Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Qua 100 năm Công luận báo

 

Trong làng báo Việt Nam dưới thời thực dân Pháp nửa đầu thế kỷ XX, tờ Công luận báo (29/8/1916 – 10/1939) đặt tại Sài Gòn có một vị trí thật đặc biệt. Khởi nguồn, báo là bản Việt ngữ của tờ tiếng Pháp L’Opinion, số đầu ra ngày 29/8/1916, khổ 60x45cm, ban đầu mỗi tuần ra hai kỳ vào thứ ba và thứ năm, từ 1918 chuyển thành nhật báo, đến số 691 (ra ngày 6/8/1927) chỉnh lý tên báo thành Công luận, trải qua nhiều khúc quanh rồi kết thúc ở số 9.021 (tháng 10/1939) sau 23 năm tồn tại…

Không kể sự thay bậc đổi ngôi của hệ thống giám đốc, chủ bút – chủ nhiệm, tổng lý – giám đốc chính trị và các ban bệ biên tập – trị sự, Công luận báo đã thu hút được đội ngũ cộng tác viên bỉnh bút đông đảo khắp trong Nam ngoài Bắc: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Cao Văn Chánh, Huỳnh Văn Chính, Nguyễn Háo Vĩnh, Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận, Tùng Lâm Lê Cương Phụng, Vân Hạc – Linh Nhãn Lê Văn Hòe, Đoàn Trung Còn, Bùi Thế Mỹ, Nguyễn Háo Đàng, Hàn Mặc Tử, Võ Liêm Sơn, Phan Khôi, Trần Quang Nghiệp, Trần Đình Khiêm, Mai Hữu Khanh, Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Thương, Nguyễn Thị Kiêm, Phương Lan… Với những đóng góp riêng cho Công luận báo và tổng thành sự nghiệp sáng tác, phê bình văn nghệ, mỗi tác giả trên đây hầu như đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu và phác vẽ thành chân dung nhà văn theo nhiều mức độ khác nhau, góp phần khôi phục, làm sáng lên bức tranh văn nghệ một thời.

Qua 23 năm xây dựng và phát triển, Công luận báo đã bao quát hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đi từ chuyện thời cổ tới đương đại, từ Bắc tới Nam, từ thành thị tới biển rộng non cao, từ trong nước tới năm châu… Báo có nhiều bài ghi chép, tường thuật các sự kiện, vụ án sôi động về Đề Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn An Ninh, Ngô Gia Tự…; từ chuyện đàn Nam Giao, tranh luận về lập hiến đến vụ đồn điền cao su Phú Riềng (Bình Phước), vụ đồng Nọc Nạn – Phong Thạnh (Bạc Liêu)…; từ chuyện thơ văn đến chuyện nước Nga, nước Đức và chiến tranh thế giới… Có thể thấy diện đề tài trên Công luận báo thực sự sâu rộng, phong phú, thể hiện tính công khai, coi trọng luật pháp, nhanh nhạy, mang màu sắc báo chí dân chủ tư sản rõ nét.

Nói riêng về lĩnh vực văn học, Công luận báo cho in đủ cả sáng tác với các thể loại thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và phê bình, dịch thuật. Ở đây chỉ xin điểm danh vài hiện tượng tác giả – tác phẩm nổi trội.

Về thơ, nhân việc sưu tập tài liệu cho công trình “Người đương thời Thơ mới bàn về Thơ mới”, chúng tôi đã tìm được trên 70 bài thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940) in trên báo Công luận trong khoảng thời gian 1932-1939. Hình thức nghệ thuật những bài thơ này khá phong phú, phần lớn làm theo thể Đường luật, một số bài theo lối thơ tự do và các thể hồi văn, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn xen lục ngôn, thủ vĩ ngâm, song thanh, hát nói, từ khúc, lục bát, song thất lục bát… Nội dung các bài thơ hướng tới các giá trị nhân văn, xướng họa với chí sĩ Phan Bội Châu và bạn bè (Quách Tấn, Tùng Ngâm, Ngọc Hồ, Trần Bình Lộc, các bạn ở Phú Mỹ – Bình Định và cả những tứ thơ Gửi cho người không quen biết, Phút mơ màng, Tương tư, Canh khuya nhớ bạn)…; mở rộng lối thơ du ký, đề vịnh thắng cảnh non sông đất nước (xứ Huế, Phan Thiết, chùa Ông Núi – Bình Định), thú chơi tao nhã và vẻ đẹp bốn mùa (Cầm, kỳ, thi, tửu; Xuân, hạ, thu, đông; Phong, hoa, tuyết, nguyệt)…; tiếp nối dòng thơ hiện thực, phản ánh tâm trạng thi nhân trước hiện tình xã hội (với các bài Đêm khuya ở nhà quê, Làm ruộng tự thuật, Than nghèo, Đau mới dậy, Đóng tuồng, Sống khổ và phấn đấu)… Việc bổ sung các bài thơ mới này sẽ góp phần xây dựng bộ toàn tập văn bản cũng như xác định chân dung Hàn Mặc Tử đầy đủ, toàn diện, chuẩn xác hơn.

