Ngoài nước

Quay trở lại Năm số Không

Campuchia Trong Khoảng Thời Gian Từ 1975 Đến 1979. John Pilger, Một Trong Những Người Đầu Tiên Cảnh Báo Thế Giới Về “Cánh Đồng Chết” Của Campuchia Và Hậu Quả Của Họ, Đã Mô Tả Khía Cạnh Chính Trị Của Sự Hậu Thuẫn Quốc Tế Để Xây Dựng Một Con Ngựa Thành Troy Như Thế Nào Cho Sự Trở Lại Của Khmer Đỏ Từ Năm 1993.

 

Đó là nhiệm vụ của tôi – phóng viên của The Times viết vào thời điểm giải phóng trại tử thần của Đức Quốc xã tại Belsen, “để mô tả một cái gì đó ngoài sức tưởng tượng của nhân loại”. Đó cũng là cảm giác của tôi vào mùa hè năm 1979. Trong suốt 22 năm làm nhà báo của mình, tôi đã đến hầu hết các khu vực nguy hiểm và xung đột, nhưng không có nơi nào có thể so sánh với những gì tôi thấy ở Campuchia.

Máy bay của tôi bay thấp, dọc theo sông Mê Kông ở phía tây Việt Nam. Khi đã qua Campuchia, dường như không thấy có ai, không có sự sống của con người, thậm chí không có cả động vật, như thể dân số đông đúc của châu Á đã dừng lại hết ở biên giới. Dường như không có gì được trồng, ngoại trừ rừng tự mọc, rừng ngập mặn và những hàng cỏ dại cao lớn. Ở rìa thị trấn, cỏ này mọc theo những đường thẳng, như thể được trồng, nhưng không phải, mà do nó được bón phân bởi xác người phân hủy dưới đất, hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em – những rạch cỏ mọc thẳng hàng đó đánh dấu những ngôi mộ chung trong một quốc gia nơi có tới 1/3 dân số bị giết và bị mất tích.

Chúng tôi hạ cánh xuống một bãi lộn xộn mà trước đây từng là sân bay quốc tế tại Phnom Penh. Ở bìa rừng xuất hiện một kim tự tháp gồm những chiếc ô tô rỉ sét như những vật thể trong ảo ảnh. Chồng lên nhau là những chiếc xe cứu thương, xe cứu hỏa, xe cảnh sát, tủ lạnh, máy giặt, máy phát điện, tivi, điện thoại và máy chữ. Kể từ ngày 17-4-1975, ngày bắt đầu Năm số Không, bất cứ ai sở hữu những thứ “xa xỉ phẩm” như vậy, bất kỳ ai sống ở thành phố hay thị trấn, bất kỳ ai có trình độ học vấn cơ bản hoặc có được một kỹ năng hiện đại, bất kỳ ai quan hệ hoặc làm việc cho người nước ngoài đều gặp nguy hiểm. Nhiều người sẽ chết ngay sau đó.

Năm số Không là bình minh của một thời đại cực đoan, mọi người sẽ không có gia đình, không có tình cảm, không có biểu hiện của tình yêu hay đau buồn, không thuốc men, không bệnh viện, không trường học, không học tập, không ngày lễ, không âm nhạc, chỉ làm việc và chết. “Nếu mọi người có thể xây dựng Angkor Wat”, Pol Pot nói vào năm 1977, “có nghĩa là họ có thể làm bất cứ điều gì”. Trong năm đó, anh ta đã giết nhiều người hơn bất cứ lúc nào kể từ khi nắm quyền.

Trong những giờ đầu tiên ở Phnom Penh tôi không chụp ảnh, tôi sợ thấy những điều đó. Tôi không có ý thức về sự tồn tại của con người, thậm chí là tàn dư của dân số. Chỉ thấy một vài hình dạng con người tôi thấy thoáng qua dường như là những ảo ảnh không mạch lạc, tách rời khỏi chính thành phố. Khi bắt gặp tôi, họ sẽ trốn vào nơi ẩn náu trong rạp chiếu phim hoặc trạm xăng. Chỉ khi tôi theo đuổi một vài hình dạng đó và xem chúng tìm thức ăn, tôi mới cảm nhận được chúng là những đứa trẻ con. Một đứa trẻ khoảng 10 tuổi – mặc dù nhìn nó rất khó phán đoán – đã chui vào một cái tủ nằm bên cạnh đường là nơi trú ẩn của nó. Trong một trạm xăng Esso bị bỏ hoang, một bà già và ba đứa trẻ hốc hác ngồi xổm quanh một cái chậu chứa hỗn hợp rễ và lá, sủi bọt trên ngọn lửa đốt bằng tiền giấy, những tiếng nổ lụp bụp không rõ phát ra từ hỗn hợp kinh khủng trong nồi hay tiếng nổ của tiền.

