Tản văn

Phút bù giờ

Tôi như một thủ thành tài nghệ đã giữ sạch mành lưới suốt 90 phút của trận đấu.Thế mà hỡi ôi ở phút bù giờ thứ 90 + n lại bị thủng lưới, đau hơn nữa lại do chính cầu thủ của mình đá phản lưới nhà.

Năm 1980, tôi đang làm Hiệu phó Trường cấp ba Ngô Quyền, đến mùa thi được điều động làm Chủ tịch Hội đồng thi Nam Hà. Lãnh đạo nghĩ rằng tôi tuy còn trẻ nhưng đã chinh chiến qua nhiều mùa thi từ ngoài Bắc đến trong Nam nên giao phó trọng trách. Về cái vụ thi cử này chẳng ai có thể nói hay được, bởi dù cẩn thận đến mấy vẫn có thể xảy ra sự cố ngoài ý muốn. Thí sinh đến trễ, giám thị lâu ngày gặp nhau chỉ nói chuyện riêng, không tập trung coi thi, hoặc âm thầm giải bài thi trong phòng. Có năm tôi làm Chủ tịch Hội đồng thi Bổ túc văn hóa, mới thi buổi đầu tiên đã phải dừng lại vì đề thi bị lộ (hồi ấy đề thi gửi qua đường bưu điện), phải thi đợt hai mới xong. Tuy nhiên, những sự cố trên vẫn xử lý được, sự cố mà tôi kể với các bạn dưới đây mới là sai lầm không thể cứu vãn nổi.

So-505--Lop-hoc-mien-vui---Nguyen-Trong-Hop
Lớp học miền núi (1964) – khắc gỗ – Nguyễn Trọng Hợp.

