Ngoài nước

Phương tiện truyền thông phương Tây hỗ trợ khủng bố nhà nước như thế nào?

Bài Viết Mới Nhất Của 5 Học Giả Cánh Tả Thế Giới Về Bản Chất Của Truyền Thông Phương Tây.
Nguồn từ Tin tức Hòa bình: Https://peacenews.Info/node/9433/how-western-media-support-state-terror-%e2%80%93-while-millions-die)

 

Khi Noam Chomsky bắt đầu phát hiện bản chất của việc Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam Việt Nam, ông đã sớm cảnh báo về sự lệch chuẩn của truyền thông thời kỳ đó, cụ thể là phương Tây tuyên truyền rằng họ đang chiến đấu với những người Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam để bảo vệ Sài Gòn, nhưng vị giáo sư trẻ đã đúng một cách ngoạn mục: tính cho đến cuối cuộc chiến, 2/3 số bom của Mỹ – tức gấp đôi tổng số bom trong Chiến tranh thế giới thứ hai – đã được dội xuống chính miền Nam Việt Nam!

Nhà sử học quân sự hàng đầu Bernard Fall – người ban đầu vốn tin vào sứ mệnh của sự hiện diện của Mỹ ở nơi đó – đã nói vào thời điểm đó rằng: “Việt Nam, với tư cách là một thực thể văn hóa và lịch sử, đang bị đe dọa tuyệt chủng vì vùng nông thôn đó đang thực sự chết dưới sự tấn công của một cỗ máy quân sự lớn nhất tung ra trên một khu vực có kích thước hạn chế này”.

Tuy nhiên, như Chomsky lập luận, dư luận truyền thông chính thống cũng đã thấy những hành động của Hoa Kỳ tại Việt Nam “chính là một nguyên nhân cao quý cho thấy một dân tộc có thể giành chiến thắng với sự chấp nhận hy sinh nhiều hơn”. Còn ở phía bên kia, về ngôn ngữ chính trị, các nhà phê bình đã nói về sự thật đó chỉ là “một sự nhầm lẫn được chứng minh là quá tốn kém”!

Chiến tranh đã thiêu rụi mọi thứ bằng một cơn lốc tàn bạo: Việt Nam, Campuchia, Lào. Thậm chí, chính Bernard Fall đã bị giết bởi một quả mìn.

Vấn đề Đông Timor

Tương tự như vậy, khi Indonesia xâm chiếm Đông Timor vào năm 1975, Chomsky và đồng tác giả của ông, Edward S Herman, đã đưa ra được những hình ảnh ít ỏi khi họ phát hiện ra bản chất đây là một cuộc xâm lược. Ném bom, hành quyết hàng loạt và nạn đói đã cướp đi 200.000 sinh mạng, nhưng tội ác này hầu như không nhận được thông tin nào từ Hoa Kỳ.

Chúng tôi thấy rằng các bài báo về Đông Timor của báo chí Canada như The Globe and Mail đã bị giảm thiểu sau khi cuộc xâm lược diễn ra, và hầu như nó không được thay đổi khi sự tàn bạo lên đến đỉnh điểm vào năm 1978. Hai thập kỷ sau, bộ phim tài liệu của Elaine Brière “The Sell-Out of East Timor” (1996) kể về câu chuyện nhưng nó lập tức đã được mua đứt bản quyền bởi một công ty lớn ở Canada và nó lập tức bị chôn cất (không phát hành – người dịch).

Có một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi là tác phẩm của John Pilger “Death of a Nation: The Conspiracy Timor” (1994), được phát sóng tại Anh bởi ITV. Trong bộ phim này, tác giả Pilger, đạo diễn David Munro và nhà báo Christopher Wenner đã phơi bày sự đồng lõa của phương Tây trong những tội ác mà hầu hết các nhà phân tích đều phải xác nhận là diệt chủng. Pilger dẫn lời cựu sĩ quan CIA Philip Liechty ở Jakarta, nói rằng Tổng thống Suharto của Indonesia “đã được bật đèn xanh từ Hoa Kỳ để làm những gì ông ta đã làm. Hoa Kỳ cung cấp cho họ mọi thứ họ cần, từ súng trường M16 đến hỗ trợ hậu cần của quân đội. Khi sự tàn bạo bắt đầu xuất hiện trong báo cáo của CIA, cách họ xử lý chúng là che đậy chúng càng lâu càng tốt”.

