m/m của máy chụp ảnh chân dung…, lắp nối vào máy bằng một ống nhôm để quay trận Đông Khê… Phim trận Đông Khê ghi lại được những tư liệu vô cùng quý giá: Đồn Đông Khê cháy, những tên giặc từ hầm ngầm giơ tay hàng…

Nhận xét: Anh Phan Nghiêm hoàn toàn không thể làm việc này được, do đó tôi khẳng định là không có phim Trận Đông Khê.

(Trang 32)… “phim của đồng chí Phan Nghiêm quay được mang sang tráng ở Hồng Kông”.

Nhận xét: Tôi không tin là tư liệu quân sự của Việt Minh lại được phép đưa đi tráng ở nước tư bản.

Nếu là trường hợp đặc biệt thì nên có sự chứng minh cụ thể.

Nhận xét: Trong sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm đất nước ta không chỉ có Việt Bắc, nếu nhìn chung cả đất nước thì Đồi Cọ nào phải là nơi duy nhất sản sinh ra điện ảnh chống ngoại xâm.

Tôi nghĩ rằng sử là sự thật công minh, hơn nữa nhân chứng của lịch sử điện ảnh cách mạng của ta hiện nay còn sống rất nhiều.

Sở dĩ có những điều không chính xác, sai sự thật như tôi kể trên có phải do Cục Điện ảnh và Biên tập không nắm được nghề nghiệp điện ảnh và lại có sự thiên vị?

ĐIỆN ẢNH KHU 7

Anh Tô Cương kể: “Tham dự 3 trận lớn trong Chiến dịch Bến Cát, tôi quay được 19 cuốn 30m… Chúng tôi hồi hộp xuống hầm sâu để tráng; trước khi tráng thật, tôi ngắt năm đoạn ngắn tráng thử, tim tôi đập mạnh theo tiếng tích tắc đồng hồ, độ 10 phút trôi qua, lúc bật đèn lên, tôi cảm động quá không dám xem phim ngay, để một lúc lâu phán đoán… tôi từ từ kéo đoạn tráng thử lên thì chao ôi, tôi lịm đi vì sung sướng, hình ảnh rõ ràng, phim rất trong, anh em ôm nhau cười ha hả”.

“Tôi say mê tráng liên tục được 11 cuốn, hình ảnh đều đạt yêu cầu, không ngờ đến cuốn thứ 12 trong bóng tối tôi đạp phải chậu thuốc tráng hiện hình, đánh đổ hết, thế là còn 300m phải chờ về thành mua thuốc, đợi ít nhất một tháng mà chưa chắc đã có, tôi phải sang tìm anh Mai Lộc ở khu 8 nhờ giúp đỡ”…

Nhận xét: Câu chuyện anh Tô Cương vừa kể là hoàn toàn bịa đặt, chỉ thật ở việc anh đưa phim về khu 8 nhờ tráng dùm, chúng tôi đã tổ chức tráng rất chu đáo, cả việc đi ra vùng có nước ngọt để tráng cho bảo đảm chất lượng, nhưng rất tiếc là phim bị hỏng hết, hỏng vì quay bị filage, chớ không phải bị voilé (lộ sáng), tôi biết rõ vì tôi, anh An Sơn và một số đồng chí tráng phim này.

1. Phim quay bằng máy Pathé Wébo 9,5m/m chớ không phải là 16m/m, cái nhược điểm của máy là hay bị filage.

2. Khu 7 chưa tổ chức tráng được phim.

Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam (trang 20) có đoạn: “điện ảnh khu 7 có những phim: Chiến dịch Bến Cát, Trận Bùng Binh, Trận Hàng Bàng, Trận Rạch Đông, Chiến khu D, Trận Trảng Bom. Phim Trận La Ngà quay bằng máy 35 ly, dài 15m làm gì có máy và phim 35mm mà quay địa phương. Trận Bến Cát do đồng chí Tô Cương quay nhưng in tráng bị hỏng.

Nhận xét: Hoàn toàn là chuyện bịa đặt, các tên kể trên là tên các trận chiến đấu, không phải tên phim. Xin lặp lại: Trận Bến Cát không phải khâu tráng bị hỏng mà quay bị hỏng, do Filage (filage là cái tật của máy Pathé Wébo 9,5 ly khi người quay phim tự lắp phim vào chargeur).

Tổ Ciné khu 9 tráng phim trong lu: anh Lê Minh Hiền viết (ĐAMN – ĐACM, HĐAVN sản xuất năm 1970), anh Đoàn để phim nhựa và bể đựng thuốc tráng vào trong cái lu, anh hít một hơi dài đầy ngực, chui vào lu đậy nắp kín lại, công việc tiến hành bên trong nhanh chóng nhưng qua lượt hiện hình thì anh ngộp hơi, anh lấy một cái giấy đen đậy kín chậu lại, giở lắp lu chui ra ngoài hít lấy hít để. Người anh mồ hôi nhễ nhại, anh lại chui vào lu đậy nắp, tiếp tục cho đến khi phơi ánh sáng cho phim mới ra ngoài hẳn”… Tối hôm đó, trận đánh lại diễn lại trước hàng nghìn chiến sĩ mở một địa điểm gần trận địa, trong khi chiến dịch còn tiếp diễn”.

… “chiếc máy chiếu dùng bằng dầu lửa và quay tay của Hạ Giêng Bình cũng đã thí nghiệm xong”.

Nhận xét: 1. Một cái lu không thể nào đủ chỗ chứa nào là hai lọ thuốc, chậu guồng tráng và cả con người”.

2. Lấy tờ giấy đậy lên chui ra thì phim bị voilé hết.

3. Đậy nắp lu hở thì người bị nghẹt thở, phim bị lộ sáng, đậy thật kín sáng thì người chết ngủm vì tráng kéo dài đến 45 phút.

4. Không nhà quân sự nào khờ dại, tập trung ngàn chiến sĩ xem phim khi trận đánh đang còn tiếp diễn.

5. Ý nghĩ lấy đèn dầu thế đèn điện máy chiếu là quá ngô nghê.

Tôi mong rằng biên tập quyển Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam sẽ bỏ đi những cái sai, thậm chí có cái sai đến ngớ ngẩn để con cháu và sinh viên của chúng ta, nhất là các trường điện ảnh họ không cười vào chúng ta là nói ẩu làm liều.

Khương Mễ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 543

Ý Kiến bạn đọc