Thời đó đời sống xã hội còn nghèo và thô sơ lắm. Trước khi thi 3 ngày, tôi cùng hai phó chủ tịch và thư ký hội đồng đi kiểm tra cơ sở vật chất thấy cũng ổn. Trường Nam Hà có 8 phòng học quây theo hình chữ U ứng với 8 phòng thi, phòng họp hội đồng kiêm phòng làm việc ở giữa. Hai ngày trước khi thi chúng tôi lên Sở họp và nhận đề thi, giấy thi, các hồ sơ và văn phòng phẩm về tới trường đã có 3 công an và 4 du kích túc trực canh gác. Từ đó trở đi là nội bất xuất, ngoại bất nhập, chỉ luẩn quẩn ở khu vực làm việc, bên ngoài cũng không có ai được lai vãng đến gần. Chúng tôi đã bị phong tỏa bằng trách nhiệm và lương tâm. Một ngày trước khi thi, họp hội đồng thi phổ biến nội quy, quy chế cho giám thị; đồng thời đề nghị hai giám thị đại diện lên chứng kiến đề thi còn nguyên vẹn, dấu niêm phong còn y nguyên. Tối hôm đó xong xuôi mọi việc tôi vẫn trằn trọc không sao ngủ được, cứ trăn trở bồn chồn. Bên ngoài tiếng côn trùng rả rích, lá khua xào xạc trên những vòm cây. Tôi cầu mong cho kỳ thi diễn ra xuôi chèo mát mái, nhủ thầm xong việc sẽ xả hơi bằng một chuyến đi chơi Sài Gòn. Đúng ngày thi, buổi sáng trời trong trẻo không một gợn mây, các thí sinh và giám thị tập hợp dưới cờ nghe phổ biến, thay mặt Ban lãnh đạo hội đồng tôi chúc các thí sinh làm bài tốt. Thí sinh vào phòng thi, các giám thị lên phòng hội đồng nhận đề thi. Năm đó các giám thị phải chép đề lên bảng vì chỉ có mỗi một đề (do máy phô-tô chưa phổ biến như bây giờ). Các giám thị hành lang thông báo các phòng đã chép đề xong. Tiếng trống điểm tính giờ làm bài nổi lên. Ngày thi đầu tiên sáng môn Văn chiều môn Toán trót lọt, êm ả. Ngày thi thứ hai, sáng môn Lý cũng không có chuyện gì xảy ra. Buổi trưa ăn bát cơm với cá trích kho, canh bầu mà mồ hôi cứ vã ra như tắm. Trời bỗng oi nồng rất khó chịu. Chợp mắt một chút đúng một giờ rưỡi họp hội đồng phân công coi thi buổi chiều. Buổi thi cuối cùng là môn Sử, thời gian 90 phút. Hai giờ tiếng trống vang lên bắt đầu tính giờ, như vậy ba giờ rưỡi là hết giờ thi. Tôi rảo qua các phòng thi nắm tình hình và quay về phòng hội đồng nhắc thư ký chuẩn bị làm biên bản tổng kết. Bên ngoài, trời đang sáng choang bỗng chuyển sang ửng hồng và mây đen ngờm ngợp kéo về. Gió phùn phụt thổi từng cơn làm rối tung cả vạt cỏ giữa sân trường, vặn vẹo những cành cây phượng vĩ, giận dữ bẻ một cành quẳng xuống sân. Mưa lúc đầu còn nhỏ hạt rồi bỗng đùng đùng quất té tát mù mịt giăng lưới như dốc nước từ trên trời xuống. Gió như lên cơn co giật co chân đạp mạnh vào mái tôn ầm ầm, tay vung lên trời tạo nên những cơn lốc xoáy cuồn cuộn. Tôi để ý thấy các phòng thi nhốn nháo, ánh sáng lòe nhòe hắt ra từ hai bóng đèn tròn đầu và cuối phòng. Tôi chĩa loa nhắc nhở: “Các thí sinh chú ý dù trời mưa to gió lớn nhưng hãy bình tĩnh làm bài”. Tôi lẩm nhẩm cầu khấn cho gió ngừng thổi mưa ngừng rơi để buổi thi cuối cùng êm đẹp đừng xảy ra sự cố kéo dài thời gian. Quả trời có thương hại nên chỉ một lúc sau cơn mưa giông nhỏ dần, chỉ rỉ rắc ngoài sân, gió hiu hiu, trời quang đãng trở lại. Khí hậu mát mẻ thật dễ chịu. Hết giờ làm bài ba cặp thu bài ngồi dọc hành lang thắc thỏm chờ. Giám thị phòng số 8 nộp bài đầu tiên do phòng thi cuối chỉ có 15 thí sinh. Tôi đi lại phì phèo điếu thuốc thư giãn. Tiếp theo là hai giám thị phòng số 6 vẻ mặt lo âu lúng túng đưa xấp bài. Bỗng anh Quang – người được phân công thu bài phòng số 6 hốt hoảng kêu lên:

- Anh ơi, phòng 6 có 35 thí sinh mà chỉ có 34 bài thi.

Tôi giật mình hỏi lại:

- Kiểm tra kỹ xem có em nào buổi chiều vắng mặt không?

- Không! Vẫn đủ cả 35 chữ ký mà…

Tôi lạnh cả sống lưng nhưng vẫn cố trấn tĩnh:

- Anh cứ bình tĩnh đếm lại có khi đếm lẫn hai bài thành một bài thì sao?

Tôi đến cạnh Quang cùng đếm, trời đất ơi mất một bài thật, lúc này trống ngực đánh liên hồi, không thể hình dung nổi điều đáng sợ nhất đã xảy ra. Thưa các bạn, các bạn đã từng coi thi thì biết việc mất bài thi nguy hiểm như thế nào khi đã có chữ ký nộp bài của thí sinh. Hai giám thị phòng số 6 mặt tái mét, run lẩy bẩy. Tôi hỏi cô Hà – giám thị 1:

- Cô có làm đúng quy trình không?