So-558--Anh-minh-hoa---Phuong-tien-truyen-thong-phuong-Tay-ho-tro-khung-bo-nha-nuoc-nhu-the-nao---Anh-3

Những ví dụ khác

Cũng như các học giả nghiêm túc tham gia với Herman và Chomsky để nói lên sự thật, chúng tôi đặc biệt quan tâm những vấn đề bị bỏ qua trên truyền thông chính thức. Trong 10 năm qua, sau một loạt các nghiên cứu về bản chất truyền thông phương Tây về các vấn đề ở nhiều quốc gia, chúng tôi nhận thấy rằng kẻ thù của phương Tây luôn được mô tả khác xa với sự thật, so với các đồng minh của phương Tây như các chế độ độc tài thời Chiến tranh Lạnh ở miền Nam Việt Nam và Indonesia.

Các “tội ác” của chế độ “chống phương Tây” ở những nơi như Serbia/Nam Tư, Afghanistan, Iran và Syria thường xuyên được đăng tải thông qua các chiến dịch truyền thông để thúc đẩy sự can thiệp từ bên ngoài. Trong khi họ biện minh cho sự phẫn nộ về đạo đức nhằm vào các quốc gia như vậy, thì thông tin về Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – cùng với các đồng minh như Israel , Ai Cập và Colombia – lẽ ra phải chịu trách nhiệm về sự tàn bạo lại chỉ được đưa ra một cách mờ nhạt, hoặc chỉ mang tính chất thông báo sơ bộ!

Đảo chính “vì dân chủ”

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy Venezuela đã bị quỷ hóa trên các phương tiện truyền thông như là một “chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa” kể từ cuộc bầu cử tổng thống cực kỳ vang dội năm 1998 của Hugo Chavez.

Sau cuộc đảo chính năm 2002 ở Venezuela, tờ New York Times đã đăng tải một đoạn tin ngắn ngủi về việc Mỹ hậu thuẫn những thành phần đối lập thực sự độc tài ở Venezuela như một “biểu hiện mới mẻ của nền dân chủ”. Và báo chí chính thống cùng truyền thông xã hội đã tiếp tục ủng hộ một cuộc đảo chính chống lại người kế vị Chavez, Nicolás Maduro, vị Tổng thống đắc cử vào năm 2013, trong đó các phương tiện truyền thông cáo buộc chính phủ Maduro là “yếu kém trong quản lý kinh tế”.

Khi chính trị gia đối lập và là tổng thống tự xưng Juan Guaidó kêu gọi quân đội Venezuela lật đổ Maduro vào ngày 30-4-2019, các cơ quan truyền thông phương Tây đã miễn cưỡng sử dụng từ ngữ “toan tính đảo chính”, nhưng theo hướng ủng hộ hành động đó!

Một cuộc khảo sát của Cơ quan giám sát sự Công bằng và Chính xác của truyền thông Hoa Kỳ (FAIR) cho thấy theo nghĩa đen: không có nhà bình luận có uy tín nào của Hoa Kỳ phản đối nỗ lực đảo chính tháng 4-2019, họ còn mô tả nó như là một “cuộc nổi dậy”, “cuộc biểu tình”, hay thậm chí là một “quân đội đối lập đã trở lại thách thức chính quyền”!

Các lệnh trừng phạt mới của Mỹ/Anh đã được thông tin rộng rãi trên các phương tiện truyền thông chính thống, bất chấp việc chúng làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng. Hoa Kỳ đã chặn việc nhập khẩu thuốc chống tiểu đường insulin, máy lọc máu, thuốc trị ung thư và HIV, bao gồm cả những mặt hàng mà người Venezuela đã trả tiền. Kết quả của các lệnh trừng phạt là 40.000 người Venezuela đã chết trong khoảng thời gian từ tháng 8-2017 đến tháng

12-2018, theo một báo cáo của các nhà nghiên cứu hàng đầu tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách có trụ sở tại Washington. Báo cáo của Trung tâm này đã chỉ rõ, nếu không có lệnh trừng phạt thì “một quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn như vậy sẽ có đủ khả năng tránh được cuộc khủng hoảng kinh tế kiểu này”.