Trong những tuần sau đó, một âm thanh mãi ám ảnh trong ý thức của tôi cả ngày lẫn đêm: âm thanh mềm mại, gần như lâng lâng của những đứa trẻ đói khát, bệnh tật sắp đến gần cái chết. Trong 8 tháng kể từ ngày quân tình nguyện Việt Nam giải phóng Campuchia, chỉ có 3 chiếc máy bay cứu trợ đến từ phương Tây. Đến cuối tháng 10, tháng thứ mười giải phóng, UNICEF và Hội Chữ thập đỏ Quốc tế chỉ gửi được 100 tấn hàng cứu trợ, hoặc như họ ưa thích gọi nó là “hơn” 100 tấn. Không thấm vào đâu và trên thực tế là không có gì. Những trò chơi địa chính trị đã phỉ báng văn minh bằng cách cô lập và trừng phạt người dân Campuchia. Đây là một trò chơi sẽ tiếp tục vẫy gọi một cuộc tàn sát thứ hai ở Đông Nam Á.

Người bạn của mặt trăng

Một trong những người bạn tốt của tôi là Chay Song Heng, người đã sống ba năm rưỡi với tư cách là tù nhân của Khmer Đỏ. Heng đã phải giả vờ là một thằng ngốc để những tên giám sát không nghi ngờ anh ta là người được giáo dục mà giết anh ta. Bị giới hạn trong một công xã trồng lúa và bị cấm nói tất cả trừ việc tuân thủ, anh ta tưởng tượng mình là “một người bạn của mặt trăng”. Heng đã nghiên cứu các chu kỳ của mặt trăng để giữ ý thức về thời gian giờ, ngày, tháng và năm. Khi quân tình nguyện Việt Nam đến giải phóng cho anh ta vào ngày 25-12-1978 (chỉ 2 ngày sau khi Việt Nam phản công), Heng hỏi thời gian rồi nói “các bạn có thể tưởng tượng được không, tôi chỉ sai hai ngày”!

Nay Heng là một dịch giả và thông dịch viên tiếng Anh. Tiền lương chính phủ hàng tuần trả anh ta đủ để mua một lon Coca-Cola, vì vậy anh ta tham gia dạy các lớp học tại một trong những “phố ngôn ngữ Anh” của Phnom Penh. Heng là một người đàn ông nhỏ bé, đi lại nhanh nhẹn với những cú nảy, mặc dù bây giờ tôi đã thấy anh ấy run rẩy và đôi mắt của anh ấy phản ánh sự lo lắng cấp tính. “Trong những năm Pol Pot”, anh nói, “tôi thường trốn vào góc chứa thóc vào buổi tối. Ở đó tôi thực hành tiếng Anh của mình. Tôi tự nói với bản thân mình – Ừm, thực sự là lầm bầm, nếu như tai tôi có thể nghe được – rằng: Chào buổi tối, Heng, sáng nay bạn thế nào? À, tôi vẫn còn sống. Tôi là một tù nhân ở đất nước của mình, và tôi không bị kết án gì cả. Nhưng họ không có được bộ não, cũng như không có được linh hồn của tôi”.

Có lần tôi lái xe ở Phnom Penh với Heng. Mọi cây cầu dẫn vào thành phố đã bị Khmer Đỏ phá hủy, ngoại trừ một cây cầu hiện là động mạch của thành phố và là biểu tượng về Năm số Không. “Vào sáng ngày 17-4-1975”, Heng nói, “Khmer Đỏ đã xuống đường, đập cửa, yêu cầu chúng tôi ra ngoài. Cả thành phố bị buộc sơ tán, đẩy ra khỏi thành phố. Mẹ, cha và tôi đến cây cầu lúc 5 giờ, và chúng tôi phải mất 2 giờ để vượt qua nó với báng súng ở sau lưng. Trong đêm có một người phụ nữ sinh đôi, khi những người áp giải bảo chúng tôi đứng dậy và đi tiếp, những đứa trẻ mới sinh bị bỏ lại trên cỏ để chết ở đó. Người mẹ cũng chết sau đó không lâu, tôi được mọi người cho biết”.

