Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

QUANG DŨNG – Tình ca chiến sĩ

Quang Dũng là một trong những nhà thơ lính nổi tiếng đầu tiên. Ông là lính thực sự, một đại đội trưởng trong trung đoàn Tây tiến (khoảng 1947-1948).

Lính đang đánh giặc chắc thơ bừng bừng tính chiến đấu? Không phải lính này đâu. Ngay bài “Tây tiến” tuy vẫn hào hùng nhưng rõ ràng không phải là một tiếng thét xung phong kiểu “Chiến sĩ Việt Nam” của Văn Cao. Quang Dũng căm thù giặc như ai, nhưng ông làm thơ chủ yếu để diễn những tình cảm nhớ thương trong thời giặc giã hơn là để diễn lòng căm thù…

Quang Dũng nhớ quê và thương “em”. Em đây điển hình là những em gái tội nghiệp ông gặp dọc đường hành quân, chứ không phải người yêu. Hình ảnh người yêu trong thơ Quang Dũng khá mơ hồ. Cụ thể nhất có lẽ “em mãi là hai mươi tuổi”. Nhưng em ấy khi vào đến thơ thì đã thành “dáng thời gian qua”, đã mất hết đường nét nguyên thủy trong “mùa xanh xưa” rồi…

Nha-tho-Quang-Dung
Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988)

Quả thực thơ Quang Dũng hiền quá, thiếu giá trị động viên tinh thần chiến sĩ. Nhưng lính dù đang đánh giặc cũng đâu phải chỉ bắn và bắn, nên ngay trong khói lửa cũng cần có nghệ sĩ chú ý đến tâm tình của lính. Hùng ca giúp chiến sĩ quyết chiến, còn “tình ca” giúp ta nhớ lính vẫn là người.

Sau đây là một tuyển thơ mở đầu với “Tây tiến” đánh giặc và kết thúc với “Pha Đin” xây dựng đất nước. Ở giữa là những bài thương nhớ. Thương với nhớ đã nên biết bao nhiêu thơ hay, nhưng cõi thơ này có một giọng trầm đặc biệt khó quên…

Tây tiến

“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! / Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi (…)”. Trong kháng chiến chống Pháp, mãi về cuối Tây Bắc mới trở thành chiến trường thực sự sôi động. Nhưng hình ảnh Tây Bắc thì đã nổi tiếng từ năm 1948 nhờ bài thơ Quang Dũng. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây, súng ngửi trời / Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống…”. Lên lên xuống xuống cứ hàng ki-lô-mét cao độ, mà bồi dưỡng thiếu thốn, trách sao “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc”(1). Vật chất thiếu, nhưng tinh thần chiến đấu thừa: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Quân đánh giặc hăng hễ chợp mắt lại mơ “Hà Nội dáng kiều thơm”, nhưng đã xông pha trận mạc thì ai dám hẹn ước… “Rải rác biên cương mồ viễn xứ (…) / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nắm xương đành gửi lại nơi Tây tiến, nhưng hồn thì bay về Hà Nội chứ, về xuôi chứ, hồn ơi!

Đôi bờ

“Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mắt kia em có sầu cô quạnh / Khi chớm heo về một sớm mai / Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự / Bên này em có nhớ bên kia / Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến / Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề / Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa / Ðêm đêm sông Ðáy lạnh đôi bờ / Thoáng hiện em về trong đáy cốc / Nói cười như chuyện một đêm mơ / Xa quá rồi em người mỗi ngả / Bên này đất nước nhớ thương nhau / Em đi áo mỏng buông hờn tủi /Dòng lệ thơ ngây có dạt dào”.

Chiều bến sông vắng, rét, “giăng giăng mưa bụi”, có là chiến sĩ Tây tiến thì cũng phải nhớ em. Nhớ là thả hồn vào dĩ vãng. Nếu trong lúc hồn bay, mà người nhớ lại sẵn thuốc lá để đều đều nhả khói “xanh dòng”, thì hồn dễ tìm về đúng “lối xưa” lắm. Ðã có khói làm hướng đạo, nếu lại có thêm… cốc làm gương soi, thì sẽ tha hồ cùng em đối mắt “nói cười như chuyện một đêm mơ”! Nói mắt, vì Quang Dũng nhớ em nào, hình như bao giờ cũng trước tiên là nhớ mắt…