Là thành viên của phái đoàn Cựu chiến binh vì Hòa bình đến Venezuela vào tháng 3-2019, Dan Shea, cựu chiến binh Hoa Kỳ từ Portland, Oregon, đã hỏi chúng tôi: “Nếu nước Mỹ thực sự nhân đạo, thì liệu họ có áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với người dân, bỏ đói họ, tước bỏ thuốc men của họ, không cho phép họ có một cuộc sống tối thiểu? Việc họ làm đã chống lại Công ước Geneva khi ngăn chặn nguồn cung cấp y tế và thực phẩm đến cho người dân. Hoa Kỳ ngăn chặn mọi thứ mà Venezuela cần để sau đó quay lại đổ lỗi cho chính quyền Maduro vì điều đó”.

Các lệnh trừng phạt đã chính thức bị lên án tại Liên Hợp Quốc, với việc một cựu thư ký của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc mô tả chúng giống như một cuộc bao vây thời trung cổ và là một “tội ác chống lại loài người”. Nhưng thông tin này đã không được xuất hiện trong bất kỳ ấn phẩm quốc gia chính thống nào ở Hoa Kỳ hoặc Vương quốc Anh, ngoại trừ trong một báo cáo của những người đưa tin độc lập.

Chiến tranh vì lòng vị tha?

Venezuela chỉ là một ví dụ, chứ không phải là ngoại lệ cá biệt. Trở lại tháng 2-2011, khi xung đột nổ ra giữa chính phủ Libya và các phe nhóm đối lập, các phương tiện truyền thông chính thống của chúng ta đã mô tả hành động của chính phủ Libya là những tội ác bừa bãi, được ra lệnh bởi các cấp chính quyền cao nhất. Tuy nhiên, nó giấu biệt thực tế rằng các lực lượng an ninh Libya đã không hề bừa bãi nhắm vào mục tiêu người biểu tình.

Một trong hai bài báo của New York Times chỉ trích về sự can thiệp của NATO do Pháp đứng đầu ở Libya, được thể hiện trong một nghiên cứu sau đại học được đầu tư kỹ lưỡng, đã than thở về “sự điên rồ trong cuộc chiến vô tận của lòng vị tha”. Họ cũng phản đối chiến tranh, nhưng chỉ về lý do chiến thuật trong khi bỏ qua quan điểm chính là phải chỉ trích sự can thiệp ở các cấp độ lớn hơn nhiều.

Do đó, việc xuyên tạc hầu như không quan trọng đối với các phương tiện truyền thông khi họ muốn biện minh cho sự can thiệp của NATO, theo một nghiên cứu trên một tạp chí quốc tế được xếp hạng cao, họ đã phóng đại số người chết ở Libya (do chính phủ) lên ít nhất 7 lần.

Vụ giết người công khai

Tại Ai Cập, sau khi quân đội lật đổ tổng thống được bầu cử một cách dân chủ đầu tiên của đất nước này, Mohamed Morsi, vào ngày 3-7-2013, những người biểu tình đã chiếm Quảng trường Rab’a al-Adawiya ở Cairo, kêu gọi phục hồi quyền lực cho Morsi.

Vào ngày 14-8, lực lượng an ninh Ai Cập dưới quyền tướng Abdel Fatah al-Sisi – một đồng minh quan trọng của phương Tây mà sau này sẽ trở thành tổng thống vào năm 2014 sau cuộc đảo chính đó – đã giết chết 817 người trong khi giải tán cuộc biểu tình ở Rab’a al-Adawiya.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền gọi đó là “một trong những vụ giết người biểu tình lớn nhất thế giới trong một ngày, trong lịch sử gần đây” – nhưng nó chỉ dẫn đến những lời quở trách nhẹ trên các phương tiện truyền thông phương Tây và trong cộng đồng các nhà ngoại giao.

Al-Sisi, sau tất cả, được coi là một nhà lãnh đạo ổn định hơn, trong số các nhân vật chính trị thời kỳ hậu cựu Tổng thống Hosni Mubarak. Cho đến ngày nay, Thời báo New York đã từ chối dán nhãn al-Sisi là một “nhà độc tài” – mặc dù từ bây giờ ông ta sẽ cai trị Ai Cập cho đến tận năm 2034 – thay vào đó, họ ca ngợi ông ta là một “chiến sỹ chống lại các phiến quân Hồi giáo”.