Heng là một trong số ít người được giữ lại tên thật của mình. Hầu hết mọi người được Khmer Đỏ cấp cho một con số bí danh, hoặc danh tính hoàn toàn mới. Mọi người đều nhớ khoảnh khắc khi một danh sách các tên gọi được đọc bởi Khmer Đỏ. Bạn chờ đợi tên của bạn, và nghe nói nó là để chuẩn bị cho cái chết. Heng là một công chức chính phủ. Một lần, khi chúng tôi nói chuyện, anh ta cho biết vừa nghe tin 50 người đã bị Khmer Đỏ bắt trên hai chuyến tàu. Một danh sách được tổng hợp tại chỗ và các công chức chính phủ đã bị bắn chết.

Sự trở lại của Pol Pot

Liên Hợp Quốc đã đóng một vai trò quan trọng trong sự trở lại của Pol Pot. Mặc dù chính phủ Khmer Đỏ đã không còn tồn tại từ tháng 1-1979, nhưng các đại diện của nó vẫn tiếp tục chiếm ghế của Campuchia tại Liên Hợp Quốc. Quyền được như vậy của họ đã được Mỹ bảo vệ và hỗ trợ như là một phần của liên minh mới với Trung Quốc – nhà bảo lãnh chính của Pol Pot và kẻ thù từ cổ xưa của Việt Nam – cũng là một phần của cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô và trả thù Việt Nam. Năm 1981, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Carter, Zbignew Brzezinski, đã nói: “Tôi khuyến khích người Trung Quốc ủng hộ Pol Pot, chính phủ Mỹ nháy mắt công khai khi Trung Quốc gửi vũ khí cho Khmer Đỏ qua Thái Lan”.

Để che chở cho cuộc chiến bí mật chống lại Campuchia, Washington đã thành lập “Nhóm khẩn cấp Campuchia” được gọi là KEG, ở Thái Lan. Công việc của KEG là “giám sát” việc phân phối các nguồn cung cấp nhân đạo phương Tây được gửi đến các trại tị nạn, bao gồm cả Khmer Đỏ. Đến cuối những năm 1980, KEG đã trở thành “Nhóm Công tác”, cố vấn việc lên các kế hoạch chiến đấu và tình báo cho một “nhóm kháng chiến” của Campuchia, đứng đầu là Hoàng tử Norodom Sihanouk nhưng thực tế do Khmer Đỏ thống trị. Từ năm 1983, đặc nhiệm SAS của Anh đã huấn luyện lực lượng “kháng chiến” trong việc đặt mìn và chất nổ.

Khi người Việt rút khỏi Campuchia vô điều kiện vào năm 1989, áp lực vẫn tiếp tục được giữ vững. Mỹ và Trung Quốc yêu cầu chính phủ Việt Nam gây ảnh hưởng với Phnom Penh để họ phải chia sẻ quyền lực với liên minh của Khmer Đỏ. Dưới áp lực của 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, chính phủ Hun Sen đã phải ký với liên minh ma quỷ này “hiệp định hòa bình” tại Paris vào tháng 11-1991. Khmer Đỏ hiện đã trở lại hợp pháp tại Campuchia. “Lộ trình hòa bình” đã cung cấp cho Pol Pot một con ngựa thành Troy để trở lại quyền lực.

Tại khu đóng trại của Khmer Đỏ ngay phía sau cung điện hoàng gia của Hoàng tử Sihanouk ở Phnom Penh, Khmer Đỏ mang dáng dấp của những người đàn ông không thể tin vào vận may của mình. “Rất vui được gặp lại bạn”, họ tuyên bố với một đoàn báo chí đáng kính, “Vâng, vâng… mọi thứ đều ổn. Vâng, tất nhiên, chúng tôi sẽ xem xét yêu cầu của các bạn cho một cuộc phỏng vấn…”.