Mắt người Sơn Tây

“Em ở thành Sơn chạy giặc về / Tôi từ chinh chiến cũng ra đi (…)”. “Buồn viễn xứ”, “chiều lưu lạc”… Ơ, thế cái “xứ Ðoài mây trắng lắm” của “tôi” và “em” nó không ở bên trong nước Việt Nam à?! Hay là tôi và em đã chạy ra khỏi nước? Dĩ nhiên đều không phải. Chẳng qua, quê hương có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Quê hương là nước Việt Nam, quê hương cũng là cái địa phương nào đó nơi mỗi người Việt Nam đã lớn lên. Quê trong “Mắt người Sơn Tây” là quê ở trong Quê… Cũng dĩ nhiên không phải chỉ “Mắt người Sơn Tây” mới “u ẩn”. Trong đoàn quân “Tây tiến” cứu Quê, bao nhiêu “mắt trừng” chắc chắn đều có lúc trở nên u ẩn, khi nhớ những quê Hà Nội, quê Bắc Ninh, quê Nam Ðịnh, quê Hải Dương… Quang Dũng nhớ quê thành thơ, rồi bao nhiêu người khác đọc thơ nhớ xứ Ðoài của Quang Dũng mà chạnh nhớ quê mình…

Đường trăng

“(…) Ðường ấy sao khuya đằm nước mắt / Trong vời như ngọc lá tre xanh / Giếng làng còn ướt trăng trên đá / Chim ngủ xôn xao động lá cành (…) / Là những người quân qua bến làng / Hoa nhài thơm ngõ đượm quân trang / Lớp này lớp khác người sang hết / Thuyền lại nằm phơi dưới nguyệt vàng”. “Những người quân” đang “lớp này lớp khác” theo nhau xuống thuyền sang sông có lạ gì con “đường trăng”. Họ đã bao lần bước trên nó trước khi hành quân. Họ chính là những đứa con hiếu thảo của làng quê muôn thuở, ra đi vì nước vì làng… Sang sông đêm nay, có người rồi sẽ không thấy lại những đá bờ giếng “ướt trăng”, lá tre xanh trong như ngọc, thuyền nằm phơi ánh trăng vàng bao giờ nữa. Họ thôi thấy, để người khác được tiếp tục thấy.

Nhớ

“Nhà tranh hốc hác / Cuối làng chơ vơ / Ðường xa công tác / Người lính ghé nhờ / Mẹ già đầu tóc bạc phơ / Dăn deo nét khó / Người vào run sốt / Giữa trưa đòi đắp chăn / Mẹ già hối đun nước / (Nhà uống nước lã quen) / Lấy thêm chiếu đắp / Kiếm thêm mền / Mền nâu rách mướp / Cháu mồ côi – cháu gái / Mắt sáng trong đang tập đánh vần / Tuổi em mười bốn chớm mùa xuân / Muối vừng hương thơm ngậy / Cua đồng canh rau đay / Mâm cơm đến bữa / Kẻng vừa đánh / Cày cấy tập đoàn cũng ngừng tay / Chiều rồi ba-lô lại ra đi / Bâng khuâng hồn lính vấn vương gì / Nhớ mẹ già tiền cơm chẳng lấy / Nhớ em khó nghèo giữa vườn hoang dại / Nhớ bát muối vừng, nồi cơm trộn sắn / Kẻng vừa đánh lên, cày tập đoàn cũng vãn”. Lại một em gái tội nghiệp của Quang Dũng. Có cần phải “chạy”, phải “lưu lạc”, mới đáng thương đâu. Người lính ấy ba-lô không biết còn bao nhiêu gạo nhưng lòng thì lúc nào cũng đầy trắc ẩn…

Trắc ẩn

“Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau? / Ðòi phen số mệnh cũng cơ cầu (…)”. Ðọc “Trắc ẩn”, ngờ ngợ, đọc lại “Ðôi bờ”, thấy quả có đôi chỗ giống nhau: cũng “khói thuốc chiều sông”, cũng có em mắt “u ẩn” đang nhớ quê hay “thương nhớ ai”. Em hoặc “đi áo mỏng buông hờn tủi” hoặc thui thủi một mình “đi về chân núi xanh”, đều rất tội nghiệp… “Một chút linh hồn nhỏ” không biết là dân địa phương hay từ đâu lưu lạc tới xứ nào đây mà có vừa nhà thờ vừa núi… (nhà thờ ngoài Bắc phần nhiều tập trung ở một số vùng duyên hải điển hình không có núi).