Về văn xuôi, Công luận báo in kể có đến cả ngàn truyện ngắn, hàng chục bộ tiểu thuyết và nhiều ghi chép, du ký về khắp các vùng miền đất nước. Hầu như các số báo đều có in truyện ngắn và tiểu thuyết nhiều kỳ. Đơn cử văn xuôi của Trần Quang Nghiệp (1907-1983), chúng tôi xác định có tới trên 50 truyện ngắn và đặc biệt là 3 tiểu thuyết đã “ngủ dài”, chưa từng được giới sưu tập và nghiên cứu văn bản sau này nhắc đến: 1) Gái đẹp không chồng, in 49 số (1934); 2) Gái đẹp không tiền, in 50 số (1934); 3) Tình cô đào, in 80 số (1934)… Về thể tài du ký có Chùa Hương Tích của Kim Oanh Nguyễn Háo Đàng (1923), Hai ngày du ký núi Trà Lạch – Đà Lạt của Thanh Ngọc (1926), Núi Bà Đen (tục gọi núi Điện Bà), Đế Thiên du ngoạn của Toàn Chi (1927-1928), Đi ra Côn Nôn của Trần Đình Khiêm (1929), Côn Nôn ký sự của Thiết Hãn Tử (1932), Chơi xuân ở Hà Tiên của Bạch Liên (1934), Mấy ngày hội Lào: Bun Thạt Luông của Chu Hà – Lã Xuân Choát (1936), Thăm Hang Cá, đền Tuy Lai – một thắng cảnh không ngờ ở Hà Đông của Anh Hoa – Vân Hạc (1937)… Việc sưu tập, xuất bản đầy đủ các trang du ký trên Công luận báo chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho các nhà khảo cứu văn hóa – văn học, các hướng dẫn viên du lịch và những người yêu thích tìm hiểu các vùng danh lam thắng cảnh đất nước, người đọc sách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”…

Về phê bình văn học, Công luận báo bàn rộng các chủ điểm dịch thuật, giới thiệu thể loại, tác giả, tác phẩm văn học Pháp và phương Tây. Có thể xác định hoạt động phê bình thơ mới trên Công luận báo đặc biệt phong phú, điểm danh chân dung từng nhà thơ, từng tập thơ, từng vùng miền thơ cho đến các bước nhận xét, tổng kết từng thời kỳ, giai đoạn thơ ca cụ thể… Có thể nêu một vài mục bài phê bình thơ mới tiêu biểu: Một vài dật sự về nhà thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu trong lúc ở Sài Gòn của Bùi Thế Mỹ (1933), Khái niệm về thi ca của Hàn Mặc Tử (1934), Thế nào là thơ mới? của Vân Hạc Lê Văn Hòe (1936), Phê bình Tần Ngọc – Thơ mới của Phạm Huy Thông của Ngô Văn Đức (1937); Thơ mới, thơ cũ Việt Nam đều có khuyết điểm của Vương Tử, Những vận thơ hay, dở: Tìm gì? của Nguyễn Vỹ của Vân Hạc, Không nên có “luật” thơ mới của Phong Trần, Thương xác cùng ông Lam Giang tử ở báo Tân tiến của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên – một thi sĩ điên của Phong Trần (1938)… Nhìn chung, đó là những ý kiến trao đổi, luận bàn sôi nổi, thậm chí có gay gắt, quyết liệt nhưng là của người trong cuộc, người trong giới văn chương, người đương thời, trong đúng không khí, sinh quyển của phong trào Thơ mới để rồi tự dư luận, thời gian và thực tiễn sáng tác sẽ phán xét và có câu trả lời cuối cùng. Mới biết ngay từ buổi đầu Thơ mới cũng có sự phân hóa, đan xen hay – dở, cao – thấp, tốt – xấu, khen – chê chứ không hề mát mái xuôi chèo. Tinh thần dân chủ và khả năng cập nhật thông tin, tiếp nhận đồng đại các sự kiện, hiện tượng thi ca cả ở trong nước và bên ngoài (chủ yếu từ Pháp) là những ưu điểm nổi bật gắn với hoạt động phê bình Thơ mới trên Công luận báo. So sánh thì thấy, nếu Phụ nữ tân văn có công khởi động phong trào Thơ mới thì chính Công luận báo đã trợ lực, thúc đẩy hoạt động phê bình Thơ mới giai đoạn 1932-1945 lên một tầm mức cao hơn…

Thời kỳ Đổi mới, giao lưu, hội nhập và phát triển đất nước hiện nay có nhiều điểm tương đồng với giai đoạn tiếp xúc Đông – Tây hồi đầu thế kỷ XX. Đó là lý do để con người thế kỷ XXI tìm lại bài học kinh nghiệm từ một thế kỷ trước, trong đó có nhiều vấn đề đã được đặt ra một cách công khai, dân chủ chính từ diễn đàn Công luận báo…

La Nguyễn Hữu Sơn
(Viện Văn học)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 562

Ý Kiến bạn đọc