Người tốt - Việc tốt

Quay phim Bác ở chiến khu Việt Bắc

Năm 1951, Đoàn cán bộ miền Nam lặn lội vượt núi trèo đèo ra Bắc gặp Bác. Trong đoàn có tôi và anh Đoàn là cán bộ điện ảnh.

Yêu thương cán bộ miền Nam vất vả, 6 tháng trời ròng rã từ Nam bộ mới ra tới nơi, Bác cho hai chúng tôi cùng ở trong Chủ tịch phủ với Bác tại chiến khu Việt Bắc. Đúng như anh Tố Hữu viết:

Nơi Bác ở: sân mây vách gió
Sáng nghe chim rừng gáy bên nhà
Đêm trăng một ngọn đèn khêu nhỏ
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

Thật là điều vui mừng cảm động ngoài mong ước của chúng tôi.

Quanh bếp lửa hồng, giữa một đêm đông giá rét, trong căn cứ chống Pháp, Bác Hồ tiếp anh em điện ảnh chúng tôi trong một cuộc liên hoan ấm cúng có nhiều tiết mục văn nghệ. Hai đồng chí cần vụ với nhiều xoong chảo giả “làm máy quay phim”, đóng vai hai anh em điện ảnh miền Nam

đi tìm Bác. Cuối cùng đã gặp được Bác. Họ mừng rỡ chuyển lời của đồng bào miền Nam kính chúc sức khỏe Bác. Bác lúc đó đang xem kịch. Bác đáp lời cảm ơn, thăm hỏi đồng bào miền Nam, hỏi thăm anh em đi đường có mệt không, có nguy hiểm vất vả không. Y như trong kịch, mà Bác là một vai mà cũng lại là cuộc sống thực.

Bac-Ho-tro-chuyen-voi-nha-quay-phim-Nguyen-The-Doan-cung-anh-em-o-chien-khu-Viet-Bac
Bác Hồ trò chuyện với nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn cùng anh em ở chiến khu Việt Bắc.
(Nguồn: www.thegioidienanh.vn)

Giữa rừng tre, “sàn mây vách gió”, Bác sống và làm việc thế nào, với chiếc máy quay và số mét phim có lúc ấy rất ít ỏi và hiếm hoi, chúng tôi đã ghi lại một số hình ảnh quý giá về Bác.

Có những lần chúng tôi xin Bác mặc chiếc áo ka-ki “đại cán” độc nhất của Bác để quay một số cảnh cần thiết, nhưng Bác bảo:

- Đấy! Bác như vậy đấy, các chú cứ thế mà quay.

Trong thực tế hình ảnh của Bác với bộ quần áo nâu bình thường đã trở thành quen thuộc, gần gũi trên phim của chúng ta. Thậm chí có lúc đi nông thôn, Bác xắn quần ống cao ống thấp, chúng ta vẫn thấy đẹp, cái đẹp hồn nhiên, giản dị của một vị Chủ tịch luôn luôn gần gũi dân.

Thấy chúng tôi năn nỉ yêu cầu mãi, lắm lúc Bác cũng thương. Đôi lần Bác đành mặc chiếc áo ka-ki ấy cho chúng tôi quay.

Mặc dù được Bác chiều như vậy, nhưng không bao giờ chúng tôi lạm dụng điều đó. Chúng tôi muốn nói về một đoạn phim quay được về Bác trong những bữa cơm. Bác cầm dĩa thức ăn dành riêng cho Bác, chia đều cho các đồng chí chung quanh, không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chỉ một cảnh đó cũng nói lên tấm lòng yêu thương của Bác. Đoạn phim này chúng tôi phải quay “chộp” mới ghi lại được. Vì đã có lần, chúng tôi đề đạt nguyện vọng tha thiết của đồng bào miền Nam mong muốn được biết về đời sống hàng ngày của Bác thì Bác bảo:

- Đời sống của Bác lúc này không quan trọng bằng đời sống của người dân.