Lính râu ria

“Khuya khoắt sông bờ vắng / Lửa hồng quán tản cư / Lính mấy chàng vất vả / Tìm sống một đêm thơ / Một người kêu cà-phê / Một anh gọi thuốc lá / Một người nhìn sau trước… / – Chị ơi! Ly rượu nhỏ! / Rượu nhỏ một ly thôi / Một ly cho đỏ mặt / Cho lên hương cuộc đời / – Chị ơi! Cháu ngủ đâu / Rồi anh bế con chị / Anh lim dim cúi đầu / Cô bé cười chúm chím / Mắt non nhìn như sao / Ðôi mắt nhìn như sao / Má hồng như trái mận / Mùa đang độ ngọt ngào! / Bàn tay như rễ cây / Bộ râu hơn bàn chải / Anh ôm con người ta / Anh ôm ghì nó mãi / Cô bé năm tháng trời / Tuổi anh vừa ba mươi / Vợ anh giờ này đâu? / Anh mỉm cười rười rượi / Khi anh về đã xa / Chị dọn hàng đi ngủ / Chép miệng trong hơi chăn / Chị buồn chi không rõ / Khuya khoắt sông bờ vắng / Tiếng súng rền xa xa / Lính mấy chàng phanh ngực / Hát nhẹ lên bài ca…”. Lính vào quán, có lính kêu cà-phê, lính gọi thuốc lá, lính đòi rượu, lại có lính hỏi thêm bà chủ quán (hẳn quen) một món rất lạ: “Chị ơi! Cháu…”! “Rượu nhỏ một ly thôi” đủ “lên hương cuộc đời”. Cháu nhỏ một ôm thôi, đủ lên tinh thần chưa hỡi “lính râu ria”? Giờ ôm tạm “con người ta”, muốn có ngày ôm con mình, lính phải bước qua xác giặc.

Thu

“Gió heo nổi sớm nắng thu về / Chuồn chuồn cánh mỏng lại bay đi (…)”. Nơi sông núi xa xôi nào đó, trên bãi vắng có một người ngồi trong “nắng thu”, trong “gió heo”, trong tiếng lá rì rào, ngồi trông chuồn chuồn bay “rỡn từng ngọn cỏ”, trông “cánh nhạn tung trời”, trông mây “hồng nhạt nhạt”, trông “mái (…) nắng xiêu xiêu”, mà “vời tưởng (…) quê hương”… “Bướm nhẹ cánh vàng mơ lá cải / Trời thu không rượu cúc mà say”… Trời thu dễ say, nhưng người quê được ở quê say khác, còn ở xa quê say khác. “Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm / Ngõ trúc người ơi! Tịch mịch chiều!”. Chiều tịch mịch có “tiếng sung rơi đo lặng lẽ”, chao ơi thu!

Trưa hè

“Trưa hè bỗng nhớ sông quê / Nước xa không bóng thuyền đi đôi dòng / Thóc nhà ai có phơi không? / Chói chang lửa thóc sân trông bóng người / Vại mưa in dáng mây trời / Em soi bóng có nhớ người xa em? / Bờ tre gió đánh lả mềm / Thoảng say mùi nái bên thềm ai giăng / Xa quê dầu chẳng võ vàng / Trông mây núi nhớ mây làng về trưa”. Tại sao “em soi bóng” có thể đang nhớ “người xa em”? Hẳn vì trong “vại mưa in dáng mây trời” đã từng có đôi bóng, mà nay chỉ còn lại một. Cái bóng lẻ trong vại nó nhớ cái bóng lẻ phương xa. “Trưa hè” làm người đi nhớ làng, rồi “mây núi” làm người ấy nhớ cả “mây làng”…

Những cô hàng xén

“Rặng vải ven sông Đáy / Um tùm bóng cuối xuân (…)”. “Má hồng thôn nữ / Thoảng mùi thơm quê mùa”. “Mùi thơm quê mùa” là những mùi gì? Đây: “Mái tóc em vừa vương hương bưởi / Chân nhẹ nhàng còn dính phấn hoa”. Kia: “Tóc giắt hoa nhài”. Kia nữa: “Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ”. Gánh bồ “đi từ tối đất”, thế mà “Hoa lan vào ngõ tối còn thơm”. “Những cô hàng xén” thơm bưởi thơm nhài thơm lan, nhưng thơm nhất thứ hương “cần cù nuôi mẹ nuôi em”.