Phương Tây không hề đối lập với những người theo trào lưu Hồi giáo cực đoan. Một đồng minh quan trọng khác của phương Tây là Ả Rập Saudi, hiện mới chỉ bắt đầu chiến tranh của mình tấn công vào nhân quyền của mọi người. Cuộc chiến của Saudi với người dân Yemen đã trở thành cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ nhất thế giới.

Trong khi đó, chính tình báo Hoa Kỳ đã kết luận rằng nhà độc tài Ả Rập Saudi đã ra lệnh giết Jamal Khashoggi. Việc giết hại man rợ nhà báo này của Washington Post đã được báo cáo và lên án rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Nhưng tin tức về cuộc chiến ở Yemen đã bị làm sai lạc một cách tồi tệ, sau những năm đầu của cuộc xung đột, bởi vậy Saudi không thể bị trừng phạt!

Một sự hợp lý hóa đáng kinh ngạc mà không thể bình luận gì thêm, là thư ký ngoại giao của Anh Jeremy Hunt gần đây đã nói trên tạp chí Politico rằng “bằng cách trở thành đại lý vũ khí lớn thứ hai cho Ả Rập Saudi, Vương quốc Anh đang thực hiện việc ngăn chặn bạo lực”. Đó là một sự thật trơ tráo, sau 4 năm bạo lực và đếm xác người trong cuộc chiến ủy nhiệm cho Saudi.

Chiến tranh là hòa bình? Một sự mỉa mai…

Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét cái gọi là bê bối “Russiagate”, một tuyên truyền ngụy trá bậc thầy, được các đảng Dân chủ Hoa Kỳ triển khai từ lâu, rằng Tổng thống Nga Vladimir Putin đã bí mật kiểm soát Tổng thống Mỹ Donald Trump bằng cách đe dọa tiết lộ bí mật của ông ta – và rằng người Nga đã can thiệp vào các thùng phiếu và phương tiện truyền thông xã hội để thao túng chính sách đối ngoại của Mỹ, bằng cách tác động để thay đổi kết quả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Báo cáo Mueller (nhân vật được sử dụng làm con tốt thí nhằm tấn công cá nhân Trump) được chờ đợi từ lâu về các thỏa thuận bị cáo buộc này đã làm suy yếu đáng kể lý thuyết âm mưu về mối quan hệ Trump – Nga. Trong khi đó, mặc dù có những ảnh hưởng rõ rệt hơn từ các tập đoàn lớn và chính phủ Israel đối với Trump, cũng như ảnh hưởng to lớn của chính nước Mỹ đối với nền dân chủ của các quốc gia khác, lại bị cố ý làm cho mờ đi!

Tường thuật về “Russiagate” cũng sụp đổ khi chúng tôi kiểm tra sâu các dữ liệu chính trị. Theo cáo buộc của Facebook thì một Cơ quan nghiên cứu Internet của Nga đã chi khoảng 100.000 đô la cho quảng cáo trên Facebook trong chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016. Nhưng họ lờ đi việc trong chiến dịch quảng bá bầu cử này thì Hillary Clinton và Donald Trump đã chi tới 81 triệu đô la cho quảng cáo trên Facebook.

Hơn nữa, không giống như Putin, các nhóm phụ trách chiến dịch vận động của Trump và Clinton đã làm việc với các đại gia truyền thông xã hội để tăng cường hiệu suất trực tuyến của họ. Facebook thậm chí đã cử nhân viên hỗ trợ chiến dịch của Trump khi nhận được hàng chục triệu đô la cho vấn đề này.

Như các học giả truyền thông Daniel Kreiss và Shannon McGregor bình luận: “Vai trò của Facebook trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 đã diễn ra dưới sự giám sát đặc biệt. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một khía cạnh khác ít được thảo luận, rằng ảnh hưởng chính trị của Facebook có kết quả như thế nào đến kết quả bầu cử. Việc thường xuyên sử dụng Facebook trong chiến dịch bầu cử của Trump và những người khác – một phần chính của 1,1 tỷ đô la quảng cáo là số tiền phải trả trong chiến dịch này – đã có phạm vi tiếp cận lớn hơn nhiều so với số tiền 100.000 đô la cáo buộc cho “các trang web tin tức giả của Nga”. Khoản tiền 1,1 tỷ đô la này bao gồm chi tiêu của các chính trị gia và các nhóm bên ngoài các tổ chức vận động chính thức của Trump và Clinton, ngoài khoản 81 triệu đô la nêu trên.