Bữa cơm nào chúng tôi cũng thấy Bác chia đều thức ăn cho mọi người, liền nảy ra ý nghĩ phải lén quay cho được cảnh đó, ít ra cũng nói lên được tình cảm yêu thương “chia ngọt xẻ bùi” của Bác. Thế là bữa đó, chúng tôi ra ăn chậm hơn mọi người mà vẫn có phần Bác dành cho, vì lúc chia chúng tôi vắng mặt. Đó là một đĩa trứng tráng, nhà bếp đánh bồi dưỡng riêng cho Bác.

Một lần trên đường đi công tác, chúng tôi đề nghị:

- Thưa Bác, sau này có điều kiện, Bác cho phép chúng cháu được vào chỗ ở của Bác, tìm hiểu thêm để làm cả phim truyện nữa, có được không ạ?

Bác không trả lời đề nghị của chúng tôi mà nói sang chuyện khác.

Chúng tôi chỉ còn cách là dựa vào một số nhà điện ảnh quốc tế đến xin quay phim Bác. Bác nể các đồng chí nước ngoài nên bằng lòng. Thừa dịp, chúng tôi “ghé” luôn vào đấy để quay.

Trong thời gian được sống gần Bác, chúng tôi học được những bài học lớn về tinh thần vì dân vì nước, về đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về đức tính giản dị, khiêm tốn, về lối làm việc khoa học… của Bác. Bác luôn luôn nhắc nhở chúng tôi về nếp sống giản dị, ngăn nắp, trật tự. Lúc nào Bác cũng nhanh nhẹn, gọn gàng. Chúng tôi khi đi quay phim Bác cũng tập cho quen, nếu không sẽ bị lỡ. Bác còn nhắc nhở chúng tôi tập thể dục, dạy chúng tôi học võ cho người khỏe mạnh để làm việc tốt.

Thời gian hơn hai tháng được ở gần Bác, kể ra đã là quá nhiều đối với những người chưa được vinh dự gặp Bác lần nào. Riêng chúng tôi cảm thấy vẫn còn quá ngắn ngủi.

Sau đó Bác cho chúng tôi ra nước ngoài học thêm về điện ảnh. Trước hôm đi, Bác đang trồng bí. Bác nói:

- Các chú ra nước ngoài ráng học. Bác để dành bí cho mà ăn.

… Sau mấy năm đi học về, trước khi chúng tôi lên đường về Nam, Bác cho gọi đến dặn dò mọi điều. Bác bảo:

- Khi nào độc lập, Bác vào Nam, các chú dẫn các cô và các cháu đến thăm Bác. Bác nói thêm, nhưng các chú phải nói trước với chú Đ. (cần vụ của Bác) không chú ấy không cho vào đâu!

Bác cho hai chúng tôi mỗi người một tấm ảnh có chữ ký và con dấu riêng của Bác. Mỗi chúng tôi được hôn Bác một cái. Bác nói:

- Đây là đồng bào miền Nam hôn Bác. Nhớ chuyển lời Bác hỏi thăm đồng bào. Bác tuy ở xa, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến đồng bào miền Nam. Các chú đi đường phải cẩn thận, giữ bí mật và sức khỏe.

Nghe Bác dặn dò như người cha dặn đứa con trước lúc đi xa, miệng thì: “Dạ! Dạ!”, mà nước mắt chúng tôi trào ra không sao cầm được.

Một hôm anh Đoàn nói với tôi: “Bây giờ tôi mới nghĩ ra, tại sao Bác cho chúng mình ảnh mà không đề ngay là tặng chú Đoàn hay chú Hiền có sướng hơn không. Thì ra Bác sợ chúng mình xen cá nhân chủ nghĩa vào!”. Nhiều người có cái may mắn được gần Bác, được Bác chăm sóc dạy bảo. Nhưng cũng còn biết bao nhiêu người mong ước được gặp Bác, dù chỉ là một giây thôi, mà chưa được gặp.

Ôn lại những kỷ niệm không bao giờ quên được về những ngày được ở bên cạnh Bác, chúng tôi vô cùng xúc động. Điều mà chúng tôi ân hận nhất là: Những hình ảnh mà chúng tôi quay được về Bác quá ít ỏi, không nói được bao nhiêu so với tầm vóc lớn lao của Bác.

Lê Minh Hiền
(Hội Điện ảnh)
Từ sách Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 442

Ý Kiến bạn đọc