Điều không tưởng đang được bình thường hóa ở Campuchia

Trong một cuộc phỏng vấn với chỉ huy người Úc của Liên Hợp Quốc, Trung tướng John Sanderson, tôi đã đề cập đến “cuộc diệt chủng” mà Khmer Đỏ chịu trách nhiệm. “Diệt chủng chỉ là thuật ngữ của bạn!”, ông tướng đáp lại. Tôi nhắc anh ta rằng thực ra không phải vậy, bởi từ năm 1979 Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã mô tả tội ác của Pol Pot là “điều tồi tệ nhất đã xảy ra so với ở bất cứ nơi nào trên thế giới kể từ thời phát xít”. Hơn nữa, vào năm 1985, Báo cáo viên đặc biệt về diệt chủng của Liên Hợp Quốc đã phán quyết rằng những gì Khmer Đỏ đã làm là “diệt chủng, ngay cả với định nghĩa hạn chế nhất”. Tuy nhiên, viên Trung tướng vẫn thốt ra “nhưng nó không phù hợp, bởi tôi phải cam kết vô tư!?”.

Đối với tôi, trò chơi ngữ nghĩa này cũng khó chịu như đối với sức nóng của buổi trưa bên ngoài khu vực Khmer Đỏ ở Phnom Penh. Rõ ràng tất cả các trò chơi ngữ nghĩa, với sự mâu thuẫn về trí tuệ và đạo đức này là nhằm thúc đẩy chiến dịch làm cho Khmer Đỏ trở nên đáng kính và “hòa bình”, đó là bước chuẩn bị cho quá trình quay trở lại chính trường một cách vẻ vang của Khmer Đỏ, nó là một sự xúc phạm tục tĩu và trắng trợn đối với lương tri của con người.

Ngày nay, trong các văn phòng ngay tại nơi vốn là hiện trường các vụ án diệt chủng của mình, Khmer Đỏ lại đang được vinh danh. Trong số đó có Khieu Samphan, đại diện chính của Pol Pot trong Hội đồng Quốc gia Tối cao (SNC), mà Liên Hợp Quốc đã thiết lập như là cơ quan lâm thời của Campuchia cho đến khi bầu cử vào tháng 5. Khmer Đỏ không thể bị ruồng bỏ, và SNC sẽ không thể làm gì nếu không nhận được sự đồng ý của họ. Khieu Samphan là chủ tịch của chính quyền khủng bố Pol Pot từ năm 1976 đến 1979, và ông ta chính là người đóng góp chính về mặt tư tưởng cho “cuộc cách mạng nông dân” đã quét sạch 1/3 dân số Campuchia.

Đó chính là cái giá mà người Campuchia phải trả, vì chạy theo lập luận của “cộng đồng thế giới”. Nếu cuộc bầu cử “tự do và công bằng” này được tổ chức và chính phủ của Hun Sen chấp nhận với Liên Hợp Quốc (nói cách khác là Washington và Bắc Kinh), thì một hệ thống bỏ phiếu theo tỷ lệ quy định này chắc chắn sẽ tạo ra một chính phủ được tạo thành từ chính quyền Phnom Penh hiện tại, cùng với FUNCIPEC, từ viết tắt của đảng của Hoàng tử Rannariddh (con trai của Sihanouk) và KPNLF do Son Sann lãnh đạo. FUNCIPEC và KPNLF đã liên minh với Khmer Đỏ trong hơn 10 năm, và trong một số khía cạnh vẫn là: họ phụ thuộc vào Khmer Đỏ rất nhiều!

Các quan chức Liên Hợp Quốc đã bị ngăn không cho vào khu vực của Khmer Đỏ để đăng ký cho người dân bỏ phiếu. Những người cố vào khu vực này sẽ lập tức thấy mình phải đối mặt với họng súng B40, những người khác thì bị bắt giữ làm tù nhân. Tại trụ sở Phnom Penh của Cơ quan chuyển tiếp LHQ (UNTAC), một không khí phi thực tế gần như ám ảnh luôn bao phủ. Nhà ngoại giao Nhật Bản, Yasushi Akashi, thường xuyên kêu gọi Khmer Đỏ “kiềm chế” trong các hành động ngăn chặn Liên Hợp Quốc tiếp tục thực hiện “nhiệm vụ”. Đáp lại, Akashi lập tức bị phỉ báng bằng ngôn ngữ phân biệt chủng tộc trên đài phát thanh của Khmer Đỏ.