“Russiagate” đã kích động một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Hơn nữa, nỗi ám ảnh của giới truyền thông về Nga đã chuyển sự chú ý của giới truyền thông khỏi các vấn đề khác của chính quyền Trump, quan trọng không kém, ví dụ như hành động của Trump về các vấn đề biến đổi khí hậu, quyền phá thai và cứu trợ doanh nghiệp.

Không phải tất cả các giá trị tin tức đều được các lực lượng tiến bộ nhận thức đầy đủ. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên hoặc nhất thiết phải như vậy bởi đó chính là tự do tư tưởng và khả năng nhận thức, nên mới luôn cần sự đồng thuận hình thành xung quanh các ý tưởng nhất định. Vấn đề ở đây là quyền lực thứ tư luôn liên quan một cách đáng kinh ngạc và luôn thể hiện quan điểm đồng thuận một cách rõ ràng với lợi ích của riêng giới cầm quyền tư sản.

Khi các phong trào quần chúng toàn cầu phản ứng với những thất bại trong chính sách đối ngoại trong thời đại sai lầm này, các tổ chức truyền thông lớn vẫn thường xuyên chỉ ủng hộ các câu chuyện được đưa ra bởi bộ máy tham nhũng nhà nước của họ.

Cách đánh lạc hướng của truyền thông

Có thể nói họ đã làm điều đó một cách ngoạn mục nhất đối với Iraq về cái gọi là “vũ khí hủy diệt hàng loạt” của họ. Các nghiên cứu về thông tin trên phương tiện truyền thông của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh về Chiến tranh Iraq cho thấy các bài báo chỉ tập trung phản ánh quan điểm của giới tinh hoa chính trị và quân sự hùng mạnh. Hầu như không có thông tin nào trên các phương tiện truyền thông cho thấy sự chiếm đóng Iraq đã cấu thành sự xâm lược, một tội phạm quốc tế cao nhất theo luật pháp quốc tế.

Các nghiên cứu độc lập cho thấy rằng, ít nhất thì các phương tiện truyền thông phương Tây trong cuộc xâm lược Iraq năm 2003 bằng các thông tin một chiều sai lạc đã góp phần gây ra số lượng người chết lên tới 6 con số – đó mới chỉ là ước tính bảo thủ nhất. Hơn nữa, họ lại giấu biệt con số đó về thiệt hại nhân mạng của dân thường.

Người ta có thể hỏi những cây bút và ống kính vĩ đại của phương Tây ở đâu trong thập kỷ trước, khi các lệnh trừng phạt dẫn đến một thảm họa trong những cái chết của trẻ em – những con số chính thức vẫn còn được tranh luận nhưng rõ ràng là chúng có thể so sánh với số nạn nhân của các chế độ độc tài diệt chủng trên thế giới.

Tương tự như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng cuộc chiến ở Syria đã được báo cáo rất phiến diện, phản ánh bản chất bưng bít sự thật của truyền thông, cũng giống như trong Chiến tranh Iraq. Theo phóng viên kỳ cựu Patrick Cockburn thì trong cuộc chiến này “các tổ chức truyền thông phương Tây gần như hoàn toàn thuê người ngoài để lấy tin, đa phần những kẻ được thuê lại là thành viên của phe nổi loạn”. Kết quả là, cũng theo Cockburn: “Tin tức bịa đặt và báo cáo một chiều đã đưa các chương trình tin tức đến một mức độ tồi tệ không thể chấp nhận được kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất”.

Nói dối ở Syria

Thêm một ví dụ nữa: Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (OPCW) đã được giao nhiệm vụ điều tra các vụ tấn công hóa học bị cáo buộc trong cuộc xung đột Syria thông qua Văn phòng Nhiệm vụ Tìm kiếm Sự thật (FFM). Năm 2019, những người ẩn danh trong OPCW đã rò rỉ thông tin bên trong về quy trình thu thập thực tế của FFM, cũng như đánh giá kỹ thuật thông tin mà OPCW triển khai. “Nhóm công tác về Syria, Tuyên truyền và Truyền thông” (WGSPM) có trụ sở tại Vương quốc Anh, cùng với các nhóm khác do WGSPM lập ra, đã cung cấp các thông tin chỉ ra rằng một số báo cáo của OPCW đã bị thư ký kỹ thuật đứng đầu FFM thao túng.