Chiều núi mưa rào

“Kỳ Sơn mây kéo nặng / Hoa trẩu rụng đầy đường / Sấm đầu mùa đã động / Sao động lòng tha hương / Đồi sắn ướt sũng lá / Gà ướt cánh nép hiên / Chim xào xạc trốn biệt / Mưa giăng màn triền miên / Nằm đợi ven sông Đà / Thuyền mờ trong sóng vỗ / Mưa bao giờ cho yên / Một chặng đường mưa gió”. Gặp mưa gió, hay nhỡ độ đường, phải “nằm đợi” bên một con sông lớn dễ cảm xúc miên man lắm nhỉ. Sóng ngoài sông, nước dưới sông, sao lại như vỗ, như cuộn như dềnh lên ngay trong lòng mình! Cảnh sinh thơ. Thơ sinh thơ: Mây vần sấm động đầu non / Trời chiều bóng lẻ quê còn mãi đâu / Gà hiên trốn trận mưa rào / Người nương đâu nhỉ khỏi dào dạt tim?… Rồi lại sinh thơ: Núi mây vần sấm động / Sông sóng vỗ lay thuyền / Nằm nghe mưa rào đợi / Đời bao giờ cho yên?…

Đêm Bạch Hạc

“Có những chiếc giường lạ / Nhìn ra mảnh sân nào / Nửa đêm chợt thức giấc / Thấy ta nằm ở đâu / Như cánh chim mỏi cánh / Tạt vào rừng không quen / Không chọn cành ngủ đỗ / Nào mong gì ấm êm / Ðêm nay đêm Bạch Hạc / Ta tạt vào nhà ai / Nghe sông Lô cuộn nước / Dềnh lên suốt đêm dài / Sáng mai rồi tiễn biệt / Tóc đẹp nhường bâng khuâng / Một đêm dài để nhớ / Những người xa vô cùng / Mái nhà đêm Bạch Hạc / Có nhớ người đi không?”. Nhớ “Nằm đợi ven sông Đà / Thuyền mờ trong sóng vỗ”. Bài “Chiều núi mưa rào” không biết làm năm nào, còn bài “Đêm Bạch Hạc” này Quang Dũng sáng tác năm 1967. Đi công tác tạt vào nhà dân ở gần bờ sông, chuyện thường quá, nhưng nơi một tâm hồn, đã hai lần gợi được cảm xúc “nên thơ”.

Lần trước là “động lòng tha hương”, lần này là “nhớ” và hỏi “có nhớ”. Người nhớ “những người xa vô cùng” rồi cũng “xa vô cùng”…

Em mãi là hai mươi tuổi

“Em mãi là hai mươi tuổi / Ta mãi là mùa xanh xưa / Những cây ổi thơm ngày ấy / Và vầng hoa ngâu mưa thu / Tóc anh đã thành mây trắng / Mắt em dáng thời gian qua (…)”. Khi làm bài này Quang Dũng mới 49 tuổi, “tóc anh (…) thành mây trắng” sớm vậy sao? Ờ nhưng dù tóc chưa hóa mây, thì lòng con người ta vẫn có thể cảm thấy… xưa chứ. “Em mãi là hai mươi tuổi”, em xưa nhưng em mãi xanh, trong anh!

Pha Đin

“Như từng đợt sóng bủa lên trời / Hùng vĩ Pha Đin gì sánh được (…)”. Tây tiến đã tới đích. Một người Tây tiến đi lại con đường, lần này thong thả ngắm phong cảnh. Khen ai khéo vẽ cảnh to lại thêm vật bé cho cảnh càng thêm to: “Ngựa thồ đỉnh dốc nhỏ như kiến / Đi trong đường mây rắc bụi vàng”! Hay nhất cảnh không câm, mà vừa vang vọng tiếng xưa: “Đâu đây đứt pháo xích kêu giòn / Liệt sĩ tên còn xanh núi non / Cơn gió bóng mây qua đỉnh Việt / Mà như lau sậy có linh hồn”, lại vừa rộn ràng tiếng nay: “Ầm tiếng xe lu vách đá vọng / Mờ ảo công trường hiện dưới lau / Đôi hạt cầu đường lán lưu động / Còn bay than bếp dưới hoa đào”. Vừa cảm khái vừa phấn khích, người Tây tiến tiếp tục ngắm “gấm vóc một miền Tây”: “Pha Đin ngàn chóp nổi hồ mây”. Đọc bài thơ này của Quang Dũng, xong nên đọc lại luôn đôi bài “thơ” khác về cùng đề tài của Nguyễn Tuân (2).

(Nhận định viết vào nhiều lúc khác nhau, tập hợp thành bài với lời dẫn lần đầu năm 2011, sửa và thêm năm 2016)

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 392

____________

(1) Quang Dũng có lần kể đoàn quân Tây tiến bị thiếu lương thực trầm trọng.
(2) Tức hai bài ký “Một bài thơ đường” và “Lên Tây Bắc 1958”.

%MCEPASTEBIN%

Ý Kiến bạn đọc