Cô tái mặt, lắp bắp:

- E…m … em xin lỗi…

Lúc này cậu Thiện, giám thị 2 mới tỏ tường cho tôi biết:

- Thưa anh, lúc trời mưa to, mây đen kịt chị Hà bảo em thôi cho thí sinh ký quách cho nó rồi, chúng nó chẳng dám bỏ bài không nộp đâu. Thấy chị Hà bồn chồn nóng ruột muốn về sớm em đành nghe theo!

Tôi nói giọng nghiêm khắc:

- Tôi đã dặn đi dặn lại bao nhiêu lần rồi, chỉ khi nào thí sinh nộp bài mới cho ký, sẽ có những em không làm được bài ma mãnh không chịu nộp thì giám thị phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Cô Hà vẻ mặt thẫn thờ tội nghiệp, tóc lòa xòa rũ trước vầng trán. Thiện cho biết:

- Thưa anh, nói đi thì cũng phải nói lại, chị có tâm sự với em hoàn cảnh nhà chị Hà neo đơn lắm. Chồng chị là bộ đội đang chiến đấu ở Campuchia, chị có con nhỏ mới 4 tháng tuổi nhờ bà cô trông dùm, cứ ba giờ rưỡi chiều là chị phải về cho con bú, nếu không nó khóc ngằn ngặt, bà cô không giữ nổi lại trách móc. Chị nói ở trường vì thông cảm với hoàn cảnh nên chỉ bố trí chị dạy 2 tiết đầu buổi sáng và 1 tiết đầu giờ chiều thôi…

Nghe đến đây lòng tôi như có ai xát muối, xót xa vô hạn. “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên” (Trần Đăng Khoa), là thầy giáo từng dạy học trong rừng tôi đã hòa vào niềm vui vỡ òa của đất nước, dân tộc trong ngày thống nhất, đoàn tụ. Thế nhưng, chẳng được bao lâu, giặc giã lại nổi lên. Kẻ thù phương Bắc hung hăng tràn vào nước ta, ở phía Nam kẻ thù dã man tàn sát dân lành, tiếng ai oán thấu cả đất trời. Để giữ sự yên bình người lính lại ra trận để lại người vợ trẻ, con thơ dại với bao nỗi lo toan vất vả. Biết sao đây, lỗi thì đã rõ nhưng cô thuộc gia đình chính sách, phải cân nhắc cả lý cả tình.

Tôi trách:

- Hoàn cảnh cô như vậy sao không xin nghỉ coi thi…

Cô rân rấn nước mắt:

- Khổ lắm em đã xin thầy hiệu trưởng rồi chứ nhưng mà trường em đa số là giáo viên miền Bắc, nghỉ hè họ về quê nhiều lắm nên em phải đi cho đủ chỉ tiêu Phòng Giáo dục giao (cô Hà là giáo viên cấp 2).

Tôi nhăn mặt, lại nữa. Cuộc đời có bao nhiêu sự đẩy đưa đến lỗi lầm, khách quan có, chủ quan có. Tôi giao thư ký lập biên bản cả hai giám thị đều ký vào, ai cũng nghĩ hai cặp giám thị sẽ bị cảnh cáo vì lỗi nặng này.

Kỳ thi tốt nghiệp năm 1980, Hội đồng thi Nam Hà bị nêu tên như một bài học đau xót trong buổi tổng kết Hội đồng thi toàn ngành vì sự cố mất bài thi. Riêng hai giám thị sau khi tôi trình bày hoàn cảnh cô Hà, lãnh đạo chỉ quyết định khiển trách. Trường hợp em thí sinh nữ không làm được bài đã nhằm vào kẽ hở của giám thị để tẩu tán bài cũng bắt buộc được cho điểm trung bình và được công nhận tốt nghiệp.

Sau này tôi còn làm công tác coi thi nhiều, cũng có biết bao câu chuyện vừa bi vừa hài vừa cam go vừa lãng mạn, nhưng có lẽ kỳ thi ở Nam Hà làm tôi nhớ hơn cả.

Bùi Quang Tú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 505

Ý Kiến bạn đọc