Một báo cáo của WGSPM cho thấy rằng ban thư ký kỹ thuật FFM đã được lập ra bởi một liên minh của các đảng nhà nước do Pháp, Anh và Hoa Kỳ lãnh đạo. Nó cũng cho thấy rằng một số báo cáo của OPCW đã loại trừ hoặc bỏ qua bằng chứng cho thấy một số vụ được cho là “tấn công hóa học của chính phủ” ở Syria là những cuộc tấn công giả mạo được dựng lên nhằm quy tội cho Tổng thống Syria Assad. Những tiết lộ này cho thấy các lực lượng đối lập Syria đã tạo ra sự tàn bạo để mở đường cho sự can thiệp quân sự “nhân đạo” của phương Tây. Trên thực tế, một trong những vụ tấn công hóa học được đổ trách nhiệm cho chính quyền Assad là vụ tấn công vào tháng 4-2018 ở Douma đã tạo cớ cho một loạt các cuộc tấn công của Pháp, Mỹ và Anh vào lực lượng chống khủng bố của chính phủ Syria.

Câu chuyện về vụ rò rỉ thông tin của OPCW này đã bùng nổ trên các phương tiện truyền thông độc lập nhưng phần lớn vẫn bị giới hạn trong các bản tin chính của Peter H. Cook của trang tin Daily Mail và Robert Fisk trong tờ Độc lập (câu chuyện đó cũng đã được France24/lAFP và Fox News đưa tin lại).

Dối trá, không phải sự thật

Đây là một vấn đề ở cả chế độ chuyên chế và dân chủ, và ở cả phương Đông cũng như phương Tây. Đó là một tình huống phù hợp với các dự đoán được đưa ra bởi nghiên cứu “Mô hình Tuyên truyền” của Herman và Chomsky liên quan đến các loại hình hoạt động truyền thông.

Hàng triệu người đã chết. Đây là những cái chết gây ra bởi các cá nhân và tổ chức hùng mạnh ở phương Tây thông qua những hậu quả có thể dự đoán được của chiến tranh kinh tế và quân sự. Những cái chết đó có thể tránh được. Nhưng không có công ty truyền thông chính thống nào đả động đến những vệt máu dài còn sót lại sau một số ngành công nghiệp cồng kềnh hoạt động từ bờ biển của chúng ta ra thế giới – đặc biệt là thuốc lá, khai thác mỏ và vũ khí. Họ cũng hoàn toàn bỏ qua hiệu ứng tiêu cực của việc quân đội các nước phương Tây gây ra ô nhiễm và nóng lên toàn cầu, điều mà chỉ địa ngục có thể sẽ được tiếp tục tiến hành bất cứ lúc nào ở Iran, thậm chí cả đối với Trung Quốc và Nga.

Các phương tiện truyền thông là đồng lõa trong mọi tội ác, nó vẫn đang diễn ra mọi lúc mọi nơi. Trong thực tế, nó chỉ làm nhiệm vụ được nhà nước ngầm của tài phiệt giao cho.

Bài viết này đã bị kiểm duyệt như thế nào?

Chúng tôi đã dự định từ mùa xuân năm 2019 để viết một bài viết “ngắn và rất dễ đọc” để có thể đăng trên báo chí chính thống, trong đó phê phán cách đối xử của giới truyền thông về chính sách đối ngoại của phương Tây. Nhưng như chúng tôi đã lường trước, những nỗ lực của chúng tôi đã bị bỏ qua.

Tuy nhiên, như số phận sắp đặt, một ấn phẩm có danh tiếng vẫn tự hào là báo chí tự do hàng đầu đã tỏ ra hào hứng với dự định này. Không chỉ vậy, họ đã làm việc chặt chẽ với chúng tôi trong vài tuần để tạo ra một phiên bản của tác phẩm mà tất cả chúng tôi nghĩ là sẽ được thực hiện tốt. Biên tập viên của nó thậm chí còn đề nghị một tiêu đề hoàn toàn độc đáo: “Cách truyền thông phương Tây khuếch đại và hợp lý hóa chiến tranh và bạo lực do nhà nước phê chuẩn – trong khi hàng triệu người chết”.