Rất ít người trong bộ máy quan liêu của Liên Hợp Quốc hiểu hoặc muốn hiểu, rằng những tác động của tiến trình hòa bình đã cho phép Khmer Đỏ phát triển mạnh mẽ hơn, trong khi đối thủ chính của chúng là chính phủ Hun Sen lại bị đẩy vào vị trí yếu thế hơn. Ngoài một vài người tìm cách đào thoát, không một đơn vị lính Khmer Đỏ nào hạ vũ khí để giải giáp theo yêu cầu của Liên Hợp Quốc. Ngược lại, phần lớn trong số hơn 100.000 dân quân của chính quyền Hun Sen đã bị thương. Trong khi đó nhân viên Liên Hợp Quốc bị cấm di chuyển đến gần hơn 400 mét từ căn cứ Khmer Đỏ ở Pailin. Tướng Úc Sanderson đã xác nhận rằng lực lượng Liên Hợp Quốc đã “ngăn chặn quân đội Phnom Penh tổ chức các cuộc phản công”.

Đầu tư vào sự tôn nghiêm của khái niệm “tổ chức dân chủ” ở Campuchia, bộ máy quan liêu của Liên Hợp Quốc đã khẳng định rằng các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức, bất kể mọi điều kiện như thế nào. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết của bất kỳ cuộc bầu cử nào là an ninh cho nhân dân hầu như không tồn tại ở Campuchia, quốc gia chưa bao giờ có cuộc bầu cử và vẫn còn chiến tranh. Cũng không có nỗ lực nghiêm túc nào để bắt đầu dọn sạch các bãi mìn, nên một trong những câu đùa trung thực nhất mà tôi nghe được là “mọi người sẽ bỏ phiếu bằng bàn chân của họ”. Liên Hợp Quốc tiếp tục từ chối viện trợ phát triển cho Campuchia: một phần trong số 880 triệu đô la tái thiết được cam kết tại hội nghị của Liên Hợp Quốc tại Tokyo vào tháng 6 năm ngoái đã bị trì hoãn với lý do vô căn cứ là điều này có thể giúp củng cố chính quyền Phnom Penh, trong khi họ đã mất sự hỗ trợ của khối Xô Viết.

Tại Tokyo, người Mỹ đã cam kết 60 triệu đô la, trong đó khoảng 2 triệu đô la đã được sử dụng để xây dựng một con đường chiến lược và các cơ sở qua biên giới Thái Lan vào trụ sở KPNLF tại Thmar Pouk. Điều này trái với các hiệp định Paris mà chính Hoa Kỳ tài trợ. Con đường này của Mỹ hiện được kiểm soát bởi Khmer Đỏ, lực lượng được tạo điều kiện nắm quyền điều hành các nút giao thông chiến lược.

Những điều trông thấy

Việc tái cấu trúc Campuchia đang được tiến hành. Cố vấn tài chính người Mỹ của Liên Hợp Quốc, Roger Lawrence, phụ trách Ngân hàng Trung ương Campuchia và “đại diện” cho Campuchia tại các cuộc họp của Ngân hàng Thế giới do Washington thống trị. Do đó, Campuchia đang bị tự do thao túng bởi “các chương trình điều chỉnh cơ cấu”, điều này sẽ đảm bảo rằng họ có nền kinh tế “thị trường tự do” có lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, như người Thái, người Singapore và, tất nhiên, Nhật Bản, những người đã “đầu tư” vào đất nước với sự tinh tế của những tên cướp biển rơi vào một kho báu bị chôn vùi.

Kể từ lần cuối tôi đến đây vào năm 1990, đang có những thay đổi đáng kinh ngạc: 21.000 quân và các quan chức Liên Hợp Quốc, phương tiện của họ, biệt thự của họ và những người theo hầu họ là những điều nổi bật. Đây có phải là Phnom Penh hào nhoáng đầu thập niên 1970, ngay trước khi Khmer Đỏ lên nắm quyền? Một bản ghi nhớ được phân phát cho nhân viên Liên Hợp Quốc nói: “Xin vui lòng không đỗ LandCruiser của bạn bên ngoài nhà thổ”. Nhân viên Liên Hợp Quốc có máy phát điện riêng và nước sạch, nhưng không có viện trợ phát triển, không hề có việc cung cấp nước sạch cho dân chúng, việc được cho ăn bằng cống và khiến hàng chục ngàn trẻ em tử vong vì bệnh đường ruột. Thuốc của phương Tây lúc này có sẵn, nhưng là trên “thị trường tự do”!

Có rất ít việc làm cho những người không thể phục vụ người nước ngoài. Các thanh niên bị chói mắt vì ánh đèn từ cổng các biệt thự của nhân viên Liên Hợp Quốc. Họ phải nằm chờ trên thảm tre, đau đớn với miếng giẻ ẩm ướt đắp trên mặt, chờ đến ca làm việc tiếp theo. Trong một bữa tiệc cocktail ngoại giao ở khách sạn bên bờ sông Mê Kông, một sự xa xỉ quái dị, cuộc nói chuyện vẫn như mọi khi, xoay quanh sự độc ác của nạn tham nhũng ở Phnom Penh. Không thấy có sự mỉa mai nào ở đây được ghi nhận!