Bài báo dự kiến sẽ được xuất bản vào sáng thứ năm đầu tiên của tháng 4, nhưng biên tập viên trưởng đã can thiệp như một bước kiểm tra cuối cùng. Một giờ sau, chúng tôi được biên tập viên thứ nhất gọi điện thoại để nói rằng đã có vấn đề và việc xuất bản sẽ chậm trễ. Câu “Trong khi hàng triệu người chết” đã bị xóa khỏi tiêu đề. Tất cả các thông tin tham chiếu đến sự can thiệp của phương Tây vào Đông Timor, Việt Nam, Indonesia và Venezuela đã bị xóa. Các tài liệu tham khảo của chúng tôi sử dụng nghiên cứu của Ed Herman, Noam Chomsky, thậm chí cả thông tin chức danh của chúng tôi là các học giả nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông về cũng đã bị xóa.

Biên tập viên chính đã bối rối trước những lời chỉ trích của chúng tôi về tờ New York Times, cho rằng việc họ sử dụng những lời chỉ trích vặn vẹo nhằm vào “những tội ác của chính phủ Assad” nên mới buộc NATO phải can thiệp vào Syria (trong đó họ dùng khái niệm “cuộc chiến vô tận của cuộc chiến vị tha” là điều tốt “theo các giá trị và điều khoản của chúng tôi. Đó là một lời chỉ trích tốt, đúng đắn đối với nhà độc tài Syria Assad”. Nhóm chúng tôi đã trả lời: “Vậy chúng ta trừng phạt anh ta cũng chỉ vì anh ta đã theo đuổi “cuộc chiến vô tận của lòng vị tha” hay sao?”.

Đoạn văn của chúng tôi về các vụ đánh bom Libya của NATO đã được biên tập viên ghi chú thêm rằng: “cần bổ sung ở đây nội dung về bản chất của chế độ Gaddafi. Không thể bỏ qua sự tàn bạo của nó”. Đáp lại, chúng tôi nói rõ rằng chính các nguồn tin chính thức đã chỉ ra rằng chính phe của chúng ta và lực lượng phiến quân của chúng ta ở Libya, chứ hoàn toàn không phải là chính phủ Gaddafi, mới là những kẻ đã tiến hành các hành vi vi phạm nhân quyền và thanh lọc sắc tộc – chống lại người châu Phi da đen. Rằng tác phẩm của chúng tôi đã được liên kết rộng rãi đến các nguồn đáng tin cậy và kỹ lưỡng nhất hiện có, bao gồm các bài báo tạp chí gốc được đánh giá cao. Chúng tôi cũng trả lời mọi truy vấn được nêu ra và duy trì liên lạc hàng tuần với ban lãnh đạo ấn phẩm này trong hơn một tháng, và kết quả cuối cùng chúng tôi được thông báo là: Các ông nên mang nó đi nơi khác!

Noam Chomsky đã viết cho chúng tôi khi các sự kiện này diễn ra:

“Đó là cả một câu chuyện đấy. Trong khi những nghiên cứu này của các anh về tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ đang gây tranh cãi, tôi nghĩ ngay cả báo chí chính thống cũng nên công nhận chúng, có thể nhìn nhận chúng là lịch sử của những sai lầm chẳng hạn. Thực sự tôi sốc và bất ngờ về quyết định này của ban lãnh đạo ấn phẩm. Nhưng với kinh nghiệm về xuất bản của mình, tôi nhận thấy rằng thật không may, đó lại là chuẩn mực của truyền thông ngày nay”.

Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 558

Các tác giả:
Tiến sĩ Matthew Alford, giảng viên Nghiên cứu Hoa Kỳ & Quan hệ Quốc tế tại Đại học Bath, Vương quốc Anh.
Giáo sư Daniel Broudy, giảng viên Ngôn ngữ học ứng dụng tại Đại học Okinawa Christian, Nhật Bản.
Tiến sĩ Jeffery Klaehn là một học giả độc lập ở Canada.
Tiến sĩ Alan MacLeod, một nhà báo người Anh đấu tranh cho công bằng và chính trực trong truyền thông.
Tiến sĩ Florian Zollmann, giảng viên báo chí tại Đại học Newcastle, Vương quốc Anh.

Ý Kiến bạn đọc