Trong những năm 1980, khi Liên Hợp Quốc thực hiện một cuộc phong tỏa chống lại Campuchia, một cựu quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Anh quốc, John Pedler, đã gặp gỡ nhiều nhà hoạch định chính sách đối ngoại của thế giới, với tư cách là đại diện Ủy ban Sự thật về Campuchia của nước Anh, ông ta viết cho tôi: “Cụ thể, tôi được cấp cao nhất ở Washington thông báo rằng Tổng thống sẽ không chấp nhận chính quyền Hun Sen, chúng tôi đang xúc tiến để tạo ra một sự lộn xộn với một chính phủ không phải là Hun Sen, nhưng cũng không có Khmer Đỏ, họ sẽ tiếp tục ẩn nấp trong rừng rậm, nói cách khác, nhằm tạo ra một tình trạng có lợi cho sự bất ổn của Hà Nội”.

Đó chính là “kết quả tốt hơn” mà hệ tư tưởng của Washington đã tìm kiếm từ lâu ở Đông Nam Á. Và nếu sau các cuộc bầu cử “tự do và công bằng”, một chế độ do IMF tài trợ ủng hộ phương Tây, chống Việt Nam không thể tồn tại thì con bài Khmer Đỏ sẽ tiếp tục thực hiện sứ mệnh của nó, trong khi những người có trách nhiệm ít nhất vẫn có thể nói rằng họ đã cố gắng mang lại hòa bình nhưng lỗi chính là do chính đất nước Campuchia! Gareth Evans, Bộ trưởng Ngoại giao Úc, người vẫn tin tưởng vào kế hoạch của Liên Hợp Quốc nói: “Điều chính yếu là nhấn mạnh vào sự tích cực, để giữ cho ý đồ của chúng ta có thể thành hiện thực”!

Những gì cần thực hiện?

Một giải pháp, theo Raoul Jennar chuyên gia về Campuchia, là trao cho Liên Hợp Quốc một nhiệm vụ mới để cô lập Khmer Đỏ. Jennar tin rằng một cơ quan lâm thời mới của Campuchia, do Liên Hợp Quốc thành lập và do Sihanouk chủ trì, nên đặt ra việc cải tạo đất nước trong thời gian hai năm. Sau đó, một cuộc trưng cầu dân ý sẽ hỏi mọi người họ muốn loại chế độ nào và sau đó mới nên thành lập một hội đồng chuyển tiếp.

Quan điểm của riêng tôi là Liên Hợp Quốc, tổ chức vẫn tự nhận là để đảm bảo cho một “trật tự thế giới mới”, chỉ có độ tin cậy hạn chế, ngoài việc họ chính là phương tiện áp đặt ý chí của các cường quốc phương Tây. Tuy nhiên, nếu các chính phủ riêng lẻ nghiêm túc trong việc ngăn chặn một vụ thảm sát khác ở châu Á, như tôi tin là vẫn có một số người có lương tri như thế, họ nên gây sức ép về việc cung cấp khẩn cấp các nguồn lực để xây dựng lại cơ sở hạ tầng của Campuchia và quân đội quốc gia mới của họ.

Điều đáng xấu hổ nhất là một giải pháp hòa bình là hoàn toàn có thể, nhưng đã không được thực hiện. Lẽ ra tất cả các cường quốc phải làm ngay từ năm 1979 để đảm bảo rằng Khmer Đỏ bị loại bỏ hoàn toàn. Ngay cả bây giờ, tôi tin rằng, điều đó vẫn có thể thực hiện, chỉ cần một hành động đơn phương của chính phủ Úc để chấm dứt sự im lặng và yêu cầu những chính phủ khác ủng hộ. Nhưng khả năng là trước khi những kẻ diệt chủng được đưa ra xét xử, người Campuchia trước tiên sẽ phải chống lại họ bằng vũ lực. Nếu điều đó xảy ra, phần còn lại của chúng ta, nên một lần ủng hộ lẽ phải!

1993

John Pilger (nhà báo Úc)
Ngô Mạnh Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 558

Ý Kiến bạn đọc